Nhà Băng

Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Sáu

❊ ❊ ❊

"Roscoe, người anh em của tôi," Ngài Harold Austin nói trong điện thoại, giọng điệu đầy vẻ đắc ý. "Tôi vừa nói chuyện với Big Joe xong. Ông ấy mời cả tôi và anh cùng đến Bahamas chơi golf vào thứ Sáu tuần tới."

Roscoe Hayward bĩu môi, không biết nên trả lời thế nào cho phải. Đây là chiều thứ Bảy của tháng Ba, ông đang ở nhà, trong thư phòng tại tư gia ở Shake Hill. Trước khi nhận cuộc gọi, ông đang bận rộn xem xét một cặp đầy các báo cáo tài chính, xung quanh ghế bành bọc da cũng la liệt giấy tờ hóa đơn.

"Gấp gáp quá, tôi không chắc mình có thể thu xếp công việc để đi xa như vậy được hay không," ông nói với Ngài Harold. "Chúng ta gặp nhau ở New York có được không?"

"Đương nhiên là được. Nhưng bỏ lỡ cơ hội này thì đúng là kẻ ngốc, vì Big Joe thích Nassau hơn; hơn nữa ông ấy lại thích bàn chuyện làm ăn trên sân golf – nhất là những thương vụ khổng lồ mà chính tay ông ấy đích thân đàm phán như thế này."

Cả hai không cần phải nói rõ "Big Joe" này là ai. Trong giới kinh doanh, ngân hàng hay xã hội thượng lưu, hiếm có ai cảm thấy cần phải làm rõ điều đó.

G.G. Quartermain, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc của tập đoàn đa quốc gia – gọi tắt là "Sunoco" – là một gã khổng lồ vạm vỡ, một nhân vật hô mưa gọi gió, nắm trong tay quyền lực vượt xa nhiều nguyên thủ quốc gia, và cách ông ta thực thi quyền lực cũng chẳng kém cạnh gì một vị quân vương. Thế lực và tầm ảnh hưởng của ông ta, cũng giống như tập đoàn khổng lồ luôn răm rắp nghe lệnh kia, lan tỏa khắp toàn cầu. Trong và ngoài Sunoco, thái độ của mọi người dành cho ông ta đủ cả, kẻ thì sùng bái, người thì nghiến răng căm hận, kẻ thì nịnh bợ, người thì sợ như sợ cọp.

Sự lợi hại của con người này chỉ cần nhìn vào quá khứ là hiểu rõ. Tám năm trước, tập đoàn đa quốc gia này lỗ lã chồng chất, nợ nần ngập đầu, dựa vào tài năng quản lý tài chính xuất chúng trước đó, G.G. Quartermain được mời về để xoay chuyển tình thế. Từ đó đến nay, ông ta không những khôi phục được tài sản của công ty mà còn mở rộng thực lực đáng kể, biến nó thành một tập đoàn liên hợp có quy mô kinh ngạc. Vốn cổ phần đã được chia tách ba lần, cổ tức tăng gấp ba. Các cổ đông nhờ Big Joe mà phát tài, họ khâm phục ông ta sát đất và trao cho ông ta toàn quyền quyết định. Tuy cũng có vài kẻ như Cassandra không phục, cho rằng ông ta xây dựng nên một đế chế bằng giấy, nhưng các báo cáo tài chính của Sunoco và các công ty con – những tờ giấy mà Roscoe Hayward đang chăm chú nghiên cứu khi Ngài Harold gọi điện đến – đã phản bác lại những lời đàm tiếu thiếu hiểu biết đó một cách đanh thép.

Vị chủ tịch Sunoco này, Hayward từng có vinh dự gặp mặt hai lần: một lần là tình cờ chạm mặt giữa đám đông; lần kia là trong một phòng suite tại khách sạn ở Washington, lúc đó Ngài Harold Austin cũng có mặt.

Lần gặp ở Washington đó, Ngài Harold đang báo cáo với Quartermain về việc mình thực hiện một nhiệm vụ nào đó cho tập đoàn. Hayward không biết nhiệm vụ đó là gì, khi ông bước vào thì cuộc trò chuyện của hai người đã gần kết thúc, nên chỉ nghe loáng thoáng việc đó có liên quan đến chính phủ.

Công ty chưng cất Hepplewhite – một công ty con khá lớn của Sunoco – giao toàn bộ mảng quảng cáo trên phạm vi toàn quốc cho công ty quảng cáo Austin đảm nhiệm, nhưng mối quan hệ cá nhân giữa Ngài Harold và G.G. Quartermain xem ra không chỉ dừng lại ở đó.

Dù nội dung báo cáo là gì, Big Joe có vẻ rất hài lòng. Khi được giới thiệu làm quen với Hayward, ông ta nói: "Harold nói anh là một giám đốc trong ngân hàng nhỏ bé của các anh, hai người đều muốn chia một phần lợi nhuận từ chỗ chúng tôi. Ừm, vài hôm nữa chúng tôi sẽ cân nhắc."

Gã đầu sỏ của tập đoàn đa quốc gia vỗ vai Hayward rồi chuyển sang chủ đề khác.

Chính cuộc trò chuyện đó với G.G. Quartermain ở Washington đã thúc đẩy ông vào giữa tháng Một, tức là hai tháng trước, tiết lộ với Ủy ban chính sách đầu tư của FMA rằng rất có khả năng sẽ thiết lập quan hệ làm ăn với Sunoco. Sau đó, ông nhận ra mình đã quá vội vàng. Bây giờ chuyện cũ nhắc lại, xem ra có hy vọng rồi.

"Được thôi," Hayward đồng ý qua điện thoại, "có lẽ tôi có thể thu xếp đi một hai ngày vào thứ Năm tuần tới."

"Thế mới phải chứ," ông nghe thấy Ngài Harold nói. "Dù anh có sắp xếp gì khác đi chăng nữa, thì cũng chẳng có việc gì quan trọng hơn, liên quan đến lợi ích thiết thân của ngân hàng hơn việc này đâu! À, còn một điểm nữa tôi quên chưa nói – đến lúc đó, Big Joe sẽ phái chuyên cơ riêng đến đón chúng ta."

Tinh thần Hayward không khỏi phấn chấn. "Thật sao? Là loại chuyên cơ lớn để đi lại nhanh chóng à?"

"Là một chiếc 707. Tôi nghĩ anh nghe xong sẽ hài lòng thôi." Harold cười khúc khích. "Quyết định vậy nhé, chúng ta cất cánh từ đây vào trưa thứ Năm, ở lại Bahamas cả ngày thứ Sáu, thứ Bảy quay về. Tiện hỏi luôn, nhìn vào báo cáo tài chính gần nhất của Sunoco, tình hình thế nào?"

"Tôi đang nghiên cứu đây." Hayward liếc nhìn đống báo cáo và tài liệu nằm ngổn ngang quanh ghế. "Cơ thể của khách hàng xem ra vẫn ổn, thực sự là rất cường tráng đấy!"

"Anh nói vậy thì tôi yên tâm rồi," Austin nói.

Hayward gác máy, khóe miệng không kìm được nở một nụ cười tinh quái. Chuyến đi sắp tới, mục đích của chuyến đi, và việc được bay đến Bahamas bằng chuyên cơ riêng, tất cả những điều này, nếu tuần tới trong lúc trà dư tửu hậu mà tình cờ nhắc đến một cách vô tình, chẳng phải rất sảng khoái sao. Hơn nữa, nếu chuyến đi này thực sự đạt được kết quả, địa vị của ông trong mắt hội đồng quản trị chắc chắn sẽ tăng vọt – ông không quên rằng, Jerome Patton chỉ là người tạm thời được kéo vào làm Chủ tịch FMA; những ngày này, mắt ông ta luôn dán chặt vào chiếc ghế đó.

Việc có thể kịp bay về vào thứ Bảy tuần sau cũng khiến ông hài lòng. Nghĩa là ông không phải bỏ lỡ cơ hội xuất hiện tại nhà nguyện. Ông là một trong những người dẫn lễ không thuộc hàng giáo sĩ tại Nhà nguyện St. Athanasius, mỗi ngày Chủ nhật ông đều đọc bài giảng một cách rõ ràng và trang nghiêm cho các giáo dân.

Nghĩ đến đây, ông nhớ ra ngày mai còn phải đọc kinh. Ông định ôn lại kinh văn trước như mọi khi. Ông tiện tay lấy từ giá sách ra một cuốn Kinh Thánh gia đình dày cộp, lật đến trang đã bị bong ra khỏi gáy. Trang này thuộc "Sách Châm Ngôn", trong đoạn kinh văn cần đọc ngày mai, có một câu thơ mà Hayward thích nhất: "Sự công chính làm quốc gia cao trọng, tội lỗi là nỗi nhục của dân tộc."

Chuyến đi Bahamas đã mở mang tầm mắt cho Roscoe Hayward.

Ông không phải là không biết gì về cuộc sống xa hoa trụy lạc của giới thượng lưu. Cũng như hầu hết các chủ ngân hàng lâu năm, ông thường xuyên ra vào các chốn giao thiệp. Những khách hàng và đại gia mà ông quen biết bình thường, để tìm vui, theo đuổi cuộc sống xa hoa như vương tôn công tử, tiêu tiền như nước, thậm chí không tiếc vung tay quá trán. Nhìn họ có thể phung phí như vậy, ông không khỏi có chút ghen tị.

Nhưng so với G.G. Quartermain, những đại gia đó đều trở nên lu mờ.

Chiếc máy bay phản lực 707 hạ cánh xuống sân bay quốc tế của thành phố không sai một giây. Chỉ cần nhìn chữ "Q" to đùng được sơn trên thân và đuôi máy bay là có thể nhận ra ngay. Nó từ từ trượt về phía phòng chờ VIP. Ngài Harold và Hayward bước ra khỏi chiếc xe sân bay đưa họ từ trung tâm thành phố đến đây, rồi nhanh chóng bước lên máy bay từ cửa sau.

Họ được bốn người chào đón trong một hành lang giống như sảnh khách sạn nhỏ. Một trong số đó là người đàn ông trung niên, tóc đã bắt đầu điểm bạc, thái độ cung kính nhưng đầy vẻ uy nghiêm, cho thấy thân phận là một quản gia. Ba người còn lại là các cô gái trẻ.

"Chào mừng các ngài lên máy bay," người quản gia nói. Hayward gật đầu, nhưng không bận tâm đến người đàn ông này, sự chú ý của ông hoàn toàn bị ba người phụ nữ kia thu hút. Họ đều là những cô gái ngoài đôi mươi, xinh đẹp đến mức hút hồn, ai nấy đều tươi cười rạng rỡ. Roscoe Hayward chợt nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: đám người dưới quyền Quartermain chắc hẳn đã gom hết những nữ tiếp viên hàng không xinh đẹp nhất của ba hãng hàng không toàn cầu, liên hiệp và Mỹ, rồi như vớt kem trên mặt sữa đặc nhất mà chọn ra ba mỹ nhân này. Một cô có mái tóc vàng óng như mật ong, một cô là người phụ nữ tóc đen mắt nâu đầy quyến rũ, cô thứ ba thì có mái tóc đỏ rực. Cả ba đều có vóc dáng thanh mảnh, eo thon, làn da rám nắng, vô cùng khỏe khoắn. Làn da ngăm đen tương phản với bộ đồng phục vải chéo sáng màu thời thượng nhưng hơi ngắn trên người.

Bộ đồng phục của người quản gia cũng được may bằng cùng loại vải thượng hạng đó. Trên túi áo ngực trái của cả bốn người đều thêu một chữ "Q" đồng nhất.

"Chào ông Hayward," cô gái tóc đỏ nói. Giọng cô ngọt ngào, mềm mại mang theo vài phần ma mị. Cô nói tiếp: "Tôi tên là Avril. Mời đi lối này, tôi dẫn ông đến phòng của mình."

Hayward đi theo sau cô, cảm thấy hơi ngạc nhiên trước cách gọi là "phòng"; cùng lúc đó, Ngài Harold đang được cô gái tóc vàng chăm sóc.

Avril với phong thái duyên dáng dẫn Hayward đi dọc theo hành lang. Hành lang này có một đoạn nằm ngay sát một bên máy bay, song song với thân máy bay. Đối diện hành lang có vài cánh cửa.

Cô quay đầu lại nói với ông: "Ông Quartermain đang xông hơi và mát-xa. Lát nữa ông ấy sẽ lên phòng nghỉ để tiếp ông."

"Xông hơi? Ngay trên máy bay này sao?"

"Ồ, đúng vậy. Ngay sau buồng lái. Ngoài ra, trên máy bay còn có một phòng xông hơi nữa. Ông Quartermain đi đâu cũng thích xông hơi, hoặc là kiểu Phần Lan, hoặc là kiểu Nga. Ông ấy luôn mang theo nhân viên mát-xa riêng của mình." Avril nở một nụ cười mê hồn. "Nếu ông cũng muốn tắm rửa, mát-xa một chút thì trong chuyến đi có đầy đủ thời gian. Tôi rất sẵn lòng sắp xếp giúp ông."

"Cảm ơn cô, không cần đâu."

Cô gái dừng lại trước một cánh cửa. "Đây là phòng của ông, ông Hayward." Ngay lúc cô vừa dứt lời, máy bay đột ngột chuyển động, bắt đầu lăn bánh, Hayward không kịp đề phòng, loạng choạng về phía trước.

"Ôi," Avril vội đưa tay ra, đỡ lấy ông. Trong khoảnh khắc, hai người sát lại gần nhau. Những ngón tay thon dài, bộ móng tay màu cam nâu bóng loáng, cái chạm nhẹ mà mạnh mẽ, mùi hương phảng phất thấm vào lòng người, ông đều cảm nhận được.

Bàn tay cô nắm lấy cánh tay ông vẫn không buông. "Máy bay sắp cất cánh rồi, tốt nhất để tôi thắt dây an toàn cho ông. Động tác cất cánh của cơ trưởng luôn rất mạnh. Ông Quartermain không thích lề mề ở sân bay."

Ông cũng chẳng kịp nhìn kỹ, chỉ cảm thấy cô gái dẫn mình vào một phòng khách nhỏ xa hoa; ông ngồi xuống chiếc ghế dựa dài mềm mại, êm ái, còn những ngón tay thon mảnh mà ông vừa để ý tới thì đang thành thạo thắt dây an toàn quanh eo ông. Thậm chí qua một lớp dây đai, ông vẫn có thể cảm nhận được sự di chuyển của những ngón tay đó.

Điều này cũng mang lại một cảm giác rất lạ.

"Cẩn thận!" Lúc này máy bay tăng tốc. Avril nói: "Nếu ông không phiền, tôi sẽ ở lại đây, đợi máy bay lên cao rồi mới đi."

Cô ngồi xuống bên cạnh ông trên chiếc ghế dài, tự thắt dây an toàn cho mình.

"Sao lại phiền được," Roscoe Hayward nói. Ông như rơi vào sương mù, ngơ ngác không biết làm sao. "Tôi không phiền chút nào cả."

Ông đưa mắt nhìn quanh, lần này cuối cùng cũng nhìn kỹ. Phòng nghỉ hay cabin như thế này là điều ông chưa từng thấy trên các máy bay khác. Từ góc độ thiết kế, căn phòng này tận dụng tối đa không gian trống trên máy bay và trang trí nó vô cùng xa hoa. Ba mặt tường đều ốp gỗ teak, bên trên còn chạm khắc hoa văn chữ "Q" trang trí bằng lá vàng. Bức tường thứ tư gần như bị chiếm trọn bởi một tấm gương lớn, thiết kế khéo léo này khiến toàn bộ căn phòng trông lớn hơn diện tích thực tế. Trên bức tường bên trái ông có một chỗ lõm, bên trong bố trí một văn phòng nhỏ, ngoài bàn điện thoại còn có một máy teletype được che bằng vỏ thủy tinh. Cách bàn làm việc không xa là một quầy bar nhỏ, chuẩn bị sẵn đủ loại rượu. Trên bức tường gương đối diện Hayward và Avril có lắp một màn hình tivi, hai hàng nút điều khiển cùng chức năng được lắp đặt hai bên ghế dài, trong tầm với. Cánh cửa xếp phía sau có lẽ dẫn đến phòng tắm.

"Ông có muốn xem cảnh chúng ta cất cánh không?" Avril hỏi. Không đợi Hayward trả lời, cô tiện tay chạm vào nút điều khiển tivi bên cạnh. Một hình ảnh màu sắc rõ nét hiện ra trước mắt. Rõ ràng là đã lắp một chiếc camera ở đầu máy bay. Từ màn hình tivi, họ có thể thấy đường lăn nối với đường băng rộng lớn, và khi máy bay chuyển hướng vào đường băng, toàn cảnh đường băng hiện ra trước mắt. Máy bay không chút do dự lao thẳng về phía trước, cùng lúc đó, đường băng bắt đầu trôi nhanh dưới chân họ. Chiếc máy bay khổng lồ dần rời mặt đất, đoạn đường băng còn lại theo đó mà nghiêng xuống dưới. Máy bay cất cánh. Một cảm giác bay bổng dâng trào trong lòng Roscoe Hayward, điều này không hoàn toàn là do hình ảnh trên tivi. Bây giờ trước mắt chỉ thấy một vùng trời xanh mây trắng, Avril liền nhấn nút tắt tivi.

"Nếu cần, cũng có thể xem các chương trình tivi kênh thông thường." Nói xong, cô lại chỉ vào chiếc máy teletype. "Từ đó có thể kết nối với dịch vụ Dow Jones, UPI, AP hoặc bưu điện, chỉ cần gọi một cuộc điện thoại thông báo cho buồng lái, họ sẽ nhập những gì ông nói vào máy điện báo một cách nguyên văn."

Hayward thận trọng bày tỏ cảm nhận của mình: "Tất cả những thứ này trước đây chưa từng thấy, có chút mới mẻ."

"Tôi biết. Đôi khi đúng là có thể mang lại ấn tượng như vậy, nhưng lạ thay, ai cũng thích nghi rất nhanh." Lại là ánh mắt nhìn thẳng đó, nụ cười ngọt ngào khiến người ta mê mẩn. "Chúng tôi có tổng cộng bốn cabin riêng như thế này, không tốn chút sức nào có thể biến nó thành phòng ngủ, chỉ cần nhấn vài nút điện tử là được. Nếu ông muốn thử, tôi có thể dạy ông."

Ông lắc đầu. "Bây giờ xem ra chưa cần thiết."

"Tùy ý ông thôi, ông Hayward."

Cô tháo dây an toàn, đứng dậy. "Nếu ông muốn tìm ông Austin, ông ấy ở cabin ngay phía sau đây. Phía trước là phòng nghỉ chính, sau khi ông thu xếp xong thì cứ qua đó ngồi chơi. Qua phòng nghỉ chính là nhà hàng và văn phòng, phía trước nữa là phòng suite dành riêng cho ông Quartermain."

"Cảm ơn cô đã giới thiệu bố cục trên máy bay cho tôi." Hayward tháo cặp kính không gọng, lấy khăn tay ra định lau sạch.

"Ồ, để tôi làm cho!" Avril lịch sự nhưng không cho phép từ chối, lấy cặp kính từ tay ông, rút trong túi ra một chiếc khăn lụa lau chùi, sau đó tiện tay đeo lại cho ông, để những ngón tay mình lướt nhẹ qua chân tai ông. Hayward cảm thấy mình nên tỏ ý không tán thành sự ân cần này, nhưng kết quả lại mặc nhiên chấp nhận.

"Nhiệm vụ của tôi trong chuyến đi này, ông Hayward, là chuyên phục vụ ông, và đảm bảo mọi việc ông đều hài lòng."

Ông không biết là do mình suy nghĩ lung tung, hay cô gái này cố ý nhấn mạnh vào từ "mọi việc"? Ông chợt nhắc nhở bản thân, tốt nhất không nên là đối phương cố ý trêu chọc. Nếu không, ngụ ý này chẳng phải quá mức không đứng đắn sao?

"Còn hai việc nữa," Avril nói. Mỹ nhân thanh mảnh này đã đến cửa, chuẩn bị rời đi. "Nếu có việc cần sai bảo tôi, bất kể là việc gì, xin ông nhấn nút số bảy trên điện thoại."

Hayward đáp lại bằng giọng khàn khàn: "Cảm ơn cô, tiểu thư, e rằng tôi chưa chắc đã làm thế đâu!"

Cô có vẻ chẳng hề bận tâm. "Việc khác là trên đường bay đến Bahamas, chúng ta sẽ dừng lại ở Washington một lát, Phó Tổng thống sẽ lên máy bay của chúng ta ở đó."

"Phó Tổng giám đốc tập đoàn đa quốc gia?"

Trong mắt cô lộ ra vẻ chế giễu. "Không, đồ ngốc! Là Phó Tổng thống của Mỹ."

Mười lăm phút sau, Big Joe Quartermain lớn tiếng hỏi Roscoe Hayward: "Này, lạy Chúa! Anh đang uống cái thứ quái quỷ gì thế? Sữa mẹ của mẹ anh à?"

"Là nước chanh." Hayward nâng ly thủy tinh lên, ngắm nghía chất lỏng nhạt nhẽo trong ly. "Thứ này tôi khá thích."

Chủ tịch tập đoàn đa quốc gia nhún đôi vai rộng của mình. "Mỗi người có một sở thích. Cô gái phục vụ hai người thế nào?"

"Bản thân tôi cho rằng không chê vào đâu được," Ngài Harold Austin cười khúc khích. Ông cũng như những người có mặt ở đó, nằm thoải mái trên chiếc ghế trong phòng nghỉ chính được bài trí xa hoa trên chiếc chuyên cơ 707, cô gái tóc vàng – giờ đã biết tên là Rita – đang cuộn mình ngồi trên tấm thảm dưới chân ông.

Avril nũng nịu nói: "Chúng tôi đang dốc hết sức mình đấy!" Cô đứng sau ghế của Hayward, để một bàn tay lướt nhẹ trên lưng ông. Ông cảm nhận được những ngón tay cô chạm vào cổ mình, lưu lại đó một lát, rồi lại vuốt xuống dưới.

G.G. Quartermain đã vào phòng nghỉ vài phút trước, mặc một chiếc áo choàng tắm bằng khăn bông màu đỏ tía rực rỡ, viền trắng trên áo choàng thêu đầy hoa văn chữ "Q" có mặt ở khắp mọi nơi như thường lệ. Ông ta giống như một nghị sĩ Viện Nguyên lão La Mã, được tùy tùng phục vụ bên cạnh – một người là gã đàn ông mặt mày khó coi, không nói một lời, mặc bộ đồ thể thao màu trắng, chắc hẳn là nhân viên mát-xa; người kia cũng là nữ tiếp viên hàng không, một cô gái Nhật Bản có dung mạo non nớt, mặc bộ đồng phục vải chéo chỉnh tề. Nhân viên mát-xa và cô gái Nhật Bản chăm sóc Big Joe ngồi vào chiếc ghế lớn trông rõ ràng là dành riêng cho ông ta. Tiếp đó, nhân vật thứ ba – người quản gia xuất hiện ngay từ đầu – như làm ảo thuật bưng ra một ly Martini ướp lạnh, nhẹ nhàng đưa vào bàn tay đang mở ra của G.G. Quartermain.

So với hai lần gặp trước, lần này Hayward càng cảm thấy dùng "Big Joe" để gọi người này là thích hợp nhất. Về thể chất, vị chủ nhà này là một gã khổng lồ, chiều cao ít nhất là sáu feet rưỡi, nhìn vào ngực, cánh tay và thân hình của ông ta, cứ như một thợ rèn ở nông thôn. Đầu ông ta to hơn người thường một nửa, ngũ quan thô kệch cũng tương xứng với cái đầu: một đôi mắt hổ lồi ra, xoay qua xoay lại, ánh mắt sắc sảo linh hoạt khiến người ta khó dò; một cái miệng rộng, mạnh mẽ, giống như huấn luyện viên quân sự trong Thủy quân lục chiến thường ra lệnh, chỉ khác là ông ta ra lệnh trong những vấn đề quan trọng hơn nhiều. Còn một đặc điểm nữa, người ngoài cũng có thể nhận ra ngay, đó là nét mặt thay đổi thất thường của con người này, lúc này còn đang cười ha hả, chớp mắt một cái đã có thể lộ ra vẻ giận dữ uy nghiêm.

Ông ta cường tráng, nhưng không thô lỗ, cũng không có dấu hiệu béo phì, cơ bắp lỏng lẻo. Qua lớp áo choàng tắm quấn trên người, cơ bắp căng tròn ẩn hiện. Hayward còn nhận thấy, trên mặt Big Joe không có lớp mỡ thừa, chiếc cằm chắc nịch cũng không thấy thịt thừa chồng chất, bụng trông cũng rất săn chắc, cơ bắp căng cứng.

Về các khía cạnh khác, những xúc tu vươn tới mọi nơi trong giới doanh nghiệp của người này, sự thèm khát nuốt chửng kẻ yếu, đó là những tin tức báo chí kinh doanh đưa tin hàng ngày. Còn phong cách sống của ông ta trên chiếc chuyên cơ trị giá mười hai triệu đô la này, quả thực là xa hoa đến cực điểm.

Nhân viên mát-xa và quản gia lặng lẽ lui ra. Tiếp theo là sự xuất hiện của đầu bếp. Người này hình dáng gầy như chiếc bút chì, trên khuôn mặt tái nhợt mang theo vài phần u sầu, mặc bộ đồ bếp trắng tinh, đội chiếc mũ đầu bếp cao vút, chóp mũ suýt chạm trần cabin. Hayward thầm thắc mắc, không biết người hầu trên máy bay rốt cuộc có bao nhiêu người. Sau đó ông nghe ngóng được là có tổng cộng mười sáu người.

Đầu bếp đứng thẳng tắp bên cạnh ghế của Big Joe, trên tay bưng một chiếc cặp tài liệu da đen loại lớn, trên bìa khắc một chữ "Q" mạ vàng. Big Joe không để ý đến ông ta.

"Cơn sóng gió ở ngân hàng của các anh," Quartermain chỉ lo nói chuyện với Roscoe Hayward, "vài cuộc biểu tình, còn những rắc rối khác nữa, đều giải quyết xong rồi chứ? Các anh rốt cuộc có đáng tin không?"

"Ngân hàng chúng tôi luôn vững vàng đáng tin," Hayward trả lời. "Chưa bao giờ có ai nghi ngờ cả."

"Thị trường chứng khoán không nghĩ vậy."

"Cái phong vũ biểu thị trường chứng khoán đó, có khi nào phản ánh chính xác tình hình đâu?"

Trên mặt Big Joe thoáng hiện một nụ cười, rồi lập tức quay sang cô nhân viên phục vụ Nhật Bản nhỏ nhắn nói: "Moonlight, lấy cho ta bảng giá cổ phiếu FMA gần nhất."

"Vâng, thưa ngài Q," cô gái phục vụ nói rồi đi ra từ cánh cửa phía trước.

Big Joe gật đầu về hướng cô gái vừa bước đi. "Vẫn cái giọng điệu đó, chẳng đời nào bắt cô ta phát âm chuẩn cái tên 'Quatermain'. Lúc nào cũng gọi tôi là 'Q-kun'." Hắn cười toe toét với những người còn lại.

"Tuy nhiên, về những phương diện khác thì người phụ nữ này khá được việc."

Roscoe vội vàng tiếp lời: "Những lời đồn đại về ngành này mà anh nghe được, thực chất chỉ là một sự kiện ngẫu nhiên không đáng kể, tầm quan trọng của nó đã bị thổi phồng quá mức. Vả lại, chuyện đó xảy ra đúng vào lúc quyền lực quản lý có sự chuyển giao."

"Dù sao đi nữa, đám người các anh vẫn chưa đứng vững gót chân," Big Joe vẫn không buông tha.

"Các anh để mặc cho những kẻ kích động trong xã hội làm mưa làm gió. Các anh là một lũ nhu nhược, cuối cùng lại chọn cách hạ vũ khí đầu hàng."

"Đúng, quả là như vậy. Nói thật với anh, tôi không tán thành quyết định đó, thậm chí còn từng bày tỏ sự phản đối."

"Phải cứng rắn lên mà đối đầu với chúng! Kiểu gì cũng phải nghĩ ra cách trị đám tạp chủng đó! Tuyệt đối không được nhượng bộ!" Chủ tịch Sunoco nâng ly Martini trên tay, uống cạn một hơi. Người quản gia xuất hiện từ một góc nào đó, lấy đi chiếc ly không rồi đưa cho Big Joe một ly khác. Nhìn lớp sương mỏng bám trên thành ly, có thể thấy rượu đã được ướp lạnh đến độ hoàn hảo.

Người đầu bếp vẫn đứng yên một chỗ, chờ đợi chỉ thị. Quatermain vẫn làm ngơ như không thấy anh ta.

Hắn dùng giọng trầm kể lại chuyện xưa: "Chúng tôi từng có một nhà máy sản xuất linh kiện gần Denver. Ở đó đình công liên miên. Lúc nào cũng có người đưa ra những yêu sách tiền lương vô lý. Đầu năm nay, công đoàn lại kêu gọi đình công, chuyện này đã xảy ra nhiều lần rồi, nhưng đây là lần cuối cùng. Tôi bảo thuộc cấp — nhà máy đó do công ty con quản lý — đi cảnh cáo đám khốn kiếp đó rằng chúng tôi sẽ đóng cửa nhà máy. Chẳng ai coi lời chúng tôi nói là thật. Thế là chúng tôi nghiên cứu tình hình, lên kế hoạch, chuyển máy móc và khuôn dập sang một công ty khác, để họ tiếp quản phần việc sản xuất linh kiện này. Chúng tôi đóng cửa nhà máy ở Denver. Nhà xưởng, công việc, danh sách trả lương, tất cả biến mất trong chớp mắt. Nhìn xem, giờ thì đám người đó — nhân viên, công đoàn, chính quyền thành phố Denver, chính quyền bang, và đủ loại thế lực khác — tất cả đều quỳ xuống cầu xin chúng tôi mở lại nhà máy." Hắn ngắm nghía ly Martini trong tay, rồi rộng lượng nói: "Ừm, có thể cân nhắc. Cứ làm vài loại sản xuất khác đi, nhưng phải theo điều kiện của chúng tôi. Chúng tôi nhất quyết không nhượng bộ!"

"Làm tốt lắm, George!" Ngài Harold nói. "Chúng ta cần nhiều người giữ vững lập trường này hơn. Nhưng vấn đề của ngân hàng chúng tôi hơi khác một chút. Xét trên một vài phương diện, chúng tôi vẫn đang trong giai đoạn chuyển giao, giai đoạn mà anh biết đấy, bắt đầu từ sau khi Ben Roselli qua đời. Tuy nhiên, rất nhiều người trong hội đồng quản trị hy vọng đến mùa xuân năm sau, Roscoe này sẽ có thể nắm chắc quyền lực của ngân hàng trong tay."

"Nghe anh nói vậy tôi rất vui. Tôi không thích giao thiệp với những kẻ hạng hai. Người đàm phán với tôi không những phải có quyền quyết định, mà còn không được lật lọng nửa chừng."

"Anh cứ yên tâm, George." Hayward nói. "Bất cứ quyết định nào mà anh và tôi đưa ra, ngân hàng nhất định sẽ thực hiện không sai một ly."

Hayward hiểu rất rõ, vị chủ nhân này thủ đoạn thực sự cao tay, chỉ bằng một đòn hư chiêu như vậy đã ép mình và Harold Austin vào thế phải cầu cạnh người khác, còn cái vai trò "không cầu người, người cầu ta" của chủ ngân hàng bỗng chốc bị đảo ngược. Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại, cung cấp bất kỳ khoản vay nào cho Trans-Global cũng đều có thể kê cao gối ngủ, cuối cùng còn có thể nâng cao danh tiếng cho Ngân hàng First American. Còn một điểm nữa không thể xem thường, đây có thể là bước đệm để mở các tài khoản công nghiệp khác, vì Trans-Global là đầu tàu trong giới thực nghiệp, một khi họ làm gương, các đối thủ cạnh tranh chắc chắn sẽ đổ xô theo.

Big Joe đột ngột quát lớn về phía đầu bếp: "Này, có chuyện gì!"

Người đàn ông mặc đồ trắng đứng bất động kia như bị giật điện, lập tức cử động. Anh ta đưa lên cuốn sổ bìa da đen đã cầm trên tay từ lúc bước vào phòng. "Thực đơn bữa trưa, thưa ngài, mời ngài xem qua."

Big Joe không nhận lấy cuốn sổ, chỉ liếc nhìn thực đơn đang trải ra trước mặt. Hắn giơ ngón tay chỉ vào thực đơn: "Đổi món salad Waldorf này thành salad Caesar."

"Vâng, thưa ngài."

"Còn món tráng miệng nữa. Không lấy trái cây ngâm đường Martinique. Mang lên một đĩa Soufflé Grand Marnier."

"Vâng, thưa ngài."

Hắn gật đầu ra hiệu cho đầu bếp lui ra. Nhưng khi đầu bếp vừa quay người định đi, Big Joe bỗng trợn mắt: "Nếu tôi gọi món bít tết, tôi thích cách chế biến như thế nào?"

"Thưa ngài" — đầu bếp dùng bàn tay không cầm đồ vật làm một cử chỉ cầu khẩn — "Vì chuyện xui xẻo tối hôm qua, tôi đã xin lỗi ngài hai lần rồi."

"Đừng nói đến chuyện đó. Tôi hỏi là: Tôi thích cách chế biến như thế nào?"

Đầu bếp nhún vai kiểu Pháp, sau đó như đọc thuộc lòng bài học vừa mới học: "Vừa mềm vừa chín, độ lửa vừa tầm."

"Nhớ cho kỹ đấy!"

Đầu bếp tội nghiệp hỏi: "Thưa ngài, sao tôi có thể quên được chứ?" Nói xong, anh ta ủ rũ lui ra ngoài.

"Còn một điểm nữa cũng rất quan trọng," Big Joe nói với khách, "đó là ai làm sai việc gì, đừng dễ dàng tha thứ cho họ. Tôi trả cho gã người Pháp kia một mức lương hậu hĩnh, chẳng qua là muốn hắn hiểu rõ khẩu vị của tôi. Tối qua hắn phạm một chút sai lầm, tuy không phải chuyện gì to tát, nhưng cũng đủ để hắn nhớ đời. Như vậy, lần sau sẽ không quên nữa. Tình hình thế nào rồi?" Lúc này, Moon Girl đã cầm một mảnh giấy quay lại phòng khách.

Cô đọc bằng tiếng Anh với chút giọng nước ngoài: "Giá mở cửa cổ phiếu của First American hiện là 45,75."

"Đây không phải," Roscoe Hayward nói, "đã tăng thêm một bảng Anh rồi sao."

"Nhưng vẫn còn kém xa so với giá trước khi lão Ben lên thiên đàng đấy," Big Joe cười toe toét. "Tuy nhiên, tin tức ngân hàng các anh cho Trans-Global vay mà lan ra, giá cổ phiếu của các anh chắc chắn sẽ tăng vọt."

Hayward nghĩ, có thể sẽ xảy ra trường hợp đó. Trong giới tài chính và thị trường chứng khoán phức tạp, khó lường, luôn có những chuyện kỳ quái không thể giải thích nổi. Ai đó cho ai đó vay tiền, nói ra cũng chẳng có gì ghê gớm, vậy mà trên thị trường chứng khoán lại cứ phản ứng mạnh mẽ!

Quan trọng hơn là, Big Joe giờ đã chính thức bày tỏ thái độ: Sunoco và Ngân hàng First American sẽ có một thương vụ được thực hiện. Không nghi ngờ gì nữa, trong hai ngày tới, họ sẽ bàn bạc thêm các chi tiết cụ thể. Hayward cảm thấy lòng mình dần nóng lên.

Phía trên đầu họ vang lên tiếng nhạc du dương. Bên ngoài khoang máy bay, nhịp điệu gầm rú của động cơ phản lực đang dần chậm lại.

"Ồ, Washington!" Avril nói. Cô và vài cô gái khác bắt đầu thắt dây an toàn cho những người đàn ông đang ngồi đó. Những chiếc đai dày và nặng, nhưng những ngón tay của các cô lại nhẹ nhàng và khéo léo.

Thời gian dừng chân tại Washington thậm chí còn ngắn hơn chặng trước. Việc đón một vị quan chức cấp cao quý giá như vàng 14 cara, được hưởng quyền ưu tiên hàng đầu khi hạ cánh, chạy đà và cất cánh, dường như là chuyện đương nhiên.

Vì vậy, chưa đầy hai mươi phút sau, họ lại dang cánh bay lên không trung, trở lại độ cao hành trình, hướng về phía Bahamas.

Phó Tổng thống ổn định chỗ ngồi trên máy bay, được cô gái tóc nâu mắt đen Christa chăm sóc. Ông tỏ ra rất hài lòng với sự sắp xếp này.

Các đặc vụ chịu trách nhiệm bảo vệ Phó Tổng thống được bố trí ở một nơi nào đó ở khoang sau.

Không lâu sau, Joe Quatermain, lúc này đã khoác lên mình chiếc áo khoác lụa màu be nổi bật, đầy hứng khởi dẫn khách từ phòng khách đến nhà hàng trên máy bay. Đây là một căn phòng được bài trí vô cùng lộng lẫy, tông màu chủ đạo là bạc trắng và xanh dương. Sau khi vào nhà hàng, chủ và khách ngồi vào bàn ăn bằng gỗ sồi có chạm khắc hoa văn. Phía trên bàn ăn treo một chiếc đèn chùm pha lê. Moon Girl, Avril, Rita và Christa lảng vảng phía sau họ, trở thành những người bầu bạn xinh đẹp. Sự xa hoa trong bữa ăn của họ, cùng những món ngon trên bàn tiệc, là điều mà bất kỳ nhà hàng lớn nào trên thế giới cũng không thể so sánh được.

Roscoe Hayward thưởng thức các món ăn ngon lành, tuy nhiên lại không uống một giọt rượu nào, cuối cùng khi chai rượu lâu năm 30 tuổi — rượu Cognac — được mang lên bàn, anh cũng không đụng tới. Tuy nhiên, anh để ý thấy những chiếc ly pha lê chân cao nặng trịch có viền vàng kia, trái với quy tắc thông thường, không dùng chữ "N" đại diện cho Napoleon làm hoa văn trang trí, thay vào đó lại là một chữ "Q" nổi bật.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang