Chặng đường này vốn dĩ rất rôm rả, tiếng cười nói không ngớt.
Đán Huyền là người không thích nói chuyện, cộng thêm trong lòng vốn đang mang nặng tâm sự, nên dọc đường đi, ông cứ cúi gằm mặt, lặng lẽ lần tràng hạt trong tay áo.
Thế nhưng, mấy nhân viên nghiên cứu khoa học như Dương Ngũ Mao lại vô cùng phấn khích, cứ ngỡ mình đang đi nghỉ dưỡng.
Dương Ngũ Mao này là một gã mọt sách chính hiệu. Nghe nói hắn vốn rất hứng thú với khảo cổ và am hiểu lịch sử, chỉ tiếc là chuyên ngành hắn học chủ yếu làm việc trong phòng thí nghiệm nên chẳng có đất dụng võ.
Những năm trước, giáo sư Liêu quản lý rất nghiêm, hắn luôn bị giáo sư Liêu nhốt trong viện nghiên cứu, chẳng có mấy cơ hội ra ngoài.
Lần này được ra ngoài, hắn như chú chim nhỏ được sổ lồng, dọc đường cứ líu lo chỉ trỏ cảnh sắc biên ải bên đường, kể cho đồng nghiệp nghe những câu chuyện về Tây Vực và con đường tơ lụa ngày trước, miệng không ngừng ngâm nga vài câu thơ cổ cho hợp cảnh để khoe khoang tài hoa của mình.
Gã hướng dẫn viên tên Tiểu Mễ cũng là kẻ lắm lời, dọc đường không ngớt miệng, cứ cãi vã đùa giỡn với Béo Uy, không ngừng tranh luận rằng mình là hậu duệ của người Túc Đặc, dù Béo Uy chưa bao giờ thừa nhận điều đó.
Sau khi tiến vào Qua Châu, sắc trời bỗng chốc tối sầm lại. Hôm nay trời hơi âm u, đoán chừng đêm xuống sẽ có một trận mưa lớn.
Kế hoạch ban đầu của Tiểu Mễ là hôm nay chưa đi tham quan ngay, mà sẽ đưa họ về khách sạn, tìm hiểu phong tục dị vực xung quanh và thưởng thức đặc sản nơi đây, đợi đến ngày mai mới đi thăm Thiên Phật Động.
Về vấn đề khách khứa đông đúc, Tiểu Mễ cho biết không cần lo lắng, bởi Thiên Phật Động dù có đi vào lúc nào thì hầu như cũng chẳng có bóng người...
Hóa ra, Qua Châu tuy cũng là một phần của danh lam thắng cảnh Đôn Hoàng, nhưng lại là nơi khá vắng vẻ, đìu hiu.
Qua Châu cổ gọi là An Tây, từ xưa đến nay vốn là nút giao thông trọng yếu đông tiến tây xuất, là thị trấn thương mại sầm uất trên con đường tơ lụa cổ xưa.
Thiên Phật Động ở đây tuy cũng là những hang động có bích họa Phật giáo mang giá trị nghệ thuật rất cao, nhưng không giống với Mạc Cao Quật nổi tiếng thế giới, danh tiếng của hang động này nhỏ hơn nhiều, công tác tuyên truyền cũng khá khiêm tốn nên rất ít người biết đến.
Chỉ những người am hiểu lịch sử Tây Vực và có gu thẩm mỹ đặc biệt mới tìm đến đây, mục đích cũng chỉ để ngắm nhìn thị trấn biên ải cổ kính này cùng bức "Thủ Kinh Đồ" nguyên bản nhất.
Mục đích của Trần Trí và những người khác lúc này lại trực diện hơn nhiều. Lần này tới đây, mục tiêu của anh chính là bức "Thủ Kinh Đồ", tự nhiên là muốn đi thẳng vào vấn đề, thế nên họ không ghé khách sạn, nhân lúc trời còn sớm liền trực tiếp đi tới Đông Thiên Phật Động.
Những vị khách không ăn không nghỉ như thế này rất hiếm gặp, Tiểu Mễ tuy thấy khá kỳ lạ nhưng dù sao người trả tiền là thượng đế, nên vẫn tôn trọng ý kiến của họ.
Thế là chiếc xe chạy thẳng tới khu du lịch Đông Thiên Phật Động.
Đông Thiên Phật Động nằm ở vùng ngoại ô Qua Châu, cứ dọc theo con đường cổ Tỏa Dương mà đi là tới. Dọc đường có thể nhìn thấy rất nhiều thắng cảnh lịch sử nơi các bậc phong lưu tài tử từng để lại thơ ca.
Trên đường đi tới cổ thành Tỏa Dương, họ nhìn thấy những bụi liễu đỏ nổi tiếng, hết bụi này nối tiếp bụi kia, đỏ rực như một khu rừng lửa. Đàn cừu đang cúi đầu gặm cỏ gần đó, nhìn thấy xe của Trần Trí cũng chẳng hề sợ hãi, vẫn giữ vẻ thong dong tự tại, quả đúng là một bức tranh dị vực tuyệt đẹp.
Xe chạy ra khỏi huyện thành gần một tiếng đồng hồ thì nhìn thấy khu danh thắng nổi tiếng "Phá Thành Tử".
