Khi nhìn thấy cái tên Khúc Văn Thái, Trần Trí cho rằng sự việc này thực ra đã vô cùng rõ ràng.
Khúc Văn Thái là một vị quân vương thời nhà Đường, ông cai trị một nước nhỏ tên là Cao Xương.
Nước Cao Xương là một quốc gia Phật giáo do người Duy Ngô Nhĩ thiết lập ở Tây Vực, nằm tại khu vực Cáp Lạt Hòa Trác phía đông nam quận Cao Xương, thành phố XJTLF ngày nay. Đừng thấy nước nhỏ này hẻo lánh mà coi thường, nó từng là nơi binh gia tranh đoạt thời cổ đại, cũng là đầu mối giao thông của toàn bộ con đường tơ lụa.
Vị trí của nó nằm dọc theo tuyến đường phía bắc dưới chân núi Thiên Sơn, là chốt chặn quan trọng cho việc giao thương qua lại giữa phương Đông và phương Tây.
Theo sử liệu ghi chép, lúc bấy giờ các sản phẩm tơ lụa của nhà Đường có thể bán được giá rất cao ở phương Tây, nhiều người nhờ vậy mà phát tài. Thế nên thương nhân qua lại con đường tơ lụa vô cùng đông đúc.
Mà tất cả thương nhân thời đó đều phải nộp một khoản thuế không nhỏ cho nước nhỏ ở Tây Vực này, vì vậy vua Cao Xương khi ấy vô cùng giàu có, nhưng đồng thời cũng trở thành mục tiêu nhòm ngó của cả người Đột Quyết lẫn nhà Đường.
Huyền Trang lúc đó chính là nhờ nhận được sự tài trợ khổng lồ từ quốc gia này, mới có thể thuận lợi vượt qua các cửa ải của những nước lớn nhỏ, tiếp tục hành trình mới và cuối cùng đặt chân đến Ấn Độ.
Có thể nói, chính nhờ sự hỗ trợ của Khúc Văn Thái mà giấc mộng Tây du của Huyền Trang mới có thể thành hiện thực. Nếu không có sự giúp đỡ của vị vua nước nhỏ Tây Vực này, sẽ không có sự kiện Phật giáo hưng thịnh về sau.
Sự việc tiến triển đến bước này, Trần Trí vẫn chưa vội nói cho Đán Huyền biết.
Giống như Đán Huyền từng nói, thứ anh ta muốn bây giờ là sự thật chân chính, chứ không phải những suy đoán và suy luận vô căn cứ.
Sau đó, Trần Trí bảo Béo Uy đi tìm mua một cuốn "Đại Đường Tây Vực Ký" bản chính thống.
Dù cuốn sách này hiện nay nhan nhản trên thị trường, nhưng trải qua bao triều đại thay đổi, nó đã có rất nhiều phiên bản. Một số bản vì lý do chính trị thời đó mà không tránh khỏi bị chỉnh sửa, thêm bớt, chẳng còn nhìn ra dáng vẻ nguyên gốc nữa.
Còn cuốn mà Béo Uy tìm về là bản in thời Đường được truyền lại từ thời Tống, nghe nói được đào ra từ mộ một vị vương gia ngoại phiên. Đây là bản in sơ khởi nguyên thủy nhất, toàn bộ viết bằng chữ Khải tục thể, nội dung chính là cuốn "Đại Đường Tây Vực Ký" được lưu truyền rộng rãi nhất thời bấy giờ.
Đối với Trần Trí lúc này, việc đọc hiểu cổ văn đã không còn là vấn đề. Anh lật xem cuốn sách, lập tức bị nội dung phong phú bên trong làm cho chấn động.
Trước kia dù thường xuyên nghe người ta tán tụng sự huyền thoại của cuốn sách này, nhưng đây là lần đầu tiên anh đọc kỹ đến vậy.
Và giờ đây, Trần Trí cũng không khỏi từ đáy lòng thốt lên lời khen ngợi, đây quả thực là một kỳ thư ghi chép bao hàm vạn vật, kiệt tác hiếm có trên đời.
"Đại Đường Tây Vực Ký" gồm 12 quyển, do Huyền Trang phụng mệnh Đường Thái Tông mà viết. Tương truyền do Huyền Trang thuật lại, Biện Cơ chấp bút.
Cuốn sách tổng thuật lại những điều tai nghe mắt thấy trong chuyến đi về phía tây của Huyền Trang từ năm Trinh Quán thứ nhất đến năm Trinh Quán thứ mười chín. Nó ghi chép khái quát về 110 thành bang, khu vực, quốc gia mà Huyền Trang đã đích thân đặt chân tới, cùng 28 quốc gia nghe danh qua lời kể. Trong đó bao gồm cương vực, khí hậu, núi sông, phong tục, nhân tình, ngôn ngữ, tôn giáo, chùa chiền cùng vô số truyền thuyết lịch sử, thần thoại...
Thậm chí đến cả tình hình phát triển kinh tế, công nghiệp và nông nghiệp của từng vùng cũng được ghi chép vô cùng chi tiết.
Nội dung rộng lớn, phạm vi bao quát của nó khiến người ta không khỏi thán phục, có thể nói đây chính là bộ bách khoa toàn thư sớm nhất về Tây Vực.
Từ những dòng chữ này có thể thấy, Huyền Trang thời đó quả thực là một tăng lữ chuyên tâm với Phật pháp, sự theo đuổi Phật pháp của ông thậm chí đã đạt đến mức độ si mê.
Mà Huyền Trang chân chính trong lịch sử không phải là Đường Tăng chỉ biết cưỡi ngựa trắng trong phim truyền hình. Khi ông lên đường đến thế giới phương Tây thỉnh kinh, cũng chẳng hề có nghi lễ tiễn đưa long trọng từ triều đình.
Huyền Trang tục danh là Trần Huy, người huyện Câu Thị, Lạc Châu.
Ông xuất thân từ gia đình Nho học, là con thứ ba. Do thời điểm đó đang là giai đoạn giao thời giữa nhà Tùy và nhà Đường, chiến loạn liên miên, nên năm mười ba tuổi ông đã xuất gia tại chùa Tịnh Thổ ở Lạc Dương.
Sau đó, Huyền Trang chuyển đến Thành Đô, Tứ Xuyên và nhiều nơi khác để thụ học. Lúc này ông đã bộc lộ tài năng, được mệnh danh là "Thiên Lý Câu" (ngựa quý ngàn dặm) của giới Phật học.
Trong quá trình nghiên cứu kinh luận Phật giáo, Huyền Trang tiếp xúc rộng rãi với lý thuyết của các phái, cảm thấy trong đó có quá nhiều nghi vấn, nhiều kinh văn không hoàn chỉnh, trước sau mâu thuẫn, nên nghi ngờ các bản dịch cũ có sai lệch.
Vì vậy, ông phát nguyện đi đến nơi khởi nguồn của Phật giáo - Thiên Trúc để tìm kiếm các bản kinh khác, cầu lấy kinh văn Phật giáo chính tông để đối chiếu.
Năm Trinh Quán thứ nhất, tức năm 627 sau Công nguyên, Huyền Trang khi đó hai mươi sáu tuổi đã quyết tâm đi về phía tây. Ông gửi đơn xin xuất cảnh lên chính quyền nhà Đường nhưng không được phê chuẩn.
Triều đình lúc bấy giờ không ủng hộ ông đi về phía tây, nhưng điều đó không thể ngăn cản quyết tâm thỉnh kinh của ông. Sau một thời gian chuẩn bị, ông quyết định vượt biên trái phép.
Tháng tám năm Trinh Quán thứ hai, nạn đói lớn bùng phát, Huyền Trang trà trộn vào dòng người tị nạn để trốn khỏi Trường An, bắt đầu con đường về phía tây của mình.
Nhưng chẳng bao lâu sau, triều đình đã phát lệnh truy nã Huyền Trang với tội danh vượt biên trái phép, ra lệnh cho các huyện dọc đường bắt giữ, không cho phép ông tiếp tục hành trình.
Hơn một tháng sau, Huyền Trang vẫn lén lút đến được Lương Châu. Ông tránh Ngọc Môn Quan, vượt sông trốn đi, từ đó bước chân vào sa mạc mênh mông không lối thoát dẫn đến Tây Vực.
Một vị tăng không có thông hành, giữa sa mạc hoang vu, hiểm nguy phía trước là điều có thể tưởng tượng được...
Trong những dòng mô tả sau này của Huyền Trang, có thể thấy được sự gian nan trên bước đường ông đi lúc đó.
Gió cát đầy trời, sa mạc hoang dã không bóng người, mặt trời gay gắt như thiêu đốt khiến mồ hôi tuôn rơi như mưa. Thế nhưng đúng lúc này, túi nước duy nhất để sinh tồn lại bị ông đánh mất.
Huyền Trang lúc ấy vô cùng bất lực. Ông từng có năm ngày năm đêm không một giọt nước, hạt cơm trong sa mạc. Trong bóng tối của sa mạc, ông nhìn thấy ánh đèn của yêu ma quỷ quái thắp lên, sau đó ông rơi vào hôn mê.
Thế nhưng khi tỉnh lại, ông phát hiện mình đã kỳ tích thoát khỏi sa mạc, sau đó tiến vào nước Cao Xương.
Về sau, nhờ quốc vương Cao Xương dốc toàn lực giúp đỡ, Huyền Trang cuối cùng đã thành công trong chuyến Tây du, đồng thời xác lập địa vị không thể lay chuyển của Phật giáo trên mảnh đất Trung Nguyên.
Mà đoạn ghi chép này lại khơi dậy sự nghi ngờ của Trần Trí.
Ai cũng biết, cơ thể con người đều có giới hạn.
Năm ngày năm đêm không ăn không uống, hệ thống sinh lý của một người về cơ bản đã hỏng, căn bản không thể tự mình bước ra khỏi sa mạc trong trạng thái hôn mê, trừ khi nhận được sự giúp đỡ của ai đó.
Mà những mô tả về nước Cao Xương sau đó càng chứng minh rằng, Khúc Văn Thái này có mối quan hệ không hề tầm thường với Huyền Trang...
Hôm nay chỉ có một chương, đang lái xe về quê.
(Hết chương)