Vô Vọng Hương (Nơi Không Tồn Tại)

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương mười

❊ ❊ ❊

“Các người có uống rượu vang không?” Nó hỏi.

Richard gật đầu.

“Trước đây tôi từng uống một chút,” Door ngập ngừng nói, “Cha tôi, ông ấy… vào bữa tối, thường cho chúng tôi nếm thử một ngụm.”

Thiên thần Islington cầm lấy chai rượu. Trông nó có vẻ như là một chai thủy tinh, nhưng Richard nghi ngờ chất liệu không phải thủy tinh, vì ánh nến phản chiếu và khúc xạ qua đó rực rỡ đến lạ thường. Có lẽ chiếc bình này là một loại pha lê nào đó, hoặc là một viên kim cương khổng lồ. Nó thậm chí còn khiến thứ rượu bên trong trở nên lấp lánh, như thể được chưng cất từ những tia sáng.

Thiên thần rút nút chai, rót khoảng một inch rượu vào ly. Đây là một loại rượu vang trắng, nhưng Richard chưa từng thấy thứ gì tương tự. Dòng rượu tỏa ra ánh sáng trong hang động, tựa như ánh mặt trời phản chiếu trên mặt hồ bơi.

Door và Richard đi đến cạnh một chiếc bàn gỗ đã đen kịt vì năm tháng, ngồi xuống những chiếc ghế gỗ rộng lớn mà không nói một lời. “Loại rượu này,” Islington nói, “chỉ còn lại chai cuối cùng. Một tổ tiên của cô từng tặng tôi một tá.”

Nó đưa ly cho Door, rồi lại rót thêm một inch rượu phát sáng vào chiếc ly khác. Động tác của nó thành kính cẩn trọng, gần như nâng niu, tựa như một mục sư đang cử hành nghi lễ tôn giáo. “Đây là quà chào khách. Chuyện đó đã xảy ra từ ba, bốn vạn năm trước rồi. Dù sao thì, cũng đã rất lâu rồi.” Nó đưa ly cho Richard. “Tôi nghĩ các người nên trách tôi vì đã lãng phí thứ quý giá nhường này,” nó nói với cả hai, “nhưng tôi hiếm khi tiếp khách, đường đến đây rất gian nan vất vả.”

“Bức họa Thiên thần cầu nguyện…” Door lẩm bẩm.

“Đúng vậy, các người đến được đây là thông qua Bức họa Thiên thần cầu nguyện. Nhưng với mỗi lữ khách, con đường đó chỉ có thể đi một lần.” Thiên thần giơ cao chiếc ly, nhìn chằm chằm vào ánh sáng. “Khi uống hãy cẩn thận,” nó nhắc nhở hai người, “tửu lượng của nó rất mạnh.” Thiên thần ngồi xuống giữa Richard và Door. “Khi uống rượu,” nó nói đầy hoài niệm, “tôi thích tưởng tượng mình đang thưởng thức ánh mặt trời của ngày xưa.” Nó nâng ly của mình lên, “Hãy cùng cạn một ly, vì vinh quang đã mất.”

“Vì vinh quang đã mất.” Richard và Door đồng thanh đáp. Họ nhấp một ngụm đầy thận trọng, chỉ nếm thử chứ không uống cạn.

“Thật tuyệt vời.” Door nói.

“Quả thực là vậy,” Richard nói, “Tôi cứ tưởng rượu ủ lâu năm chỉ cần tiếp xúc với không khí là sẽ lập tức bị chua.”

Thiên thần lắc đầu. “Loại này thì không. Mấu chốt nằm ở giống nho và nơi sản xuất. Những cây nho này, than ôi, đã tuyệt chủng sau khi các vườn nho đó bị những con sóng nhấn chìm.”

“Thật không thể tin nổi,” Door lại nhấp một ngụm rượu sáng, “Tôi chưa từng nếm thứ gì ngon đến thế.”

“Sau này cô cũng không còn cơ hội nếm lại nữa đâu,” Islington nói, “Rượu vang sản xuất tại Atlantis chỉ còn lại chừng này thôi.”

Sâu trong thâm tâm Richard, một giọng nói nhỏ bé đầy quy tắc chỉ ra rằng, Atlantis căn bản không tồn tại. Nó còn lấy hết can đảm để khẳng định rằng trên đời này không có thứ gì gọi là thiên thần, và phần lớn những trải nghiệm của anh vài ngày qua là điều bất khả thi. Richard phớt lờ nó. Anh đang học cách tin vào bản năng của mình một cách vụng về, và nhận ra rằng đối với những sự việc kỳ lạ đã chứng kiến và trải qua trong mấy ngày nay, lời giải thích đơn giản và hợp lý nhất chính là những gì người khác đã nói với anh — bất kể chúng khó tin đến mức nào. Anh mở miệng, nếm thêm một ngụm rượu vang. Thứ mỹ tửu này khiến anh cảm thấy hạnh phúc, khiến anh nhớ về một bầu trời rộng lớn và xanh hơn, với ánh mặt trời chói lọi treo cao, vạn vật đều đơn thuần và trẻ trung hơn thế giới mà anh từng biết.

Bên trái họ là một thác nước, dòng nước trong vắt men theo vách đá chảy vào hồ đá. Bên phải họ là hai cây cột sắt, ở giữa là một cánh cổng lớn, được làm từ đá lửa mài bóng, đặt trong khung kim loại gần như đen tuyền.

“Ngài thực sự tự xưng là thiên thần sao?” Richard hỏi, “Ý tôi là, ngài đã thực sự nhìn thấy Chúa hay thứ gì đại loại thế chưa?”

Islington cười nói: “Tôi chưa từng tự xưng là bất cứ thứ gì, Richard. Nhưng tôi đúng là thiên thần.”

“Được gặp ngài là vinh hạnh của chúng tôi.” Door nói.

“Không. Các người ghé thăm nơi ở của tôi mới là vinh dự lớn lao của tôi. Cha cô là một người tốt, Door cũng là bạn của tôi. Cái chết của ông ấy khiến tôi vô cùng đau buồn.”

“Trong nhật ký ông ấy nói… ông ấy bảo tôi nên đến tìm ngài. Ông ấy nói tôi có thể tin tưởng ngài.”

“Tôi chỉ hy vọng mình xứng đáng với sự tin tưởng đó.” Thiên thần nhấp một ngụm rượu, “London bên dưới là thành phố thứ hai mà tôi yêu quý. Thành phố đầu tiên đã sớm chìm dưới đáy biển, tôi cũng lực bất tòng tâm. Tôi hiểu cảm giác đau khổ, mùi vị của sự mất mát. Nỗi đau của cô tôi cũng cảm nhận được. Cô muốn biết điều gì?”

Door im lặng một lát rồi mới nói: “Gia đình tôi… đều bị Croup và Vandemar sát hại. Nhưng… ai mới là kẻ đứng sau giật dây? Tôi muốn… tôi muốn biết đầu đuôi sự việc.”

Thiên thần gật đầu. “Rất nhiều bí mật được truyền tai nhau đến chỗ tôi,” nó nói, “nhiều lời đồn đại, những câu chuyện nửa thật nửa giả, và đủ loại dư âm.” Nó lại quay đầu nói với Richard: “Vậy còn cậu? Cậu muốn gì, Richard Mayhew?”

Richard nhún vai: “Tôi muốn lấy lại cuộc sống trước đây, cả căn hộ của tôi và công việc nữa.”

“Điều này là có thể.” Thiên thần nói.

“Ồ, tốt quá.” Richard đáp một cách ủ rũ.

“Cậu nghi ngờ lời tôi nói sao, Richard Mayhew?” Thiên thần Islington hỏi.

Richard nhìn thẳng vào mắt nó. Đó là đôi mắt màu xám tỏa ra ánh sáng mờ nhạt, già cỗi như vũ trụ. Đôi mắt này đã chứng kiến hàng tỷ năm trước, những dải ngân hà ngưng kết và ra đời từ các vì sao. Islington mỉm cười hiền từ với anh: “Con đường này không dễ đi, cậu và đồng đội sẽ phải đối mặt với nhiều gian nan trắc trở, dù là trên hành trình tìm kiếm hay chặng đường trở về sau này. Nhưng chúng ta có thể tìm ra một lối thoát: một chiếc chìa khóa giải quyết mọi vấn đề.”