Phá Thành Tử này cũng có lai lịch hẳn hoi, tên gốc là cổ thành Thường Lạc, chiều dài nam bắc khoảng 250 mét, đông tây khoảng 147,7 mét, tổng diện tích 36.261 mét vuông. Trong thành rải rác những mảnh gốm xám, gốm đỏ, gạch hoa, di tích kiến trúc nhà cửa và các lớp tro bụi. Tường thành cao lớn, bảo tồn khá tốt, được xây bằng đất nện. Đây từng là một tòa thành thị phồn hoa thực thụ thời cổ đại.
Phía bắc ngoài thành có một bệ nền kiến trúc miếu nhỏ, người dân địa phương gọi là "Vọng Hương Đài".
Theo khảo chứng của các chuyên gia, lịch sử lưu truyền của tòa thành này đã ngót nghét cả ngàn năm, gần đó chính là vị trí của "Ngọc Môn Quan" thời nhà Đường.
Đúng như câu thơ: Khương địch hà tu oán dương liễu, xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.
Phong cảnh đại mạc dọc đường trông hùng vĩ vô cùng, khiến người ta không khỏi tưởng tượng về những chiến trường cổ ngàn năm dưới lớp cát vàng và nền văn hóa dị tộc nơi đây, thật sự mang một phong vị rất riêng.
Mấy người Dương Ngũ Mao cứ nhao nhao đòi xuống xe chụp ảnh, hứng thú của Tiểu Mễ cũng rất cao, định cho xe rẽ hướng, nhưng lại bị Trần Trí từ chối.
Mục đích chuyến đi này đương nhiên không phải là du sơn ngoạn thủy, nên họ không dừng lại ở những danh lam thắng cảnh như vậy. Điều này khiến Tiểu Mễ cảm thấy vô cùng khó hiểu, Dương Ngũ Mao và những người khác cũng không ngừng càu nhàu. Suốt chặng đường sau đó, dưới bầu không khí oán giận này, chiếc xe vẫn tiếp tục lăn bánh về phía trước.
Chạy thêm gần 2 tiếng đồng hồ nữa, cuối cùng cũng nhìn thấy cổ thành Tỏa Dương.
Cổ thành Tỏa Dương là điểm cuối của đường xe chạy, đến đây là phải xuống xe, quy định của khu du lịch bắt buộc khách vào phải đi bằng xe điện của khu thắng cảnh.
Thành Tỏa Dương, tên gốc là thành Khổ Dục, nằm trên bãi hoang cách Qua Châu khoảng 75 km về phía đông nam, thành chính hình chữ nhật, chiều dài nam bắc 470 mét, chiều rộng đông tây 430 mét.
Ngoài thành chính ra còn có 4 quách thành, xung quanh thành còn xây dựng một số "mã diện" để gia cố tường thành.
Tòa thành này đã bị bỏ hoang từ lâu, nhưng tường thành vẫn còn tồn tại, cao khoảng 9 mét, rộng khoảng 5 mét, toàn bộ đều được xây bằng đất nện, vô cùng kiên cố. Có chuyên gia khẳng định rằng, ngay cả thời nay, tòa thành này cũng rất khó công phá.
Một bức tường chạy dọc theo hướng nam bắc chia toàn bộ thành thành hai phần đông tây. Đông thành nhỏ hơn, khoảng 17.000 mét vuông, nghe nói là nơi ở của tướng lĩnh trú quân và gia quyến ngày trước.
Còn Tây thành lớn hơn, khoảng 165.000 mét vuông, nghe nói là nơi đóng quân của binh lính.
Trong thành đầy rẫy những cồn cát, đống than củi, gạch vụn và những bức tường đổ nát, mọc đầy liễu đỏ cùng các loài thực vật sa mạc.
Trong Tây thành có một cái giếng sâu khoảng 1,5 mét, mực nước sâu tầm 1 mét. Tương truyền, cái giếng này do Tiết Nhân Quý thời nhà Đường đào khi bị vây khốn tại tòa thành này trong cuộc viễn chinh về phía tây.
Cách tường thành Tỏa Dương về phía đông khoảng 1 km còn có một rừng tháp đất, được người dân địa phương gọi là Tháp Nhi Tự.
Theo sử sách ghi chép, Tháp Nhi Tự là nơi diễn ra các hoạt động tôn giáo tế lễ của quan lại và bách tính Qua Châu thời Đường, Ngũ Đại, Tống và Nguyên.
Toàn bộ tháp hình dáng uy nghiêm hùng vĩ, vô cùng tráng lệ. Thời Tùy Đường chiến loạn liên miên, vùng Tây Vực vô cùng hỗn loạn, những trận chiến lớn nhỏ xảy ra không đếm xuể.
Không xa bên cạnh ngôi chùa có một cái hố lõm rộng hơn 10 mẫu, bên trong hố đầy rẫy những nấm mồ, chính là nơi chôn cất xương cốt của các binh sĩ tử trận thời cổ đại.
Những anh hồn từ hơn 1.000 năm trước ấy, cứ thế cùng với sự huy hoàng của thời đại đó, vùi sâu dưới lớp đất vàng...
(Hết chương)