Nó đứng dậy, đi về phía một gờ đá nhỏ, trên đó đặt vài bức tượng. Những bức tượng nhỏ màu đen làm từ đá nhựa thông, trông có vẻ là một loại động vật nào đó. Thiên thần cầm lấy một bức, đưa cho Door. “Khi cô quay lại tìm tôi, nó sẽ giúp cô bình an vượt qua chặng đường cuối cùng. Phần còn lại đành nhờ vào chính các người.”

“Ngài muốn chúng tôi làm gì?” Richard hỏi.

“Các Black Friars đang canh giữ một chiếc chìa khóa,” nó nói, “Hãy mang nó đến cho tôi.”

“Sau đó ngài có thể dùng nó để tìm ra kẻ đã giết gia đình tôi không?” Door hỏi.

“Hy vọng là vậy.” Thiên thần nói. Richard uống cạn phần rượu còn lại trong ly, cảm thấy chất lỏng chảy khắp cơ thể, mang lại chút hơi ấm. Anh có một cảm giác kỳ lạ, như thể chỉ cần cúi đầu nhìn ngón tay mình là có thể thấy dòng rượu đang lấp lánh bên trong, như thể cả người anh đều được đúc từ ánh sáng…

“Chúc các người may mắn.” Thiên thần Islington nói. Một tiếng động vang lên, tựa như làn gió nhẹ lướt qua những cánh rừng không ai biết tới, lại giống như tiếng vỗ cánh mạnh mẽ.

Richard và Door ngồi trên sàn một phòng triển lãm của Bảo tàng Anh, ngẩn ngơ nhìn bức phù điêu thiên thần trên cánh cửa nhà thờ. Căn phòng tối om không một bóng người, bữa tiệc đã kết thúc từ lâu. Ngoài cửa sổ, bầu trời lộ ra một tia sáng trắng bạc. Richard đứng dậy, rồi cúi người đỡ Door đứng lên.

“Black Friars?” anh hỏi.

Cô gái gật đầu.

Anh đã đi qua cầu Blackfriars ở trung tâm London nhiều lần, cũng thường xuyên đi ngang qua ga tàu điện ngầm Blackfriars, nhưng giờ đây anh đã học được rằng không nên coi điều gì là hiển nhiên.

“Địa danh hay con người?” anh hỏi.

“Là con người.”

Richard đi đến trước Bức họa Thiên thần cầu nguyện, đưa ngón tay lướt qua lớp áo choàng được tô màu, “Cô nghĩ ông ta thực sự làm được sao, giúp tôi trở về cuộc sống trước đây?”

“Chuyện này tôi chưa từng nghe qua. Nhưng tôi nghĩ ông ta sẽ không nói dối chúng ta. Dù sao ông ta cũng là thiên thần.”

Door mở hai bàn tay, nhìn bức tượng quái thú, buồn bã nói: “Cha tôi cũng có một thứ tương tự.” Nói xong, cô gái nhét nó vào túi áo khoác da màu nâu.

“Được rồi,” Richard nói, “Chúng ta cứ chần chừ thế này thì không lấy được chìa khóa đâu, đúng không?” Họ đi qua những hành lang bảo tàng trống trải.

“Cô biết gì về chiếc chìa khóa này không?” Richard nói.

“Không biết gì cả,” Door nói, lúc này họ đã đến trước cửa chính của bảo tàng, “Tôi từng nghe nói về những Black Friars đó, nhưng chưa từng tiếp xúc với họ.” Cô đặt tay lên một cánh cửa kính đang khóa chặt, cánh cửa lập tức mở ra theo ý cô.

“Một nhóm tu sĩ…” Richard trầm ngâm nói, “Tôi cá là chỉ cần chúng ta nói với họ rằng một thiên thần muốn có nó, một thiên thần chính hiệu, họ sẽ giao chiếc chìa khóa thần thánh đó ra, rồi còn tặng kèm thêm dụng cụ mở hộp ma thuật và đồ khui nút chai biết huýt sáo nữa đấy.” Anh nói rồi cười lớn, trong lòng lại nghĩ không biết có phải do rượu hơi nặng đô không.

“Anh phấn khích quá nhỉ?” Door nói.

Richard gật mạnh đầu. “Tôi sắp được về nhà rồi. Mọi thứ sẽ trở lại bình thường, trở lại nhàm chán, trở lại tuyệt vời.” Richard ngước nhìn những bậc thang dẫn lên Bảo tàng Anh, cảm thấy nơi này sinh ra là để cho Fred Astaire và Ginger Rogers nhảy múa chạy xuống. Nghĩ đến việc cả hai người họ hiện không có mặt, anh liền bắt chước động tác của Fred Astaire, nhảy cẫng lên dọc đường, miệng ngân nga một giai điệu nằm giữa “Pudding trên bánh quy” và “Mũ chóp cao, cà vạt trắng và áo đuôi tôm”. “Ya — da — da — da — da — da — da — ya.” Anh vui vẻ hát vang, nhảy điệu tap dance qua lại trên các bậc thang.

Door đứng trên đỉnh cầu thang, kinh ngạc nhìn anh, rồi không nhịn được mà bật cười khúc khích. Richard ngước nhìn cô gái, tháo chiếc mũ lụa trắng không tồn tại trên đầu ra chào, giả vờ ném thật cao lên không trung rồi lại đưa tay đón lấy, đội lại lên đầu.

“Đừng ngốc thế.” Door cười với anh. Richard chỉ bước tới nắm lấy tay cô, tiếp tục nhảy múa dọc các bậc thang. Cô gái ban đầu ngập ngừng một lát, rồi cũng bắt đầu nhảy theo. Điệu nhảy của cô còn khá hơn Richard nhiều. Ở chân cầu thang, họ vấp phải nhau, ngã vào lòng đối phương, chỉ thấy kiệt sức, thở hổn hển nhưng vẫn không ngừng cười.

Richard cảm thấy cả thế giới đang quay cuồng.

Trái tim cô gái đập mạnh vào lồng ngực anh. Khoảnh khắc này xảy ra thay đổi tinh tế, anh không biết mình có nên làm gì đó không, không biết có nên hôn Door không, cũng không biết mình có muốn hay không. Anh chỉ biết mình thực sự không biết gì cả. Anh nhìn vào đôi mắt mê hoặc của cô gái. Door quay mặt đi, thoát khỏi vòng tay anh, dựng cổ áo khoác da màu nâu lên che trước mặt, như một bộ giáp và sự bảo vệ.

“Mau đi tìm vệ sĩ của chúng ta thôi.” Door nói. Họ cùng nhau rời khỏi bảo tàng dọc theo lối đi bộ, tiến về phía ga tàu điện ngầm Bảo tàng Anh, dọc đường thỉnh thoảng lại vấp ngã.

“Ngươi,” ông Croup nói, “muốn gì?”

“Những kẻ khác,” Hầu tước Carabas hỏi ngược lại, “lại muốn gì?”

“Những thứ đã chết,” ông Vandemar nói, “những chiếc răng thừa.”

“Tôi nghĩ có lẽ chúng ta có thể làm một vụ giao dịch.” Hầu tước nói.

Ông Croup cười lớn, nghe như vô số bàn tay khô khốc đang dùng móng tay cào lên bảng đen. “Ồ, thưa ngài Hầu tước tôn kính. Tôi nghĩ mình có thể tự tin nói một câu mà không bị ai ở đây phản bác: Ngài chắc chắn đã mất đi sự tỉnh táo vốn được ca tụng bấy lâu. Ngài,” ông ta nói thẳng, “cho phép tôi dùng một từ ngữ thô tục, chắc chắn là não bị úng nước rồi.”

“Ra lệnh đi,” ông Vandemar đã đứng sau ghế của Hầu tước, “chỉ trong chớp mắt, cái đầu của hắn sẽ lìa khỏi cổ thôi.”

Hầu tước hà hơi vào móng tay, lau lau lên ve áo khoác. “Tôi luôn cho rằng,” ông nói, “bạo lực là nơi trú ẩn cuối cùng của những kẻ bất tài, còn những lời đe dọa sáo rỗng là thánh đường duy nhất của những kẻ hèn nhát.”

Ông Croup nhìn ông, dữ tợn nói: “Ngươi đến đây để làm gì?”

Hầu tước Carabas vươn vai, thần thái tựa như một con mèo lớn, có lẽ là linh miêu, hoặc một con báo đen khổng lồ. Ông đứng dậy, hai tay đút vào túi hai bên chiếc áo khoác sang trọng. “Tôi nghe nói,” ông dùng giọng điệu thân mật nói, “ông Croup, ông là một nhà sưu tầm đồ sứ thời Đường.”

“Làm sao ngươi biết?”

“Mọi người thường kể cho tôi nghe vài chuyện. Tôi là người thích kết bạn.” Nụ cười của Hầu tước thuần khiết không tì vết, chân thành lay động, giống như nụ cười của một kẻ bán Kinh Thánh cũ.

“Dù cho ta có là…” ông Croup mở lời.

“Nếu ông đúng là vậy,” Hầu tước Carabas nói, “thì có lẽ sẽ hứng thú với thứ này.” Ông rút một tay ra khỏi túi, đưa thứ đó cho ông Croup xem. Đầu tối nay, nó còn được cất giữ trong két sắt của một ngân hàng thương mại hàng đầu ở London, nằm an toàn trong hộp thủy tinh. Món đồ sứ này trong một vài danh mục sưu tầm được gọi là “Thu mùa (đồ tùy táng)”. Món đồ cao khoảng tám inch, là một tác phẩm điêu khắc bằng sứ tráng men, nó đã được tạo hình, tô màu và nung xong từ sáu trăm năm trước khi Columbus thực hiện chuyến viễn dương đầu tiên. Khi đó châu Âu vẫn còn đang trong thời kỳ Trung cổ đen tối.

Ông Croup không kìm được tiếng kêu kinh ngạc, đưa tay ra lấy. Hầu tước lập tức thu tay lại, ôm chặt vào ngực. “Không không không,” Carabas nói, “đâu có dễ dàng như vậy.”

“Không sao?” ông Croup hỏi, “Nhưng ngươi làm thế nào để ngăn chúng ta cướp lấy nó, rồi phân thây ngươi ra khắp thế giới ngầm? Chúng ta vẫn chưa từng phân thây Hầu tước bao giờ.”

“Từng rồi,” ông Vandemar nói, “ở Yorkshire. Thế kỷ mười bốn. Hôm đó trời mưa.”

“Hắn không phải Hầu tước gì cả,” ông Croup nói, “chỉ là Bá tước Exeter thôi.”

“Còn là Hầu tước Westmoreland nữa.” Ông Vandemar có vẻ rất đắc ý.

Ông Croup hừ lạnh một tiếng. “Ngươi làm thế nào để ngăn chúng ta chặt ngươi thành nhiều mảnh như Hầu tước Westmoreland?” ông ta hỏi.

Carabas rút bàn tay kia ra khỏi túi, cùng xuất hiện là một chiếc búa nhỏ. Ông tung búa lên không trung, rồi chộp lấy cán búa, làm tư thế như muốn gõ xuống món đồ sứ. “Ồ, làm ơn đi,” ông nói, “đừng chơi mấy trò đe dọa nhàm chán này nữa. Tôi nghĩ nếu các người đều đứng sang bên kia, tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn chút.”

Ông Vandemar liếc nhìn Croup, người kia gật đầu gần như không thể nhận ra. Một làn gió nhẹ lướt qua, ông Vandemar đã đứng cạnh ông Croup. “Tôi quả thực đang sưu tầm loại đồ sứ thời Đường quý hiếm này,” ông ta cười như một bộ xương, “Món này ngươi có chịu bán không?”

“Ở thế giới ngầm, chúng ta không quen mua bán lắm, ông Croup. Trao đổi vật chất, ai cần gì lấy nấy. Đó mới là phong cách của chúng ta. Nhưng đúng vậy, món đồ nhỏ hấp dẫn này quả thực đang đợi giá.”

Ông Croup bĩu môi, hai tay khoanh trước ngực rồi lại từ từ buông xuống. Ông giơ một tay lên, vuốt mái tóc đầy dầu, sau đó mở miệng nói: “Vậy ngươi cứ ra giá đi.” Hầu tước thở dài một hơi, một tiếng thở dài gần như có thể nghe thấy được. Dù sao thì, cuối cùng ông cũng có khả năng thực hiện vụ lừa đảo vĩ đại này. “Đầu tiên, tôi muốn hỏi ba câu hỏi, mong ông cho tôi ba câu trả lời.” Ông nói.

Croup gật đầu. “Giao dịch công bằng. Chúng ta cũng phải nhận được ba câu trả lời.”

“Rất công bằng,” Hầu tước nói, “Thứ hai, tôi muốn rời khỏi đây an toàn. Các người phải đảm bảo trong vòng một giờ không được đuổi theo.”

Croup gật mạnh đầu. “Đồng ý. Nói câu hỏi đầu tiên của ngươi đi.” Ánh mắt ông ta chưa từng rời khỏi món đồ sứ.

“Câu hỏi thứ nhất, các người làm việc cho ai?”

“Ồ, câu hỏi này đơn giản quá,” ông Croup nói, “thật quá dễ dàng. Chúng tôi làm việc cho chủ nhân của chúng tôi, ông ấy muốn giữ kín danh tính.”

“Ồ, tại sao các người lại muốn sát hại gia đình Door?”

“Là mệnh lệnh của chủ nhân.” Ngay giây phút này, nụ cười của ông Croup trở nên giống cáo hơn.

“Các người rõ ràng có cơ hội, tại sao lại không giết Door?”

Trước khi ông Croup kịp mở miệng, ông Vandemar đã giành nói trước: “Phải để cô ta sống, chỉ có cô ta mới mở được cánh cửa đó.”

Ông Croup trừng mắt nhìn đồng đội của mình. “Làm tốt lắm,” ông ta nói, “sao ngươi không kể hết mọi chuyện cho hắn luôn đi?”

“Tôi cũng muốn trả lời một lần mà.” ông Vandemar lẩm bẩm.

“Được rồi,” ông Croup nói, “vậy ngươi đã nhận được ba câu trả lời, hy vọng nó giúp ích được cho ngươi. Câu hỏi đầu tiên của ta là: Tại sao ngươi lại bảo vệ cô ta?”

“Cha cô ấy từng cứu mạng tôi,” Hầu tước thành thật nói, “Tôi trước đây chưa tìm được cơ hội trả nợ. Tôi chỉ hy vọng người khác nợ tôi ân tình, không thích nợ người khác.”

“Tôi có một câu hỏi.” ông Vandemar nói.

“Tôi cũng vậy, ông Vandemar. Người ở thế giới phía trên kia, Richard. Tại sao hắn lại ở cùng Door? Và tại sao cô ta lại đồng ý mang theo hắn?”

“Con gái luôn có chút đa sầu đa cảm.” Hầu tước Carabas nói. Khi nói câu này, ông thầm nghĩ liệu điều đó có hoàn toàn đúng không. Ông bắt đầu nghi ngờ người ở thế giới phía trên kia có lẽ có vài bí mật không ai biết.

“Đến lượt tôi,” ông Vandemar nói, “Bây giờ tôi đang nghĩ đến số mấy?”

“Xin lỗi, ông nói gì?”

“Tôi đang nghĩ đến số mấy?” ông Vandemar lặp lại, “Trong khoảng từ một đến vô cùng.” ông ta gợi ý.

“Bảy.” Hầu tước nói. Ông Vandemar tâm phục khẩu phục gật đầu. Ông Croup lại hỏi: “Họ đang…”

Nhưng Hầu tước lắc đầu nói: “À há, ông tham lam quá rồi đấy.”

Trong chớp mắt, căn hầm ẩm ướt chìm vào tĩnh lặng. Tiếp đó những giọt nước lại bắt đầu rơi, những con giòi lại bắt đầu bò lạo xạo. Hầu tước nói: “Nhớ lấy, cho ta chạy trước một giờ.”

“Tất nhiên.” ông Croup nói. Hầu tước Carabas ném món đồ sứ cho Croup. Ông ta không thể chờ đợi được nữa mà đưa tay chộp lấy, giống như một kẻ nghiện nhận được một túi bột trắng không rõ nguồn gốc. Hầu tước không ngoảnh đầu lại, sải bước rời khỏi tầng hầm.

Ông Croup cẩn thận kiểm tra món đồ sứ, cầm trong tay xoay qua xoay lại ngắm nghía, giống như một giám tuyển bảo tàng đang nghiên cứu về Dickens, đang đánh giá một vật phẩm triển lãm đoạt giải. Lưỡi ông ta thỉnh thoảng thò ra khỏi miệng, tựa như một chiếc lưỡi rắn, trên khuôn mặt tái nhợt lộ ra vẻ ửng hồng rõ rệt. “Ồ, thật tuyệt vời, thật tuyệt vời,” ông ta thì thầm, “Quả thực là tác phẩm thời Đường. Đã có lịch sử hơn một nghìn hai trăm năm, bức tượng gốm đẹp nhất thế gian. Đây là tác phẩm của người thợ gốm xuất sắc nhất, Khải Long, chỉ còn lại duy nhất một món trên đời. Nhìn màu men này, cảm giác phối màu, còn có sức sống này…” ông ta lộ ra nụ cười như trẻ thơ, nụ cười thuần khiết này trên khuôn mặt u ám của ông Croup trông có vẻ hơi lạc lõng, “Nó mang lại cho thế giới thêm vài phần kinh ngạc và vẻ đẹp.”

Nói xong câu này, Croup ngoác miệng cười, cúi đầu lại gần món đồ sứ, cắn đứt đầu bức tượng, nhai ngấu nghiến, nuốt chửng. Răng ông ta nghiền gốm thành bột mịn, dính đầy cằm.

Sự tiêu vong của món đồ sứ khiến ông Croup trở nên rạng rỡ. Toàn thân ông ta rơi vào trạng thái điên cuồng kỳ lạ và khao khát máu không thể kiềm chế, giống như một con cáo chui vào chuồng gà. Đợi đến khi ông ta ăn sạch bức tượng, chỉ còn lại chút bột, liền quay đầu đối mặt với ông Vandemar. Dáng vẻ của ông ta rất kỳ lạ, trông có vẻ ung dung tự tại, thậm chí có chút lười biếng. “Chúng ta vừa nói cho hắn bao nhiêu thời gian nhỉ?”

“Một tiếng đồng hồ.”

“Ồ, đã trôi qua bao lâu rồi?”

“Sáu phút.”

Ông Croup cúi đầu, giơ một ngón tay sờ sờ cằm, dùng đầu ngón tay liếm sạch bột gốm. “Ngươi đi đuổi theo hắn đi, ông Vandemar,” ông ta nói, “ta vẫn cần thêm thời gian để nghiền ngẫm lại.”

Người thợ săn nghe thấy tiếng họ đi xuống bậc thang. Cô đứng trong bóng tối, hai tay khoanh trước ngực, tư thế hoàn toàn giống hệt lúc họ rời đi. Richard ngân nga hát lớn. Door không nhịn được cười khúc khích. Cô thỉnh thoảng thu lại tiếng cười, cảnh báo Richard phải giữ im lặng, nhưng rất nhanh lại cười ngây ngô. Hai người đi ngang qua người thợ săn, thậm chí không nhận ra sự tồn tại của cô.

Người thợ săn bước ra khỏi bóng tối, lên tiếng: “Hai người đã lên trên đó tám tiếng rồi.” Cô chỉ đang trần thuật sự thật, không mang chút trách móc hay tò mò nào.

Door chớp mắt với cô. “Cảm giác không lâu đến thế.”

Người thợ săn không đáp lời.

Richard mệt mỏi cười toe toét với cô. “Cô không muốn biết đã xảy ra chuyện gì sao? Ồ, chúng tôi bị Croup và Vandemar phục kích. Thật không may là không có vệ sĩ đi cùng. Mặc dù vậy, tôi vẫn cho chúng một bài học đấy.”

Người thợ săn nhướng mày. “Công phu của cậu chắc chắn sẽ khiến tôi tâm phục khẩu phục.” cô lạnh lùng nói.

Door lại cười ngây ngô một trận. “Anh ấy nói đùa thôi. Thực ra… chúng tôi đã bị giết rồi.”

"Với tư cách là một chuyên gia chấm dứt chức năng cơ thể," Thợ Săn nói, "tôi buộc phải bày tỏ ý kiến trái chiều. Cả hai người đều chưa chết. Theo suy đoán của tôi, các người chỉ là say đến mức không còn biết trời đất gì nữa thôi."

Door lè lưỡi về phía người bảo vệ. "Vớ vẩn. Chẳng dính lấy một giọt, chỉ một tí tẹo thôi." Cô giơ hai ngón tay lên, ra hiệu cho bà thấy "một tí tẹo" là ít đến mức nào.

"Chỉ là đi dự một bữa tiệc," Richard nói, "gặp Jessica, rồi gặp một thiên thần thực thụ, nhận được một chú lợn con màu đen, sau đó thì quay về đây."

"Chỉ say một chút thôi," cô gái cứ khăng khăng, "rượu vang... ủ lâu năm. Chỉ uống một chút xíu, đặc biệt ít, gần như là không có." Cô bắt đầu nấc, rồi khúc khích cười cho đến khi một tiếng nấc cắt ngang tiếng cười. Cô gái đột ngột ngồi bệt xuống nền tảng. "Có lẽ mình thực sự hơi say rồi," cô nói một cách nghiêm túc, rồi nhắm mắt lại, ngáy khò khò đầy trang trọng.

Hầu tước Carabas chạy như điên trong cống ngầm, như thể tất cả lũ chó săn địa ngục đều đang đánh hơi thấy mùi của ông mà đuổi theo sát nút. Hầu tước lội qua dòng nước xám sâu sáu tấc của sông đao phủ tại pháp trường Tyburn, đi đến phía dưới công viên dẫn tới điện Buckingham, rồi chui vào một đường cống gạch tối tăm. Ông đã chạy được mười bảy phút.

Tại vị trí cách Marble Arch ba mươi thước, ông dừng bước. Đường cống chia thành hai ngả. Hầu tước Carabas chọn ngả bên trái, tiếp tục cuộc trốn chạy.

Vài phút sau, ông Vandemar đi qua đường cống này. Khi đến ngã rẽ, ông cũng dừng lại một chút, hít hà mùi trong không khí, rồi cũng đi theo ngả bên trái.

Thợ Săn hừ lạnh một tiếng, ném Richard Mayhew đang bất tỉnh nhân sự lên đống rơm. Anh trở mình trên đống cỏ, lầm bầm câu gì đó đại loại như "Tôi không đuổi theo", rồi lại vùi đầu ngủ tiếp. Thợ Săn đặt Door xuống cạnh Richard, động tác nhẹ nhàng hơn vừa nãy rất nhiều. Sau đó, bà đứng cạnh cô gái, trong chuồng ngựa tối tăm dưới lòng đất, bày ra tư thế cảnh giác.

Hầu tước Carabas đã kiệt sức. Ông tựa vào tường đường hầm, nhìn những bậc thang kéo dài lên phía trên, rồi rút chiếc đồng hồ bỏ túi bằng vàng ra xem giờ. Kể từ lúc ông trốn thoát khỏi tầng hầm bệnh viện, đã ba mươi lăm phút trôi qua.

"Đã được một tiếng chưa?" ông Vandemar hỏi. Ông đang ngồi trên bậc thang trước mặt Hầu tước, dùng dao gọt móng tay.

"Còn xa mới tới," Hầu tước hổn hển nói.

"Cảm giác như đã được một tiếng rồi," ông Vandemar nói một cách tử tế.

Thế giới xung quanh rung chuyển, ông Croup xuất hiện sau lưng Carabas, cằm vẫn còn dính chút bột. Hầu tước nhìn chằm chằm ông Croup, rồi quay đầu nhìn ông Vandemar, cuối cùng không kìm được mà cười lớn. Ông Croup mỉm cười nhẹ. "Thưa ngài Hầu tước, ngài thấy chúng tôi nực cười lắm sao? Giống như những quả hạt dẻ cười, đúng không? Trên người mặc đồ hoa lá, nói chuyện thì vòng vo tam quốc..."

Ông Vandemar lầm bầm: "Tôi đâu có vòng vo..."

"...lại còn những hành vi ngốc nghếch. Có lẽ chúng tôi đúng là nực cười thật."

Ông Croup giơ một ngón tay lên, lắc lắc trước mặt Carabas. "Nhưng, thưa ngài Hầu tước, ngài đừng có đoán mò," ông nói tiếp, "cho rằng thứ gì đó trông nực cười thì chắc chắn không nguy hiểm."

Ông Vandemar ném con dao về phía Hầu tước, lực đạo vừa chuẩn vừa ác, cán dao đập trúng thái dương ông. Hầu tước trợn ngược mắt, hai đầu gối mềm nhũn, ngã gục xuống đất. "Vòng vo," ông Croup nói với ông Vandemar, "là một cách nói chuyện uyển chuyển mơ hồ. Lạc đề vạn dặm, nói mãi không dứt."

Ông Vandemar túm lấy thắt lưng Hầu tước Carabas, kéo đi trên cầu thang, mặc cho đầu ông va đập "bộp bộp" liên hồi. "Ra là vậy," ông Vandemar nói.

Bây giờ hãy quay lại nhìn vào giấc mơ của họ.

Thợ Săn đứng ngủ.

Trong mơ, bà đang ở thành phố ngầm của Bangkok. Nơi này nửa giống mê cung, nửa giống rừng nhiệt đới, bởi vì vùng hoang dã của Thái Lan đã sớm bị sân bay, khách sạn và chợ búa thay thế, chỉ có thể rút lui vào sâu dưới lòng đất. Thế giới này tràn ngập mùi gia vị và xoài khô, còn có cả mùi xác thịt không mấy khó chịu. Thời tiết ẩm ướt nóng nực, mồ hôi trên người bà chảy không ngớt. Xung quanh tối tăm mờ mịt, chỉ có những cây nấm màu xám xanh tỏa ra ánh lân quang, đủ để đánh lừa thị giác, vừa đủ để mò mẫm tiến về phía trước.

Trong mơ, Thợ Săn đi qua những con đường ẩm ướt, chui qua những tán cây rậm rạp, dưới chân tĩnh lặng không tiếng động, tựa như một hồn ma bóng quế. Tay phải bà cầm chiếc lao đã được gia trọng, cẳng tay trái đeo một chiếc khiên da.

Trong mơ, bà có thể ngửi thấy mùi tanh nồng của con dã thú. Thợ Săn đi đến chân tường một ngôi nhà đá đổ nát rồi dừng lại chờ đợi, hòa mình vào bóng tối, biến thành một phần của đêm đen. Thợ Săn tin rằng, săn bắn cũng như cuộc đời, chủ yếu dựa vào sự chờ đợi. Nhưng trong giấc mơ này, bà không cần phải đợi. Thợ Săn vừa đến, dã thú đã chui ra từ bụi cây, khối lửa màu nâu trắng này, thân mình phập phồng, trông như con trăn quấn trong lớp lông ẩm ướt; một đôi mắt đỏ rực tỏa sáng, nhìn chằm chằm từ trong bóng tối; chỉ thấy răng như rừng kim, móng như kiếm sắc, rõ ràng là một con ác thú giết người không chớp mắt. Loài sinh vật này đã tuyệt chủng ở thế giới thượng tầng từ lâu, có quan hệ gần gũi với chồn và rái cá, tất nhiên điều này cũng giống như nói sói xám có quan hệ gần gũi với chó săn nhỏ vậy. Nó nặng ít nhất ba trăm cân; từ chóp mũi đến chóp đuôi, chiều dài hơn mười lăm thước.

Dã thú đi ngang qua trước mặt Thợ Săn. Bà phát ra một tiếng rít như rắn độc, bản năng nguyên thủy của dã thú trỗi dậy, lập tức đứng sững lại. Nó ngay lập tức lao tới, biến thành một khối răng nanh móng vuốt và lòng căm thù trần trụi. Trong mơ, bà chợt nhớ ra mình từng trải qua cảnh này. Lần đó, bà giơ khiên da nhét vào miệng dã thú, dùng chiếc lao nặng nề đập vỡ sọ nó, đồng thời cố gắng hết sức để không làm hỏng bộ lông của nó. Sau đó Thợ Săn đã tặng bộ da chồn khổng lồ này cho một cô gái mà bà thầm thương trộm nhớ, đối phương đã bày tỏ lòng biết ơn một cách rất mực thước.

Nhưng lần này, trong mơ, sự việc không diễn ra như vậy. Con chồn khổng lồ lại chìa một chân trước về phía bà, Thợ Săn vứt lao, đưa tay nắm lấy. Tại thời điểm đó, nơi chốn đó, trong thành phố ngầm của Bangkok, bà và nó khiêu vũ cùng nhau, nhảy những bước nhảy phức tạp không bao giờ dứt. Thợ Săn như thể hồn lìa khỏi xác, đứng ở góc độ người thứ ba quan sát, trầm trồ trước sự tao nhã trong từng cử động của họ. Đuôi, tứ chi, ngón tay, mắt và tóc đều quấn quýt xoay vần, bay lượn tứ phía, nhảy múa điên cuồng, cảm giác kỳ dị khó tả.

Thế giới thực truyền đến tiếng động nhỏ, là tiếng rên rỉ của Door. Thợ Săn nhanh chóng thoát khỏi giấc mơ, lại quay về trạng thái cảnh giác, đứng gác. Trong quá trình tỉnh dậy, bà đã quên sạch giấc mơ này.

Door mơ thấy cha mình.

Trong mơ, cha đang dạy cô cách mở mọi thứ. Ông cầm một quả cam, làm một cử động. Quả cam biến đổi, lộn ngược từ trong ra ngoài một cách mượt mà: phần thịt quả lộn ra ngoài, vỏ quả thì co lại vào trong lõi. "Con phải luôn giữ sự cân bằng," cha nói rồi bóc cho cô một múi cam đã lộn ngược. "Cân bằng, đối xứng, tô-pô học, đây sẽ là chủ đề chính của chúng ta trong vài tháng tới. Door, nhưng điều quan trọng nhất đối với con là phải hiểu một khái niệm: Vạn vật trên đời đều khao khát được mở ra. Con phải cảm nhận được nhu cầu đó, và tận dụng nó." Cha để mái tóc nâu dày, trên mặt treo nụ cười thoải mái, hệt như dáng vẻ của mười năm trước. Door vẫn nhớ thần thái của cha lúc đó, nhưng chuyện cũ này theo thời gian trôi đi, đã sớm trở nên mơ hồ.

Trong mơ, cha đưa cho cô một chiếc ổ khóa. Door nhận lấy thứ này, chợt phát hiện kích thước và hình dáng đôi bàn tay mình đều giống hệt bây giờ. Nhưng cô hiểu rất rõ, chuyện này thực ra đã xảy ra từ rất lâu rồi. Cô lấy ra những mảnh ký ức vụn vỡ, những cuộc đối thoại và những bài học từ mười mấy năm qua, nén lại thành một buổi học.

"Mở nó ra," cha nói.

Door cầm ổ khóa trong tay, cảm nhận chất liệu kim loại lạnh lẽo và sức nặng của nó. Có một chuyện làm cô bối rối, cần phải làm rõ ngay. Không lâu sau khi học đi, Door đã học được cách mở mọi thứ. Cô vẫn nhớ mẹ ôm chặt cô vào lòng, mở một cánh cửa từ phòng ngủ của Door thông sang phòng chơi. Cô cũng nhớ mình từng nhìn anh trai Dorrian tách một chuỗi vòng bạc ra, rồi lại xâu lại như cũ.

Door cố gắng mở ổ khóa. Cô dùng ngón tay sờ soạng qua lại, cũng dùng ý niệm tìm kiếm tỉ mỉ, nhưng ổ khóa không hề thay đổi. Cô ném ổ khóa xuống đất, bắt đầu bật khóc. Cha cúi người xuống, nhặt ổ khóa lên, đặt lại vào tay cô, rồi dùng ngón tay thon dài lau đi giọt nước mắt trên mặt cô.

"Nhớ kỹ, chiếc ổ khóa này muốn được mở ra," cha nói với cô, "điều con phải làm, chỉ là giúp nó thực hiện nguyện vọng đó thôi."

Chiếc ổ khóa nằm trong tay cô, trông có vẻ lạnh lẽo, lười biếng và nặng nề. Trong khoảnh khắc, lòng cô bừng tỉnh, liền để cho ổ khóa thỏa nguyện. Chỉ nghe tiếng "tách" giòn giã, ổ khóa đã mở. Cha mỉm cười.

"Mở được rồi," cô nói.

"Đứa con ngoan, tất cả bí mật của thuật khai mở chỉ có vậy thôi. Những thứ còn lại chẳng qua chỉ là tiểu tiết."

Door chợt nhận ra vấn đề khiến cô bối rối rốt cuộc là gì. "Cha," cô hỏi, "nhật ký của cha, ai đã thu xếp nó? Ai có thể giấu nó đi?" Nhưng cha đang dần dần đi xa, mà cô cũng bắt đầu quên lãng. Door hét lớn về phía cha, nhưng dường như ông không hề nghe thấy. Mặc dù cô gái mơ hồ nghe thấy giọng nói của ông từ xa vọng lại, nhưng lại không nghe ra cha rốt cuộc đang nói gì.

Trong thế giới thực, Door rên rỉ khẽ. Sau đó cô trở mình, dùng tay ôm lấy đầu, ngáy hai tiếng, rồi lại ngủ thiếp đi, tận hưởng giấc ngủ không mộng mị.

Richard biết nó đang đợi họ. Mỗi khi anh đi qua một đường hầm, mỗi khi rẽ qua một khúc cua, mỗi khi đi qua một ngã rẽ, cảm giác này lại càng thêm cấp bách nặng nề. Richard biết nó đang ở đó kiên nhẫn đợi chờ, mỗi bước tiến lên, linh cảm về tai họa sắp ập đến lại tăng thêm một phần. Richard hiểu trong lòng, đợi đến khi rẽ qua khúc cua cuối cùng, sẽ thấy nó đứng giữa lối đi chuẩn bị săn đuổi mình. Anh hiểu rất rõ, đến lúc đó đáng lẽ nên trút được gánh nặng mới phải, nhưng trong lòng lại chỉ có nỗi sợ hãi. Trong mơ, hình thể của con dã thú to lớn như cả thế giới, cả thế giới bị con quái thú này lấp đầy. Sườn nó tỏa ra hơi nóng, những mũi lao, thanh kiếm gãy cắm ngược trên lớp da dày, sừng và răng nanh dính đầy vết máu khô. Nó trông cường tráng béo tốt, to lớn vô song, bẩn thỉu tà ác.

Dã thú lao về phía anh.

Richard giơ tay lên (nhưng lại phát hiện đây không phải tay mình), ném lao về phía quái vật.

Anh có thể nhìn rõ đôi mắt của dã thú, sáng rực độc ác, đắc ý. Hai quả cầu ánh sáng lao về phía anh, khoảnh khắc thoáng qua này tựa như vĩnh hằng.

Nó đâm sầm vào rồi...

Nước rất lạnh, tạt vào mặt Richard, cảm giác như bị ai đó tát mạnh một cái. Anh giật mình, mở bừng mắt, hít một hơi thật mạnh. Thợ Săn đang nhìn xuống anh, tay cầm một chiếc thùng gỗ lớn trống rỗng. Anh cảm thấy tóc ướt sũng, mặt mũi ướt át, vội vàng đưa tay lau nước lạnh khỏi mắt, đồng thời rùng mình vì lạnh.

"Cô không cần phải làm thế," Richard nói xong câu này liền cảm thấy trong miệng hôi hám, dường như có vài con vật nhỏ đã coi đây là nhà vệ sinh. Anh cố gắng đứng dậy, nhưng lại ngã ngồi xuống đất, không nhịn được mà rên rỉ một tiếng.

"Đầu anh cảm thấy thế nào?" Thợ Săn hỏi một cách đầy kinh nghiệm.

"Đỡ hơn rồi."

Thợ Săn đi sang phía bên kia chuồng ngựa, xách một chiếc thùng gỗ khác chứa đầy nước, rồi quay lại. "Tôi không biết các người đã uống thứ gì," bà nói, "nhưng tửu lực chắc chắn rất mạnh." Thợ Săn nhúng tay vào thùng, bắn vài giọt nước lên mặt Door. Cô gái cử động mí mắt.

"Chẳng trách Atlantis lại chìm," Richard lầm bầm, "nếu mỗi buổi sáng họ đều có cảm giác này, thì thà chìm quách cho xong. Chúng ta đang ở đâu đây?"

Thợ Săn lại vẩy chút nước lạnh lên mặt Door. "Trong chuồng ngựa của một người bạn," bà nói.

Richard nhìn quanh, nơi này trông quả thực hơi giống chuồng ngựa. Anh bắt đầu suy nghĩ lung tung, đây là chuẩn bị cho ngựa sao? Nếu đúng là vậy, loại ngựa nào lại sống dưới lòng đất?

Trên tường vẽ một huy hiệu: bảy ngôi sao bao quanh một chữ S viết hoa (có lẽ là một con rắn? Richard không nhìn ra).

Door thử đưa tay lên trán, chạm nhẹ một cái, dường như không dám chắc mình sẽ phát hiện ra thứ gì. "Ồ," cô gần như rên rỉ nói, "Miếu đường và Cổng vòm. Mình chết rồi sao?"

"Chưa," Thợ Săn đáp.

"Thật đáng tiếc."

Thợ Săn đỡ cô gái dậy. "Được rồi," Door mơ màng nói, "ông ấy quả thực đã cảnh báo chúng ta là rượu này rất mạnh." Lời còn chưa dứt, cô đột nhiên tỉnh táo hoàn toàn, như thể bị gáo nước lạnh tạt thẳng vào đầu. Cô gái túm lấy vai Richard, hít vào một hơi lạnh, chỉ vào huy hiệu trên tường, tức là hình chữ S rắn bao quanh bởi bảy ngôi sao. "Lamia," cô nói với Richard và Thợ Săn, "đó là gia huy của Lamia. Richard, mau đứng dậy! Chúng ta phải mau chóng trốn thoát, trước khi bà ta phát hiện chúng ta ở đây..."

"Cô bé," một giọng nói khô khốc vang lên từ phía cửa, "cháu thực sự nghĩ rằng, các người có thể xông vào dinh thự của Lamia mà không bị bà ta biết sao?"

Door lùi lại hai bước, dựa sát vào vách gỗ của chuồng ngựa, thân mình run rẩy. Mặc dù thái dương vẫn giật liên hồi, nhưng Richard vẫn nhận ra anh chưa bao giờ thấy Door tỏ ra sợ hãi đến thế.

Lamia đứng ở cửa, mặc bộ đồ da trắng bó sát, chân đi đôi bốt da trắng cao cổ, phần còn lại trông có vẻ như đã từng là một chiếc váy cưới ren trắng tinh xảo từ rất lâu trước đây, nhưng giờ đã rách nát, đầy bùn đất. Lamia cao hơn cả ba người họ, mái tóc xám cọ vào khung cửa, ánh mắt sắc sảo, hai bờ môi mỏng trên gương mặt kiêu ngạo kia, giống như một vết nứt đáng sợ. Bà nhìn Door, dường như cho rằng nỗi sợ hãi này là điều đương nhiên, như thể bà đã quen với việc bị người ta sợ hãi, sớm đã không còn thấy lạ, thậm chí còn tận hưởng cảm giác đó.

"Bình tĩnh nào," Thợ Săn nói.

"Nhưng bà ta là Lamia," Door nói trong tiếng nức nở, "Lamia trong bảy chị em."

Lamia gật đầu đầy thân mật, rồi rời khỏi cửa, đi về phía họ. Một người phụ nữ gầy gò đứng sau lưng bà, từ đầu đến cuối im lặng không nói một lời. Cô ta vẻ mặt nghiêm nghị, tóc đen rất dài, mặc bộ váy đen, thắt lưng nhỏ nhắn tựa như eo ong. Lamia đi đến trước mặt Thợ Săn. "Thợ Săn đã từng làm việc cho tôi từ rất lâu rồi," bà nói rồi chìa những ngón tay trắng nõn ra, nhẹ nhàng vuốt ve đôi má nâu của Thợ Săn, đầy vẻ yêu chiều và khao khát. "Cô còn biết giữ gìn hơn cả tôi," Thợ Săn cúi đầu, "bạn của cô ấy chính là bạn của tôi, cô bé. Cháu là Door phải không?"

"Vâng ạ," Door miễn cưỡng nặn ra hai chữ này.

Lamia quay đầu nhìn về phía Richard, thờ ơ hỏi: "Còn anh là ai?"

"Richard."

"Ta là Lamia," bà nói một cách phong độ.

"Tôi có nghe nói rồi."

"Ta đã chuẩn bị đồ ăn cho tất cả các người," Lamia nói, "không biết các người có muốn dùng bữa sáng không?"

"Ồ, lạy Chúa, không cần đâu ạ," Richard khách khí nói, giọng như sắp khóc. Door im lặng không nói. Cô vẫn dựa vào vách gỗ, thân mình run rẩy như lá mùa thu. Thợ Săn đưa họ đến đây, rõ ràng là để làm nơi trú ẩn, nhưng sự thật này cũng không thể làm dịu đi nỗi sợ hãi của cô.

"Chuẩn bị những gì vậy?" Thợ Săn hỏi.

Lamia nhìn về phía người phụ nữ eo ong đứng ở cửa. "Ừm?" bà hỏi một tiếng. Người phụ nữ đó mỉm cười nhẹ, Richard chưa từng thấy nụ cười nào lạnh lẽo như vậy trên khuôn mặt con người. Cô ta nói: "Trứng rán, trứng muối, trứng chần, cà ri, thịt hươu, cá trích ngâm hành chua, cá trích hun khói, cá trích muối, món hầm nấm, cải xoăn thịt tươi, thạch chân bò..."

Richard há miệng, muốn xin cô ta đừng nói nữa, nhưng đã quá muộn. Anh đột nhiên cảm thấy bụng mình đảo lộn.

Richard hy vọng có ai đó có thể đỡ mình một tay, nói với anh rằng mọi chuyện sẽ ổn thôi, rất nhanh sẽ không sao nữa; hy vọng có ai đó có thể đưa anh một viên aspirin và một cốc nước, đưa anh lên giường. Nhưng sẽ không có ai làm vậy, giường của anh còn ở tận một thế giới khác. Anh dùng nước trong thùng rửa sạch vết bẩn trên mặt và tay, rồi súc miệng, lúc này mới loạng choạng đi theo bốn người phụ nữ kia để ăn sáng.

"Đưa thạch chân bò cho tôi," Thợ Săn nói khi miệng nhét đầy thức ăn, giọng không rõ ràng.

Phòng ăn của Lamia dường như được đặt trên sân ga tàu điện ngầm nhỏ nhất mà Richard từng thấy trong đời. Nơi này chỉ dài khoảng mười hai thước, phần lớn không gian đều bị một chiếc bàn ăn chiếm giữ. Trên bàn trải khăn trải bàn bằng gấm trắng, còn bày một bộ dao thìa dĩa bạc dùng cho bữa tối trang trọng. Trên bàn chất đầy những món ăn có mùi kỳ quái, trong đó món trứng cút là thứ khiến Richard khó chịu nhất.

Cơ thể anh lạnh lẽo, dính dớp. Nhãn cầu dường như bị đặt sai hốc, còn cảm giác từ hộp sọ mang lại, giống như có ai đó nhân lúc anh ngủ đã tráo đổi thứ này, thay bằng loại nhỏ hơn hai ba cỡ. Một chuyến tàu điện ngầm chạy qua cách họ vài thước, luồng gió mạnh mang theo vỗ vào bàn ăn, âm thanh dội lại xuyên qua hộp sọ Richard, như một lưỡi dao đỏ rực cắm vào não anh.

"Anh hùng của cô có vẻ không chịu nổi rượu," Lamia đánh giá một cách khách quan.

"Anh ấy không phải anh hùng của tôi," Door nói.

"E là đúng đấy. Cô phải học cách nhận diện loại người này, có lẽ là cảm giác trong ánh mắt." Bà quay đầu nói với người phụ nữ áo đen có lẽ là quản gia kia: "Lấy chút thuốc giải rượu cho vị tiên sinh này đi." Người đó lộ ra nụ cười lạnh lùng, rồi lặng lẽ rời đi.

Door ăn từng chút nấm. "Chúng cháu vô cùng cảm ơn sự tiếp đãi nồng hậu của bà, phu nhân Lamia."

Lamia hừ một tiếng không tán thành. "Gọi ta là Lamia thôi, cô bé. Ta không có thời gian để ý đến những kính ngữ và hư danh đó. Vậy, cô là con gái cả của Dorrian sao?"

"Đúng vậy."

Lamia dùng ngón tay chấm vào nước sốt muối, trong đó dường như ngâm vài con lươn nhỏ. Bà liếm ngón tay, gật đầu tán thưởng. "Ta cũng không có thời gian nghe cha cô nói nhảm. Toàn là những lời sáo rỗng về việc liên minh thế giới ngầm, nói dối không chớp mắt, ngu xuẩn không thể tả. Đồ ngốc, chỉ biết tự chuốc họa vào thân. Lần trước ta gặp cha cô đã nói với ông ấy rồi, nếu ông ấy còn dám đến đây, ta sẽ biến ông ấy thành thằn lằn." Bà quay đầu nhìn Door, "Nhắc mới nhớ, cha cô thế nào rồi?"

"Ông ấy chết rồi."

Lamia tỏ vẻ quả nhiên là vậy. "Thấy chưa? Ta nói tuyệt đối không sai." Door im lặng không nói. Lamia nhặt một thứ gì đó đang động đậy trong mái tóc xám ra, nhìn kỹ một cái, rồi dùng ngón trỏ và ngón cái bóp chết, ném xuống sân ga. Bà lại quay đầu nhìn Thợ Săn. "Cô đến để săn bắn à?"

Thợ Săn đang tiêu diệt một đĩa cá trích muối chất cao như núi. Bà ngậm đầy thức ăn trong miệng, gật đầu.

"Cô chắc chắn cần chiếc lao đó."

Người phụ nữ eo ong xuất hiện bên cạnh Richard, tay bưng khay nhỏ, trên đĩa có một chiếc ly thủy tinh nhỏ, trong ly đựng thứ chất lỏng màu xanh lục rực rỡ đến mức đáng kinh ngạc. Richard liếc nhìn một cái, rồi nhìn Door.

"Cô đưa thứ gì cho anh ấy vậy?" cô gái hỏi.

"Sẽ không hại anh ta đâu," Lamia cười lạnh lẽo, "các người là khách."

Richard uống cạn chất lỏng màu xanh, vị này dường như pha trộn giữa cỏ xạ hương, tinh dầu bạc hà và ánh nắng mùa đông. Anh cảm thấy chất lỏng chạy dọc ruột gan, vội vàng chuẩn bị tâm lý để đề phòng nôn mửa. Nhưng anh hít sâu một hơi, hơi ngạc nhiên phát hiện đầu không còn đau nữa, bụng lại đói cồn cào.

Về bản chất, Old Bailey không phải là loại người trời sinh đã đầy rẫy những câu chuyện cười. Nhưng mặc dù khiếm khuyết bẩm sinh, ông vẫn kiên trì luyện tập. Ông thích nhất là kể những câu chuyện hoang đường dài lê thê, mỗi lần đều dùng một cách chơi chữ thảm hại để làm điểm nhấn. Nhưng vấn đề là, mỗi khi Old Bailey kể đến cuối, lại quên mất từ đó rốt cuộc là gì. Khán giả duy nhất của ông là một nhóm chim chóc không thể thoát thân. Chúng, đặc biệt là lũ quạ, coi những câu chuyện cười của ông lão là những ngụ ngôn tối nghĩa đầy triết lý, chứa đựng cái nhìn sâu sắc và kiến giải về bản chất con người. Chúng thậm chí còn thỉnh thoảng yêu cầu Old Bailey kể thêm một câu chuyện thú vị nữa.

"Được rồi, được rồi, được rồi," Old Bailey bắt đầu kể, "nếu các người đã nghe qua cái này rồi, thì mau ngắt lời ta đi. Chuyện là có một người đàn ông đi vào quán bar. Không đúng, nó không phải người. Đây là một câu chuyện cười. Nó là một con ngựa. Một con ngựa... không đúng... một sợi dây. Ba sợi dây. Đúng rồi. Ba sợi dây đi vào ngân hàng."

Một con quạ mỏ trắng to xác kêu "quạ quạ" hai tiếng. Old Bailey xoa cằm, nhún nhún vai. "Chúng chỉ đơn giản là đi vào thôi. Đây là một câu đùa. Trong chuyện đùa thì sợi dây có thể vào ngân hàng. Nó đi tới quầy, yêu cầu làm thủ tục rút tiền. Nhân viên ngân hàng nói với sợi dây đang đòi rút tiền rằng: 'Chúng tôi không tiếp sợi dây ở đây.' Nó đành phải quay lại nói với bạn bè: 'Họ không tiếp sợi dây.' Phải biết đây là chuyện đùa, nên sợi dây ở giữa cũng thử một lần, nhớ chứ, chúng có tổng cộng ba sợi. Đến lượt sợi dây cuối cùng, nó tự thắt một cái nút ở giữa, rồi lên xin tiền. Nhân viên ngân hàng nói: 'Này, chẳng phải ngươi là một trong số những sợi dây đó sao?' Còn sợi dây kia, nó đáp: 'Không, ta là nút thắt (đả kết).' Đả kiếp (cướp bóc), hiểu chứ, đả kết. Chơi chữ ấy mà. Rất, rất thú vị."

Những con sáo kêu hai tiếng lịch sự. Những con quạ mỏ trắng thì gật đầu, nghiêng đầu sang một bên. Sau đó con quạ mỏ trắng già nhất lại kêu "quạ quạ" với Old Bailey. "Kể thêm một câu nữa ư? Này, ta đâu phải túi đựng chuyện đùa. Để ta nghĩ xem nào..."

Trong lều đột nhiên phát ra một chuỗi âm thanh trầm đục có nhịp điệu, tựa như tiếng tim đập vang vọng từ phương xa. Old Bailey bước nhanh vào trong lều, âm thanh truyền ra từ một chiếc hòm gỗ cũ, nơi chứa những món đồ quý giá nhất của ông. Ông mở hòm ra, tiếng đập mạch càng trở nên rõ rệt. Chiếc hộp bạc nhỏ nằm ngay trên những báu vật của ông lão. Ông đưa bàn tay thô ráp gầy guộc ra, cầm lấy chiếc hộp. Một tia sáng đỏ nhấp nháy theo quy luật bên trong đó, giống như nhịp tim, xuyên qua những hoa văn dây bạc, khe hở và ổ khóa mà tỏa ra. "Cậu ta gặp rắc rối rồi." Old Bailey nói.

Con quạ mỏ trắng già nhất kêu "quạ quạ" đặt một câu hỏi. "Không, đây không phải chuyện đùa. Là Marquis," Old Bailey nói, "Cậu ta đang gặp rắc rối lớn rồi."

Richard đang cắm cúi ăn đĩa điểm tâm thứ hai, thì Lamia đột nhiên đẩy ghế của mình ra sau.

"Ta nghĩ mình đã làm tròn bổn phận của chủ nhà rồi. Nhóc con, người trẻ tuổi, chúc các ngươi một ngày tốt lành. Hunter..." Bà dừng lại, duỗi một ngón tay gầy guộc như móng vuốt, vuốt ve cằm Hunter. "Nơi này luôn chào đón ngươi." Bà gật đầu đầy ngạo mạn với mọi người, đứng dậy bước ra khỏi phòng, người quản gia có vòng eo con ong kia cũng đi theo sau.

"Chúng ta phải đi thôi." Hunter nói rồi đứng dậy khỏi bàn, Door và Richard đành miễn cưỡng đi theo sau bà.

Họ đi qua một hành lang hẹp đến mức không thể đi song song, leo lên vài bậc thang đá, rồi đi xuyên qua một cây cầu sắt trong bóng tối. Khi băng qua cầu, họ còn nghe thấy một đoàn tàu điện ngầm lao vút qua bên dưới. Ba người sau đó tiến vào một mạng lưới hầm ngầm dường như vô tận, nơi này tỏa ra mùi ẩm mốc, cùng với hơi thở của gạch đá và năm tháng. "Bà ta là chủ cũ của cô à? Có vẻ cũng khá tốt bụng." Richard nói với Hunter, nhưng đối phương không thèm để ý đến anh.

Door vốn luôn giữ sự chừng mực bỗng nhiên lên tiếng: "Ở thế giới bên dưới, nếu người lớn muốn trẻ con không nghịch ngợm, họ sẽ nói với chúng: 'Ngoan ngoãn nghe lời, nếu không Lamia sẽ tới bắt ngươi đi đấy'."

"Ồ," Richard nói, "Cô từng làm việc cho bà ta sao, Hunter?"

"Ta từng làm việc cho cả bảy chị em."

"Tôi cứ tưởng ít nhất là, ồ, ba mươi năm rồi họ không nói chuyện với nhau chứ." Door nói.

"Rất có thể. Nhưng hồi đó họ vẫn còn giao tiếp."

"Rốt cuộc cô bao nhiêu tuổi?" Door hỏi. Richard rất vui vì cô bé đã đặt câu hỏi này, anh thì không bao giờ có lá gan đó.

"Bằng tuổi cái lưỡi của ta," Hunter nghiêm nghị nói, "Già hơn răng của ta một chút."

"Dù sao đi nữa," Richard vô tư nói, cứ như thể đã giải tỏa cơn say, cảm thấy cuộc sống tươi đẹp vô hạn, "Chẳng phải như vậy là tốt lắm sao? Đồ ăn ngon lành, cũng chẳng có ai muốn giết chúng ta."

"Ta dám cá là theo thời gian, tình hình này sẽ thay đổi," Hunter khẳng định, "Đi đường nào để tìm Black Friars đây, tiểu thư?"

Door dừng bước, tập trung tinh thần. "Chúng ta đi theo đường sông, phía bên này."

"Hắn vẫn chưa tỉnh lại sao?" Croup hỏi.

Vandemar dùng ngón trỏ dài ngoằng chọc chọc vào cơ thể mềm nhũn của Marquis. Hơi thở của cậu rất yếu và nông. "Vẫn chưa, ông Croup. Tôi e là tôi đã làm hỏng hắn rồi."

"Ngươi phải hết sức cẩn thận với đồ chơi của chính mình đấy, ông Vandemar." Croup nói.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »