Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 39

❊ ❊ ❊

Tại Washington, Victor Henry được điều động sang Phòng Kế hoạch Tác chiến. Ông chẳng nhận được chỉ thị nào từ Roosevelt cả. Người ta nói rằng vị Tổng thống là một nhân vật khó lường, và bản thân vị Đại tá Hải quân cũng bắt đầu tin vào điều đó qua những trải nghiệm thực tế. Tuy nhiên, ông không hề cảm thấy bất an vì sự bổ nhiệm này, mặc dù từ lâu ông vẫn luôn khao khát và tin rằng mình sẽ nhận được một chức vụ ngoài khơi.

Giờ đây, ông đã an phận với công việc bàn giấy. Điều này, cùng với việc hai bên thái dương bắt đầu điểm bạc, những nếp nhăn quanh trán và khóe miệng ngày càng lộ rõ, cũng như những bước chân trên sân tennis trở nên điềm tĩnh hơn, tất cả đều cho thấy Victor Henry đang dần thay đổi.

Sau khi đã ở London và Berlin, Washington vào tháng 1 năm 1941 đối với ông chỉ là một bức tranh ảm đạm đầy rẫy tranh cãi, tiệc tùng, rượu chè, hỗn loạn, sự vô cảm và lối sống xa hoa lãng phí, một khung cảnh gợi nhớ một cách đáng ngại về Paris trước khi thất thủ. Phải mất một thời gian dài ông mới quen được với những con phố rực rỡ ánh đèn, dòng xe cộ tấp nập, những món ăn tinh tế đến mức thừa thãi, cũng như sự ngu muội và thờ ơ đối với chiến tranh ở nơi đây. Mỗi khi trò chuyện với các quân nhân và vợ của họ, Pug đều nhận thấy họ chỉ bàn tán về những lợi ích nhỏ nhặt mà cuộc chiến xa xôi kia có thể mang lại cho cuộc sống tầm thường của chính họ. Những người bạn cùng khóa ở Học viện Hải quân có tài năng như ông đều đang bước vào các vị trí chỉ huy chủ chốt trên biển, nơi có thể thăng tiến lên cấp tướng. Ông biết người ta coi mình là một kẻ đen đủi, một người mới nổi đã chìm nghỉm do vận quan trường không suôn sẻ. Trước đây, ông từng quan tâm đến chiến tranh, quan tâm đến tương lai nước Mỹ mà ông vốn cho là khá mờ mịt. Nhưng giờ đây, ông gần như chẳng còn bận tâm đến điều gì nữa.

Hải quân vẫn như thường lệ, dồn toàn bộ sự chú ý vào phía Nhật Bản. Mỗi khi Tổng thống đưa ra một quyết định tăng cường cho Hạm đội Đại Tây Dương, điều đó chắc chắn sẽ gây ra những lời than phiền giận dữ và những cái lắc đầu đầy toan tính tại Bộ Hải quân và Câu lạc bộ Lục - Hải quân. Ông cố gắng nói về người Đức, nhưng bạn bè đều nhìn ông bằng ánh mắt khác lạ. Vẻ mặt chế giễu của họ dường như đang nói: Anh ta là một gã cố chấp đến mức chẳng ai buồn để ý, chuyên phóng đại những chuyện vặt vãnh mà mình biết để tự nâng cao tầm quan trọng của bản thân. Những cuộc tranh cãi ồn ào tại Quốc hội và trên mặt báo về "Đạo luật Cho thuê" đối với ông vừa phi logic, vừa lạc đề. Hitler lúc đó không tuyên chiến với Mỹ chỉ đơn giản là để phục vụ cho kế hoạch riêng của hắn, chỉ vậy thôi. Đối với người dân Mỹ, điều hợp khẩu vị của họ rõ ràng là giả vờ trung lập, trong khi bắt đầu giúp đỡ nước Anh một cách chậm rãi, tính toán chi li — mỗi bước đi theo hướng này đều phải trải qua một cuộc tranh cãi. Đây là hai sự thật đơn giản, nhưng trong những cuộc đấu khẩu, chúng đều bị lãng quên.

Pug Henry an phận ở lại Phòng Kế hoạch Tác chiến, bởi ở đây, ông đang làm việc trong một thế giới khác, một thế giới bí mật, nhỏ bé, chỉ nói chuyện thực tế chứ không động đến cảm xúc. Đầu tháng Giêng, cùng với vài sĩ quan khác ở Phòng Kế hoạch Quân sự, ông bắt đầu "đối thoại" với các nhân viên quân sự Anh. Trên lý thuyết, Huân tước Burne-Walker và phái đoàn do ông dẫn đầu đến Washington là để thị sát hoặc thực hiện các nhiệm vụ mập mờ kiểu như mua sắm. Bề ngoài, các cuộc đàm phán chỉ giới hạn ở những thảo luận sơ bộ cấp thấp, không mang tính ràng buộc đối với bất kỳ bên nào, Tổng thống, Tham mưu trưởng Lục quân và Bộ trưởng Hải quân cũng chẳng màng tới. Thực tế, đến ngày 1 tháng 3, thông qua những cuộc hội đàm này, một kế hoạch tác chiến toàn cầu bằng văn bản đang dần hoàn thiện. Kế hoạch này dự đoán sớm muộn gì Nhật Bản cũng sẽ phát động tấn công, nhưng quyết định then chốt trong thỏa thuận này dựa trên bốn chữ: "Đức là ưu tiên". Điều khiến Victor Henry phấn chấn là các nhân viên kế hoạch của Quân đoàn Không quân Lục quân Mỹ đều đồng ý với điều này, đồng thời, nằm ngoài dự đoán và khiến ông vui mừng, Tướng Bunden cùng hai đồng nghiệp hải quân khác vốn cho rằng chiến tranh sắp kết thúc cũng đồng ý — trong khi các nhân viên khác của Hải quân vẫn cứ theo nếp cũ, tiến hành các bài tập và diễn tập kiểu cũ với "Orange" (mật danh của Nhật Bản) làm kẻ địch giả định.

Đối với Pug Henry, rõ ràng nếu Nhật Bản tham chiến, với sản lượng thép chỉ vài triệu tấn mỗi năm, một khi nước Đức bị đánh bại, Nhật Bản sẽ không thể trụ vững được lâu. Tuy nhiên, nếu người Đức đánh bại nước Anh và giành được hạm đội của họ, họ có thể chinh phục từng lục địa một, càng đánh càng mạnh, khi đó Nhật Bản thế nào cũng chẳng còn quan trọng nữa. Từ những cuộc trò chuyện tại Câu lạc bộ Lục - Hải quân, ông biết rằng nếu quyết định "Đức là ưu tiên" này bị rò rỉ, nó sẽ gây ra một cơn sóng gió không thể tưởng tượng nổi. Tính từ Tổng thống trở xuống, ông là một trong số rất ít (có lẽ chưa đến hai mươi) người Mỹ biết được bí mật này. Có lẽ đây là một cách kỳ lạ để điều hành việc nước, nhưng điều khiến ông ngạc nhiên — sự ngạc nhiên chưa bao giờ hoàn toàn mất đi — là mọi chuyện vẫn cứ diễn ra như thế. Việc tham gia vào công việc thầm lặng có tầm ảnh hưởng toàn cục này khiến ông cảm thấy thỏa mãn.

Cuộc sống của ông vô cùng kỳ lạ: Sau khi đọc báo xuất bản buổi sáng hoặc nghe hết những cuộc tranh luận gay gắt về "Đạo luật Cho thuê" trên đài phát thanh từ Quốc hội hôm trước, buổi sáng ông lại đến những căn phòng làm việc nhỏ đơn điệu ở một góc hẻo lánh của tòa nhà Bộ Hải quân cũ, ngồi xuống cùng người Anh bắt đầu một ngày làm việc khác về kế hoạch tác chiến toàn cầu. Vài quan chức cấp cao biết nội tình các cuộc "đối thoại" có thể giữ vẻ mặt bình thản để che đậy mọi thứ, điều này để lại ấn tượng khó phai trong lòng Pug. Ông cảm thấy bối rối trước một chính phủ cần quan chức phải giả dối đến mức này, cần dùng đủ loại lời lẽ ngọt ngào để lừa các nhà lập pháp thực hiện những hành động sáng suốt. Có lần các nhân viên kế hoạch mệt mỏi rã rời sau một ngày làm việc bận rộn, chỉ mặc áo sơ mi ngồi quanh đài phát thanh để nghe Tướng Marshall làm chứng trước một ủy ban của Thượng viện. Họ nghe vị Tham mưu trưởng Lục quân (người mà sự chính trực lạnh lùng của ông từng khiến Henry liên tưởng đến George Washington) cam đoan với các thượng nghị sĩ rằng Mỹ không có ý định tham chiến, hiện tại cũng không cần thiết phải mở rộng quân đội quy mô lớn. Lúc đó, các nhân viên kế hoạch đang thảo luận về một phương án phân bổ dựa trên cơ sở quân đội Mỹ sẽ mở rộng lên năm triệu người vào năm 1943 — phương án mà Marshall hoàn toàn biết rõ.

"Tôi không hiểu nổi," Pug nói với Burne-Walker, "Có lẽ điểm duy nhất bạn có thể biện hộ cho nền dân chủ là các hình thức chính phủ khác thậm chí còn tệ hơn."

"Tệ ở chỗ nào?" Đó là câu trả lời sắc bén của vị Chuẩn tướng Không quân. "Nếu các hình thức chính phủ khác có thể thắng được chiến tranh, thì những ưu điểm khác đều không tính đến nữa."

Burne-Walker đã nắm vững vấn đề "tàu đổ bộ", và Pug hợp tác với ông rất ăn ý. Trong số các nhân viên kế hoạch, một trò đùa về cô bạn gái "Elsie" của Đại tá Henry đã được thêu dệt và lan truyền, trò đùa này thực chất chỉ là chơi chữ với từ "tàu đổ bộ" (Landing Craft - LC). Ông liên tục nhấn mạnh rằng trên mọi chiến trường, tàu đổ bộ đều đóng vai trò quyết định đến tác chiến. Khi xây dựng công thức tác chiến, Pug từng tính toán các hoạt động của lực lượng đổ bộ vượt biển dựa hoàn toàn vào kiểu loại và số lượng tàu đổ bộ, qua đó dội gáo nước lạnh vào nhiều kế hoạch có ý đồ to lớn nhưng thiếu khả thi. Người ta thường nói: "Bạn gái Elsie của Pug lại giở trò rồi." Ông kiên quyết giữ vững quan điểm này, và Burne-Walker luôn ủng hộ ông.

Henry hiếm khi gặp Pamela Tudsbury. Cô đến Mỹ với tư cách là thư ký kiêm trợ lý của vị Chuẩn tướng Không quân, bị nhét vào một văn phòng của Phái đoàn Mua sắm Anh, rõ ràng là mệt mỏi đến cùng cực, khuôn mặt lúc nào cũng hốc hác. Lần đầu tiên nhìn thấy Pamela, ông cảm thấy một luồng cảm xúc vừa ngạc nhiên vừa vui mừng dâng trào. Lúc đó cô đang đứng cạnh Burne-Walker, nhìn ông bằng ánh mắt rực lửa. Cô không hề viết thư báo cho ông biết là mình sẽ tới. Họ chỉ hẹn nhau đi uống rượu một lần. Trong thư, Pug đã kể chi tiết về lần gặp gỡ với Ted Gallard. Ông cảm thấy cô còn quá trẻ. Sau khi tham gia nhiệm vụ ném bom đó, ông từng mê mẩn cô gái này một thời gian, giờ đây khi hồi tưởng lại trong quán bar Willard náo nhiệt ở Washington, nó giống như một khúc đệm xa xôi và khó tin. Thế nhưng, trong một giờ đồng hồ ở bên cô, ông cảm thấy ấm áp và dễ chịu. Kể từ đó, mỗi khi gặp được cô, đó là một ngày đáng mừng của ông. Ông chỉ gặp cô một cách tình cờ, không gọi điện, cũng không yêu cầu gặp lại cô lần nữa. Mặc dù cô luôn tỏ ra rất vui khi gặp ông, nhưng cũng không chủ động làm gì để họ gặp nhau nhiều hơn.

Giống như một sinh viên đại học khao khát nổi danh, một người lưu vong khao khát trở về quê hương, vị Đại tá Hải quân bốn mươi chín tuổi này đôi khi cũng mơ màng nghĩ xem việc yêu một phụ nữ Anh trẻ tuổi sẽ có mùi vị như thế nào. Tuy nhiên, đó chỉ là ảo tưởng của ông mà thôi. Theo cách của mình, ông vẫn chung thủy với vợ. Khi ông trở về, Rhoda đón chồng với một tâm trạng phức tạp khó hiểu — lúc thì tỏ ra vô cùng ân ái, thậm chí đầy dục vọng, lúc lại rơi vào nỗi u sầu sâu thẳm, thờ ơ, nổi giận đùng đùng, than phiền rằng không nên chuyển từ New York đến Washington. Cuối cùng, cô ổn định trong một trạng thái nguội lạnh, không gần không xa, suốt ngày bận rộn với "Phong trào Quyên góp ủng hộ Anh" và ủy ban âm nhạc trước đây của mình, thỉnh thoảng lại lấy lý do này lý do khác để đến New York. Đôi khi cô vô tình nhắc đến Palmer Kirby — hiện là một trong những chủ tịch của "Phong trào Quyên góp ủng hộ Anh". Rhoda vẫn cùng Pug đi lễ nhà thờ như thường lệ, hát thánh ca, truyền tai nhau những lời đồn thổi về việc vợ của các sĩ quan hải quân không an phận. Khi Pug không nhận được chức vụ chỉ huy trên biển mà phải quay lại Phòng Kế hoạch Tác chiến, cô rõ ràng rất thất vọng. Nhưng họ lại quay về với cuộc sống thường nhật như trước, Pug cũng bận đến mức chẳng còn thời gian mà lo lắng cho tâm trạng luôn bất ổn của Rhoda nữa.

Đôi khi nhận được tin tức về các con, thỉnh thoảng cũng khiến họ gần gũi nhau hơn đôi chút. Lá thư viết nguệch ngoạc của Byron về việc cậu vội vã kết hôn ở Lisbon khiến họ vô cùng bàng hoàng. Họ đã bàn tán về chuyện này mấy ngày liền. Ban đầu là lo lắng, đau khổ, an ủi lẫn nhau, cuối cùng đành phải chấp nhận sự thật này. Tin tức từ Warren gửi về vẫn như thường lệ là tin tốt. Vợ cậu sắp trở về Washington để sinh con, cậu đã được thăng chức lên Trung úy.

Một ngày Chủ nhật đầu tháng Ba, Pug tròn năm mươi tuổi. Ông ngồi cạnh vợ trong nhà thờ, lắng nghe dàn hợp xướng hát bài "Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay", cố gắng xua đi cảm giác cho rằng những cơ hội tốt nhất trong đời đều đã bỏ lỡ. Ông tính toán lại hạnh phúc của mình: Vợ ông vẫn rất xinh đẹp, còn khá hiểu phong tình; nếu cô ấy có điểm nào thiếu sót, thì người phụ nữ nào mà chẳng có? Hai cậu con trai đều là sĩ quan hải quân, con gái cũng đã tự lập về kinh tế và rất thông minh. Có lẽ ông đã gặp thất bại trong sự nghiệp, nhưng ông vẫn đang làm một công việc hữu ích ở một vị trí phù hợp. Ông thực sự chẳng có gì để phàn nàn.

Rhoda ngồi cạnh ông, chủ yếu đang nghĩ: Kể từ khi chồng cô trở về từ nước ngoài, đây là lần đầu tiên cô sắp được diện kiến Palmer Kirby.

Đêm Rhoda tổ chức tiệc, bão tuyết làm tắc nghẽn thủ đô. Khoảng bảy giờ mười lăm, các vị khách của cô — bao gồm Kirby — lác đác đều đã đến, rũ tuyết trên người, giậm tuyết dưới chân. Thế nhưng bữa tiệc vẫn chưa thể bắt đầu. Pug vẫn bặt vô âm tín.

Ngôi nhà nhỏ nhắn tinh xảo ở ngõ Tracy này được thuê lại từ một cử nhân sở hữu khối tài sản triệu đô (hiện là Đại sứ tại Brazil). Lúc này Rhoda đang kiểm tra lần cuối trong căn bếp nhỏ hẹp, nóng hổi, thấy mọi thứ đều đã chuẩn bị rất chu đáo: súp đã nóng, vịt rất mềm, rau đang sôi sùng sục, đầu bếp đang nổi cáu vì đến giờ mà chưa được dọn cơm. Khi đi qua hành lang, cô cau mày nhìn vào gương, chỉnh lại kiểu tóc, rồi vội vàng ra tiếp khách. Rhoda mặc một chiếc lễ phục màu bạc ôm sát cơ thể. Cô mặt mày hồng hào, đôi mắt đầy phấn khích, lấp lánh ánh sáng. Trong phòng khách, Kirby và Pamela Tudsbury đang ngồi trên chiếc ghế dài trò chuyện, Madeline và Janice đang xì xào trong một góc. Trước lò sưởi đốt củi, Alistair Tudsbury và Huân tước Burne-Walker đang ngồi trên hai chiếc ghế đối diện trò chuyện phiếm với Thượng nghị sĩ Lacouture mới đắc cử và vợ ông ta. Khách mời bữa tiệc là những người được mời ghép lại. Nhưng vì đây chẳng qua chỉ là bữa tiệc trước buổi hòa nhạc gây quỹ cho "Phong trào Quyên góp ủng hộ Anh", cô cũng chẳng bận tâm đến điều đó. Điều cô quan tâm nhất trong lòng là cuộc gặp gỡ giữa Pug và Kirby.

"Chúng ta đợi thêm mười phút nữa nhé," Rhoda ngồi xuống cạnh nhà khoa học. "Nếu không tới nữa, chúng ta đành phải ăn thôi. Tôi là một thành viên của ủy ban mà."

"Đại tá Henry đâu rồi?" Pamela bình tĩnh hỏi. Chiếc lễ phục màu tím nhạt của cô được treo bằng dây từ cổ, để lộ đôi vai mảnh khảnh. Mái tóc màu trà được búi cao. Rhoda nhớ Pamela Tudsbury là một cô gái trông như con chuột nhắt, giờ đây cô ấy không còn là chuột nhắt nữa. Rhoda nhìn thấy dục vọng lười biếng, nồng nàn trong biểu cảm trên khuôn mặt Kirby.

"Tôi mà nói được thì tốt quá. Bí mật quân sự che đậy đủ loại chuyện xấu xa, đúng không?" Rhoda cười. "Hy vọng ông ấy bận vì quốc phòng, chứ không phải vì một cô nàng tóc vàng nào đó."

"Tôi không tin sẽ là một cô nàng tóc vàng," Pamela nói, "Đại tá Henry không phải là kiểu người đó."

"Này, những kẻ đạo mạo nhất mới là những kẻ tồi tệ nhất đấy, cưng ạ. Ồ, chiếc lễ phục của cô đẹp thật đấy."

"Cô thích không? Cảm ơn nhé," Pamela kéo thẳng váy. "Tôi cảm thấy ăn mặc như thế này cứ như đi xem kịch câm vậy. Mấy tuần nay, ngày đêm tôi đều mặc quân phục."

"Huân tước Burne-Walker thúc ép cô ghê lắm sao?"

"À, không, bà Henry ạ. Là do có quá nhiều việc phải làm. Tôi thấy mình quá may mắn khi được ở lại Washington, làm thêm giờ vào buổi tối có lẽ là để xóa bỏ cảm giác tội lỗi của bản thân thôi."

"Pamela, vậy chắc là khách sạn Waling rồi," giọng điệu của Kirby như muốn tiếp tục chủ đề mà Rhoda vừa ngắt lời.

"Chỉ cần họ đã sửa chữa xong những thiệt hại do vụ ném bom gây ra. Lúc này, chắc họ đã sửa xong rồi. Người Đức cố sống cố chết muốn đánh vào Cung điện Buckingham, nên những ngôi nhà quanh đó đã ăn không ít bom. Nhưng đó là chuyện của tháng Mười rồi."

"Ngày mai tôi sẽ gửi điện tín dưới biển cho Waling."

"Sao, Palmer, anh định đến London à?" Rhoda nói.

Kirby quay sang cô, đồng thời vắt chéo đôi chân dài của mình. "Có vẻ là vậy."

"Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đấy."

"Chuyện này đã được ấp ủ một thời gian rồi."

"London! Thật đầy rẫy sự phiêu lưu," Rhoda cười, dùng tiếng cười che đậy sự ngạc nhiên của mình.

"Janice, uống nhiều rượu Martini như vậy có tốt cho con không?" Bà Lacouture nói, giọng cao của bà lấn át tiếng trò chuyện của những người khác.

"Ôi, mẹ," Janice nói, lúc này một ông lão người Philippines mặc áo dài trắng (một người phục vụ hải quân đã nghỉ hưu được Rhoda thuê tạm thời cho bữa tiệc tối nay) đang run rẩy rót rượu vào chiếc ly cô đang đưa ra.

"Đứa bé đó chắc chắn sẽ ngậm một quả ô liu mà chào đời," Thượng nghị sĩ nói, hai người Anh cười sảng khoái, trên khuôn mặt hồng hào của Lacouture là những nếp nhăn đầy tự mãn.

"Vậy cậu thực sự đã gặp Byron rồi à?" Janice nói với Madeline. "Gặp khi nào?"

"Khoảng hai tuần trước. Tàu ngầm của cậu ấy dừng lại ở xưởng đóng tàu hải quân Brooklyn một đêm. Cậu ấy mời mình ăn tối."

"Cậu ấy thế nào?"

"Cậu ấy — mình cũng không rõ nữa — thờ ơ hơn trước, gần như là lạnh lùng. Mình nghĩ cậu ấy không thích làm hải quân lắm."

"Có lẽ cậu ấy không thích kết hôn," Janice nói. "Mình chưa bao giờ nghe chuyện gì kỳ lạ đến thế! Chỉ làm ầm ĩ ở Lisbon có mấy ngày, rồi cô ấy về Ý, cậu ấy lại chui vào chiếc tàu ngầm nhỏ đó. Họ tốn công tốn sức kết hôn làm gì cơ chứ?"

"Hừ, cũng không chừng cô gái Do Thái đó nhất quyết đòi kết hôn," Madeline nói với giọng tinh quái. Janice cười một cái. "Rất có thể là vậy. Nhưng mình có thể nói thế này, cô ấy là một cô gái rất thông minh và xinh đẹp." Cô làm mặt quỷ, còn di chuyển cái bụng lớn bên dưới chiếc áo choàng xanh rộng thùng thình để ngồi thoải mái hơn. "Này, mình đã trở thành một con bò mộng sồ sề rồi! Cưng à, đây là kết quả tất yếu của mọi chuyện đấy. Hãy luôn nhớ điều đó. Đời sống tình cảm của em thế nào?"

"Ôi, cưng à, nhắc đến chuyện đó —" Madeline liếc nhìn mẹ mình.

"Em còn nhớ gã thổi kèn đó không? Đôi mắt to và u sầu ấy — gã mặc đồ nâu toàn thân ấy?"

"Gã cộng sản đó à? Ồ, Madeline, không lẽ em —"

"Ôi, không, không. Potts hoàn toàn là một gã tẻ nhạt. Nhưng em đã cùng gã đến công viên Madison Square tham gia cuộc mít tinh phản chiến đó. Jan, thật là kinh ngạc! Người đông nghẹt. Những biểu ngữ màu đỏ, trắng, xanh kéo dài từ đầu này sang đầu kia công viên, viết rằng: Lính Mỹ không đi..." Madeline dang hai tay sang hai bên. "Họ hát bài ca của phe trung thành Tây Ban Nha, hát những bài ca quần chúng, các tiểu thuyết gia, nhà thơ và giáo sư đại học đọc những bài diễn văn phản chiến gay gắt. Ồ, gã đó ở ngay trong lô của chúng ta. Gã chuyên viết các chương trình kinh dị cho đài phát thanh. Gã rất thành công, một tuần có thể kiếm được khoảng năm trăm đô la. Gã rất đẹp trai, nhưng cũng là một gã cộng sản." Madeline hắt hơi, hỉ mũi, rồi nhìn Janice một cách tinh quái. "Chị thử nói xem, ai sẽ gây chấn động cho gia đình chúng ta hơn, cô gái Do Thái của Byron hay gã cộng sản của em đây? Bob đến từ Minnesota, ít nhất gã cũng là gốc Thụy Điển. Gã tuyệt lắm."

Janice nói: "Vậy còn ông chủ của em thì sao?"

"Hugh Cleveland ấy à? Nhắc đến ông ta làm gì?"

Hai người phụ nữ trẻ nhìn nhau. Khóe miệng Janice cong lên những nếp nhăn đầy ẩn ý. Khuôn mặt nhợt nhạt đánh phấn của Madeline đỏ bừng. "Nói đi, Janice, chị cười cái gì thế?" Cô uống cạn phần lớn ly rượu Martini.

"Chị không biết. Em cứ lần lượt qua lại với những gã đàn ông kỳ lạ."

"Nếu ý chị là em đang âm thầm chờ đợi ông Cleveland," Madeline nói với giọng sắc sảo giống cha cô, "thì chị đã lầm to rồi. Ông ta là một gã đàn ông bụng phệ, tóc màu hồng, mặt đầy tàn nhang, lớn hơn em mười tuổi. Cá nhân em coi ông ta như một con rắn."

"Cưng à, rắn có thuật thôi miên đấy."

"Đúng, nó chỉ thôi miên được thỏ và chim thôi, em không phải là cả hai." Rhoda bước tới một chiếc bàn nhỏ kiểu Trung Quốc để nghe điện thoại. "Alo, là anh à," cô nói. "Anh đang ở đâu? ... Ôi, lạy Chúa ... Được, tất nhiên rồi, được thôi. Em sẽ để vé ở phòng bán vé cho anh. Được, được, họ đã đợi mấy tiếng đồng hồ rồi. Được, lát nữa gặp, cưng." Cô gác máy, vẫy đôi bàn tay dài, nhợt nhạt của mình với các vị khách. "Ôi, chúng ta uống cạn rượu đi. Pug gọi điện xin lỗi. Anh ấy đang ở Nhà Trắng, cũng không biết khi nào mới thoát thân được."

Tại Washington, nếu một người vắng mặt trong bữa tiệc mà đang ở Nhà Trắng, thì chiếc ghế trống của anh ta cũng không khiến các vị khách cảm thấy khó xử. Ngược lại, chẳng ai hỏi Victor Henry đang làm gì trong tòa nhà hành chính đó, cũng chẳng ai bàn tán gì về lời nói của Rhoda. Cô sắp xếp cho Burne-Walker ngồi bên phải mình, cho Thượng nghị sĩ ngồi bên trái, nói: "Sau bao nhiêu năm, tôi vẫn không nắm vững được những lễ nghi này. Một vị là Thượng nghị sĩ Mỹ, một vị là quý tộc Anh, nên sắp xếp trên dưới thế nào đây? Thượng nghị sĩ, tôi xin đặt vị khách nước ngoài của chúng ta ở ghế trên nhé."

"Hoàn toàn thích hợp," Lacouture nói.

Alistair Tudsbury nói: "Thượng nghị sĩ, nếu lúc bỏ phiếu cho 'Đạo luật Cho thuê' mà ông có thể nhường ghế cho ông ấy, Huân tước Burne-Walker lần này chắc chắn sẽ vui vẻ nhường ghế trên cho ông."

"Ồ, chốt nhé, chốt nhé." Vị Chuẩn tướng Không quân nói lớn, bộ quân phục treo đầy huân chương của ông khiến Rhoda hoa cả mắt. Mọi người đều cười, Tudsbury cười to nhất. "Ha ha ha!" Cái bụng của vị nhà báo rung lên bên dưới không gian rộng lớn của chiếc áo ghi-lê nhăn nhúm có treo một sợi dây vàng ngang qua. Rhoda nói: "Ôi, tinh thần này thật tốt! Tôi đang hơi lo những người bạn Anh của chúng ta sẽ nuốt chửng Thượng nghị sĩ Lacouture mất!"

Vị thượng nghị sĩ nheo mắt lại. "Người Anh các anh dù thiếu thịt cũng không đến mức đó chứ, phải không?" Sau một tràng cười, ông lại tiếp tục. "Không, nói thật lòng nhé, Rhoda, tôi rất vui vì cô đã tập hợp chúng ta lại. Có lẽ tôi đã khiến người bạn này của chúng ta tin rằng tôi không phải kẻ sùng bái Đức Quốc xã. Tôi chỉ là một trong chín mươi sáu người, tôi có quan điểm riêng của mình. Tất nhiên, tôi không tán thành bài phát biểu của Thượng nghị sĩ Wheeler. Nào là Đạo luật Cho vay-Cho thuê sẽ chôn vùi một phần tư nam thanh niên Mỹ. Lời lẽ đó thật quá đà. Nhưng nếu Roosevelt có ý định tặng không vũ khí cho Anh, tại sao ông ta không đứng ra nói thẳng, việc gì phải dùng cái Đạo luật Cho vay-Cho thuê này để lừa phỉnh chúng ta? Điều này chẳng khác nào coi chúng ta là những kẻ ngốc!"

"Tôi đã tham dự một cuộc mít tinh phản chiến ở New York," Madeline xen vào, "một diễn giả đã kể một câu chuyện thú vị: Một kẻ lang thang chặn một gã giàu có trên phố và nói: 'Thưa ông, tôi sắp chết đói rồi, xin ông cho tôi hai mươi lăm xu.' Gã giàu có đáp: 'Anh bạn thân mến, tôi không thể cho anh hai mươi lăm xu, nhưng tôi có thể cho anh vay hoặc cho thuê hai mươi lăm xu'."

Thượng nghị sĩ Lacouture cười lớn. "Tuyệt vời. Tôi nhất định sẽ đưa nó vào bản thảo bài phát biểu sắp tới của mình."

Philip Cohen nói từ phía đối diện bàn ăn: "Ông thực sự muốn thu thập tài liệu từ phía Đảng Cộng sản sao?"

"Đó là cuộc họp do Đảng Cộng sản triệu tập à? Nhưng mà, chuyện thì vẫn là chuyện thôi."

"Những cuộc mít tinh kiểu này thật điên rồ," Janice nói. "Chiều nay khi tôi ngồi taxi đi qua Đại lộ Pennsylvania, tôi bị kẹt lại trước Nhà Trắng, gần như không thể nhúc nhích. Các phóng viên nhiếp ảnh cũng ở đó, chụp ảnh đám người biểu tình. Những người Cộng sản cầm biểu ngữ đi vòng quanh, đồng thanh hát 'Lính Mỹ không đi'. Bên cạnh họ là một nhóm phụ nữ — Hội các bà mẹ Cơ đốc giáo Mỹ — quỳ trên lớp tuyết vỉa hè để cầu nguyện. Người lái xe bảo tôi rằng, họ định cầu nguyện liên tục suốt hai mươi bốn giờ cho đến khi Đạo luật Cho vay-Cho thuê bị đánh bại hoặc bị bác bỏ. Thật tình mà nói, từ Hawaii đến đây, tôi thấy đất nước này như phát điên rồi!"

"Điều đó chứng tỏ phong trào phản đối đạo luật này rộng khắp đến mức nào," thượng nghị sĩ nói. "Đủ mọi thành phần cả."

"Ngược lại," Cohen chen vào, "cả hai phe cực đoan dường như đều phản đối viện trợ cho Anh, nhưng quần chúng ở giữa thì lại tán thành."

Thượng nghị sĩ Lacouture vẫy tay lên không trung: "Không phải vậy đâu, thưa ông. Cả đời tôi đều đi theo con đường trung dung. Các vị nên nghe những cuộc trò chuyện khẽ khàng trong nhà hàng của Thượng viện. Tôi nói cho các vị biết, nếu họ không phải lo lắng về những người Do Thái ở các thành phố lớn (tôi cũng không trách người Do Thái có cảm giác như vậy, nhưng vấn đề này không thể quyết định trên cơ sở hẹp hòi), thì ngay lập tức sẽ có thêm hai mươi phiếu bầu về phía tôi. Tôi vẫn cho rằng sẽ không hơn được nữa. Số phiếu thay đổi từng ngày. Nếu cơn bão này còn tiếp diễn một tuần nữa, thì đạo luật này coi như xong."

Cánh cửa chính hướng ra phố mở ra rồi đóng lại. Victor Henry bước vào phòng ăn, phủi những bông tuyết trên chiếc áo khoác quân đội màu xanh của mình. "Xin lỗi mọi người," ông vừa cởi áo khoác vừa nói. "Không cần, không cần, không cần đứng dậy đâu, tôi chỉ đến tham dự một lát rồi sẽ đi thay đồ."

Nhưng các vị khách nam vẫn đứng đó. Victor Henry đi một vòng quanh bàn, bắt tay từng người một — người cuối cùng là Philip Cohen. "Ồ," ông nói, "đã lâu lắm rồi không gặp."

"Quả thật là rất lâu, quá lâu rồi."

Chỉ có Rhoda, người hiểu rõ nhà khoa học này nhất, mới nhận ra nụ cười đó là gượng gạo và giả tạo. Cô đã lo lắng về khoảnh khắc này suốt hai tuần, nhưng giờ đây cô lại có một cảm giác bất ngờ — nghĩ đến việc cả hai người đàn ông này đều yêu mình, cô cảm thấy vừa vui vẻ vừa tự hào. Khi người tình của cô nắm tay người chồng đã chung sống hai mươi lăm năm, cô không hề cảm thấy tội lỗi chút nào. Cohen cao hơn Đại tá Henry cả một cái đầu. Anh mặc một bộ lễ phục kẻ sọc đen trắng, trông rất bảnh bao. Nhưng Pug cũng đầy khí chất: anh đứng thẳng lưng, vóc dáng không cao nhưng rất rắn chắc, đôi mắt mệt mỏi trong hốc mắt sâu thẳm trông vô cùng sắc bén và tràn đầy sức sống. Toàn bộ phong thái của anh đều toát lên sự năng động — đây là chồng cô, người vừa từ Nhà Trắng trở về. Rhoda cảm thấy mình thật may mắn, xinh đẹp và được yêu chiều. Suy nghĩ của cô hỗn loạn nhưng vui vẻ, và tình thế hiện tại thì vô cùng an toàn. Đây thực sự là khoảnh khắc thoải mái nhất trong đời cô, và nó trôi qua nhanh như một giấc mơ. Pug ngồi xuống ghế và bắt đầu ăn món tôm tươi nguội.

"Lời này nghe như chuyện đã rồi," anh nói với Cohen, "nhưng tôi thực sự muốn cảm ơn anh, cảm ơn anh đã lái xe từ New York đưa Rhoda đến trường tàu ngầm thăm Byron mùa hè năm ngoái. Quãng đường đó không ngắn chút nào đâu."

Cohen dang rộng đôi bàn tay to lớn của mình. "Nhưng được thăm căn cứ tàu ngầm quả là một trải nghiệm tuyệt vời. Đại tá Tully, bạn của anh, đã dẫn chúng tôi đi tham quan và kể cho chúng tôi nghe những điều mà chúng tôi hoàn toàn mù tịt."

"Red Tully luôn đứng đầu lớp ở trường," Pug nói. "Tôi hơi nghi ngờ rằng Byron phải nhờ anh ấy giúp đỡ mới tốt nghiệp được. Nhưng tôi cũng không hỏi nó."

Đối với Rhoda, việc hai người đàn ông này thản nhiên nói về chuyến đi định mệnh đó thật là một màn kịch đầy cảm xúc. Cô vui vẻ nói: "Này Pug, anh lúc nào cũng bới móc Byron tội nghiệp. Red kể với chúng tôi rằng trong lớp huấn luyện xe tăng, nó còn giành giải quán quân nữa cơ. Có lần nó bị kẹt trong phổi, nhưng nó đã thoát ra an toàn ngay từ đầu, hoàn toàn không bị thương, bình tĩnh như một con cá vậy. Ồ, khi chúng tôi đến thăm, họ còn cử nó làm huấn luyện viên cho lớp xe tăng đấy."

"Đó chỉ là tự bảo vệ bản thân thôi, không gọi là công việc — Byron vốn dĩ luôn giỏi những việc như vậy."

"Tự bảo vệ mình cũng là một tài năng đấy chứ," Pamela Tudsbury nói.

Pug nhìn cô với sự dịu dàng đặc biệt. "Đúng, Pamela, không biết tự bảo vệ mình thì tự nhiên cũng chẳng làm nên trò trống gì, điều đó đúng. Nhưng đó chỉ là tài năng kiểu con rùa thôi."

"Ôi, các vị đã bao giờ thấy chưa?" Rhoda nói với Huân tước Burne-Walker, "Lại có người cha như thế đấy!"

Bà Lacouture kêu lên một tiếng. Người bồi bàn già đang phục vụ món súp cho Huân tước Burne-Walker. Những tấm huân chương trên người vị khách Anh làm ông mất tập trung, cái khay trong tay ông nghiêng đi, bát súp mở nắp suýt chút nữa trượt về phía Rhoda: chỉ trong vài giây, chiếc váy bạc của cô có thể đã bị hủy hoại. Nhưng ngay khi bát súp trượt dọc theo khay, Rhoda, người luôn để mắt đến người hầu, đã lập tức vươn tay chộp lấy nó, rồi với động tác nhanh nhẹn và vững vàng như một con mèo gặp rắc rối, cô đặt nó lên bàn ăn mà không làm đổ một giọt súp nào.

Mọi người hít một hơi lạnh, tiếp đó là một tràng cười. Pug reo lên: "Làm tốt lắm!"

"Khả năng tự bảo vệ được truyền từ đời này sang đời khác trong nhà chúng tôi đấy," Rhoda nói. Trong tiếng cười lớn hơn, Alistair Tudsbury không ngớt lời tán thưởng.

"Giỏi thật! Tôi chưa bao giờ thấy việc gì làm gọn gàng đến thế," Thượng nghị sĩ Lacouture lớn tiếng reo lên.

Mọi người đều nói một câu đùa hoặc lời khen ngợi dành cho Rhoda, khiến cô vô cùng phấn khởi. Rhoda thích mời khách. Cô giỏi việc sắp xếp chi tiết từ trước, rồi sau đó cả buổi tối chỉ việc trò chuyện thoải mái. Rhoda nói về những sự cố trong các bữa tiệc ở Berlin, rồi bắt đầu dùng những lời mỉa mai cay nghiệt để hồi tưởng về Đức Quốc xã. Sự thân thiện với người Đức trước đây cô đã quên sạch, giờ đây cô là một nữ chiến tướng của "Phong trào vận động viện trợ Anh", hoàn toàn đứng về phía viện trợ cho Anh. Sau khi vượt qua sự ngượng ngùng trước mặt Pug, Philip Cohen cũng nói về những điều anh thấy tại Parteitag ở Nuremberg. Pug kể về cái cầu trượt của Abendroth, làm các nữ khách cười khúc khích không thôi. Sau đó, Huân tước Burne-Walker lại kể vài giai thoại hài hước về thái độ kiêu ngạo, vô lễ của các phi công Đức bị bắt giữ.

Thượng nghị sĩ Lacouture ngắt lời ông: "Huân tước Burne-Walker, người Anh các ông năm ngoái thực sự rơi vào tình cảnh khó khăn sao?"

"Ồ, chẳng phải sao." Thế là vị Chuẩn tướng Không quân bắt đầu kể về việc máy bay và phi công ngày càng ít đi trong tháng Bảy, tháng Tám năm trước; về một tuần lễ trong tháng Chín khi số phi công ít hơn cả con số tối thiểu cần thiết để bảo vệ nước Anh; về sự bi quan bao trùm trong Không quân Hoàng gia suốt tháng Mười — London rực lửa, dân thường chết hàng loạt, nhưng không còn máy bay chiến đấu ban đêm để cung cấp, trong khi Không quân Đức vẫn liên tục bay đến, ném bom cháy xuống các khu dân cư, vừa đánh vừa đốt khắp nơi, hòng tiêu diệt ý chí của thành phố này. Lacouture lại truy hỏi thêm vài câu, khuôn mặt hồng hào của ông ngày càng trở nên tỉnh táo. Chuẩn tướng nói, Không quân Hoàng gia dự đoán người Đức sẽ thực hiện các cuộc tấn công mới với quy mô lớn hơn trong mùa xuân và mùa hè. Theo tỷ lệ bị tàu ngầm đánh chìm hiện nay, có lẽ sẽ khiến máy bay Anh không thể cất cánh chiến đấu vì thiếu xăng dầu. Đến lúc đó, việc xâm lược nước Anh sẽ được đưa vào chương trình nghị sự. "Đừng quên, chúng tôi hy vọng có thể chịu đựng được tất cả những điều này," ông nói. "Tuy nhiên, lần này Hitler có lẽ đã có vốn liếng. Ông ta đã mở rộng lực lượng vũ trang của mình rất nhiều. Tất nhiên, chúng tôi cũng không ngồi yên. Nhưng đáng tiếc là nhiều vật tư của chúng tôi gần đây đều đã chìm xuống đáy Đại Tây Dương."

Lacouture đang dùng ngón tay vo viên bánh mì thành những cục nhỏ. Ông nhìn chằm chằm vào vị Chuẩn tướng. "Phải," ông nói, "với tư cách là một dân tộc, một nền văn minh, không ai đánh đồng nước Anh với Đức Quốc xã cả. Người dân của các ông rất tuyệt vời. Tôi có thể nói với các ông rằng, chúng tôi sẽ còn nghe thấy những điều này ở Quốc hội."

Burne-Walker khiêm tốn cúi người, khiến các vị khách khác trên bàn cùng cười. "Tôi luôn sẵn sàng."

Khi những người khác đang ăn món tráng miệng, Victor Henry đã thay bộ lễ phục quân đội của mình. Khi ông trở lại phòng ăn, các vị khách đang mặc áo khoác, chuẩn bị khởi hành bất chấp gió tuyết. Ông giúp Pamela Tudsbury mặc áo khoác, ngửi thấy một mùi hương gợi lại những ký ức của mình. Cô quay lại nói với ông: "Tôi có tin về Ted."

Trong khoảnh khắc đầu tiên, Victor Henry không hiểu. Trên tàu thủy "Bremen", cô cũng dùng cách nói nhanh nhẹn, bình thản như vậy để kể những câu chuyện cười về Hitler. "Thật sao? Là tin tốt hay tin xấu?"

"Gọi điện cho tôi được không?"

"Được."

"Nhất định phải gọi đấy, nhé, nhất định."

Các vị khách chia nhau ngồi ba chiếc ô tô, Pug lái chiếc chở các vị khách người Anh. Khi họ gặp đèn đỏ phản chiếu ánh tuyết rơi thành những vòng tròn màu anh đào trên Đại lộ Massachusetts và dừng lại, ông nói với vị Chuẩn tướng: "Ông đã thuyết phục được Thượng nghị sĩ Lacouture ở khá nhiều điểm đấy."

"Đó chỉ là lời nói trong lúc uống rượu thôi," Chuẩn tướng nhún vai.

"À, chưa ai từng thấy Hội trường Hiến pháp huy hoàng đến thế," Rhoda nói, "có lẽ sau này cũng sẽ không thấy nữa. Thật tuyệt vời!"

Tất cả các ghế đều đã kín chỗ. Những người đàn ông trong dàn nhạc cũng như nhiều khán giả nam ngồi trên những dốc dài hai bên đều mặc lễ phục đầy đủ hoặc quân phục lấp lánh ánh vàng. Phụ nữ tạo thành một đại dương của làn da trần, màu sắc rực rỡ và châu báu ngọc ngà. Trên sân khấu treo hai lá quốc kỳ vĩ đại của Anh và Mỹ. Rhoda tự đặt hai lô ghế ngay sát lô của Tổng thống. Cô sắp xếp vợ chồng Lacouture, Janice, Chuẩn tướng và Alistair Tudsbury ở lô tốt hơn đó, cô và Pamela ngồi sát lan can ở lô bên kia, Pug và Cohen ngồi sau lưng họ, Madeline ngồi ở hàng cuối cùng.

Hành lang phía sau họ, giữa lực lượng bảo vệ và những khán giả đến muộn, dấy lên một sự xôn xao, những tiếng thì thầm lan khắp hội trường. Tiếp đó, Phó Tổng thống và phu nhân bước vào lô của Tổng thống, đi vào vòng ánh sáng xanh trắng của đèn chiếu. Khán giả đứng dậy vỗ tay. Henry Wallace ngượng ngùng mỉm cười với mọi người, vẫy tay. Ông trông giống một nhà nông học có đầu óc, vì một lễ kỷ niệm nào đó mà phải mặc bộ lễ phục đầy đủ nên cảm thấy vô cùng không thoải mái. Dàn nhạc tấu lên "The Star-Spangled Banner", rồi lại chơi "God Save the King". Bản quốc ca Anh này, cộng thêm đôi vai trắng ngần của Pamela Tudsbury ở quá gần, đã khơi dậy trong lòng Victor Henry những ký ức về những ngày và đêm đã qua ở London. Khán giả trở lại chỗ ngồi, khi tiếng đàn violin bắt đầu tấu lên bản giao hưởng của Haydn một cách chậm rãi, trong tâm trí Pug hiện lên cảnh chiến tranh chớp nhoáng và các cuộc ném bom xuống Berlin, thủ đô nước Đức này vì nhà máy khí đốt bị đánh bom mà lóe lên ánh sáng vàng trong đêm tối. Ngay khi ông bước vào phòng căn hộ, Pamela đã lao vào vòng tay ông. Âm nhạc chuyển sang một điệu nhảy nhanh, lại đưa ông trở về với thực tại. Ông nhìn chăm chú vào hình bóng vợ mình, cô đang ngồi theo tư thế nghe nhạc hòa nhạc bình thường: lưng thẳng, hai tay đan vào nhau trên đầu gối, đầu hơi nghiêng sang một bên, tỏ vẻ đang thưởng thức say sưa. Ông nghĩ đến việc đôi khi cô đầy sức quyến rũ như thế nào, và trong bữa tiệc tối nay cô lại đoan trang, hào phóng ra sao. Ông cảm thấy hơi tội lỗi vì mình đã yêu Pamela Tudsbury. Victor Henry cả đời không làm mấy việc trái lương tâm, ông không giỏi tự bào chữa cho mình.

Bản thân Rhoda không thể nào cảm thấy thoải mái hơn. Âm nhạc của Haydn làm cô thấy vui vẻ. Cô thích ngồi trong một lô ghế nổi bật như vậy, mặc chiếc váy bạc mới may, ở gần Phó Tổng thống đến thế. Cô vui mừng vì vé buổi hòa nhạc đã bán hết sạch. Cô còn mong chờ bữa tiệc khiêu vũ sẽ được tổ chức sau đó sẽ thành công rực rỡ. Tất cả những hoạt động cực kỳ thú vị này thực ra đều vì một mục đích cao cả, mà tên cô lại nằm ở hàng đầu trong danh sách ủy ban. Còn điều gì có thể tốt hơn nữa? Chỉ có tin Philip Cohen sắp đi Anh khiến cô hơi bất an một chút. Về việc này, cô còn phải hỏi anh vài câu.

Tất nhiên, Tiến sĩ Cohen cũng có tâm sự riêng của mình, Pamela cũng vậy. Bốn người này — một cặp vợ chồng kết hôn đã nhiều năm và hai người ngoài cuộc đột nhập vào cuộc hôn nhân của họ — trông chẳng khác gì những khán giả khác trong các lô xung quanh hội trường lớn này: đều xinh đẹp, mặc đồ lộng lẫy, đang lắng nghe âm nhạc một cách yên bình. Cohen đang ngồi sau lưng Rhoda, Pug ngồi sau lưng Pamela Tudsbury. Một người lạ có lẽ sẽ đoán người cao là một đôi, người thấp là một đôi, chỉ có điều đối với vị sĩ quan hải quân có khuôn mặt dạn dày sương gió và cặp lông mày rậm rạp này, người phụ nữ nhỏ nhắn kia trông có vẻ trẻ hơn.

Trong giờ nghỉ giữa hiệp, hai người phụ nữ rời đi, Victor Henry và Tiến sĩ Cohen ở lại phòng chờ đầy khói thuốc và hơi nóng quá mức. Pug nói: "Ra ngoài hít thở không khí trong lành một chút không? Có vẻ tuyết đã tạnh rồi."

"Tán thành."

Các tài xế đứng cạnh xe của họ, dậm chân lên lớp tuyết mới rơi. Trời lạnh buốt. Vài người hâm mộ âm nhạc trẻ tuổi ngồi ở những hàng ghế cuối cùng mặc áo len và áo khoác da ngắn, đang trò chuyện trên những bậc thềm đầy bùn tuyết, hơi thở tỏa ra khói nóng. Pug nói: "Về Uranium, có tin tức gì mới không?" Nhà khoa học nghiêng đầu nhìn ông. "Uranium nào?"

"Các anh đã tiến triển nhanh đến thế rồi sao?" Pug cười toe toét. Cohen lắc đầu chậm rãi, miệng tỏ vẻ không muốn nói tiếp.

"Người Đức có thể vượt lên trước chúng ta không?" Câu trả lời là một cái nhún vai.

"Anh biết đấy, hiện tôi đang ở Cục Kế hoạch Tác chiến," Victor Henry nói thẳng, "tôi truy hỏi anh về việc này vì chúng ta nên nắm giữ bí mật này mà lại không có được nó. Nếu thứ kia thực sự đang được chế tạo, thì có lẽ chúng ta ở xưởng chỉ đang chơi trò trẻ con thôi."

Cohen nhồi đầy thuốc vào tẩu, châm lửa. "Các anh không chơi trò gì cả. Chưa tiến triển đến mức đó đâu. Bên phía chúng ta vẫn chưa có."

"Có thể đẩy mạnh hơn không?"

"Ồ, thực sự phải đẩy mạnh hơn nhiều. Tôi đi Anh chính là vì việc này đấy. Rõ ràng là họ đã vượt xa chúng ta nhiều lắm."

"Ở các phương diện khác họ cũng vượt lên trước rồi," Pug nói. "Trong cuộc hỗn chiến mù quáng về Đạo luật Cho vay-Cho thuê này, chẳng ai nhắc đến chuyện đó cả. Có các nhà khoa học Anh ở bên phía chúng ta, chúng ta phải cảm thấy may mắn lắm rồi. Tốt nhất là phải cố hết sức giữ họ lại bên này."

"Tôi có khuynh hướng đồng ý với quan điểm của anh. Nhưng ở nhiều phương diện, chúng ta cũng vượt trước họ." Cohen nhả khói tẩu, liếc nhìn Pug một cái. "Trở về nhà thấy hạnh phúc chứ?"

"Hạnh phúc?" Pug bốc một nắm tuyết, vo thành quả cầu tuyết. Tuyết phát ra tiếng lạo xạo trong lòng bàn tay ấm áp của anh, khiến anh trong một khoảnh khắc trở về thời thơ ấu vui vẻ.

"Tôi bận đến mức không kịp nghĩ tới. Vâng, tôi nghĩ mình hạnh phúc." Anh ném quả cầu tuyết từ trên nóc xe xuống con ngõ vắng người. "Rhoda sống ở Berlin đến chán ngấy rồi, tôi ở đó một mình lại quá quạnh quẽ."

"Rhoda, cô ấy quả là một bà nội trợ xuất sắc," Cohen nói. "Tôi chưa từng tham dự bữa tiệc nào tốt hơn những bữa tiệc do cô ấy tổ chức. Thật là tài — cái cảnh cô ấy cứu bát súp đó." Cohen ngậm tẩu, cười một tiếng chói tai. "Thật là tài!"

"Trong các tài năng khác của cô ấy," Pug nói, "Rhoda còn luôn là một diễn viên nhào lộn đấy."

Cohen nhăn mặt. "Lạnh quá, phải không? Chúng ta vào thôi."

Họ gặp Madeline đang định ra ngoài trên cầu thang. Chiếc áo khoác lông cáo trắng của cô khoác chặt bên ngoài chiếc váy dài, chiếc khăn quàng đỏ trên tóc buộc chặt dưới cằm.

"Con đi đâu đấy?" cha cô hỏi.

"Con đã nói với mẹ rồi, con không đợi đến lúc tan cuộc được. Ông Cleveland từ Quantico trở về, con phải đi gặp ông ấy."

"Lát nữa khiêu vũ con có quay lại không?" Madeline hắt hơi. "Bố, con không chắc."

"Cẩn thận cái cảm lạnh của con đấy. Trông con đáng sợ lắm."

Hai người đàn ông đi vào. Madeline nắm lấy lan can gỗ, vội vàng bước xuống những bậc thềm trơn trượt. Khi Madeline đến nơi, một người bồi bàn đang bưng khay đựng một phần bánh sandwich và một ly Martini đôi đang gõ cửa phòng Hugh Cleveland. Giọng nói sang sảng quen thuộc đó nghe có vẻ hơi cáu kỉnh. "Cửa mở đấy, vào đi."

Ông chủ của cô đang ngồi đó trong chiếc áo choàng tắm bằng lụa màu tím không mấy phù hợp, đôi chân đi tất dài gác lên một chiếc bàn viết kiểu cổ. Ông đang gọi điện thoại, ghi chép bằng bút chì như đang ở trường đua ngựa. "Pelota thì sao?" ông vừa nói vừa hỏi.

"Ngày mai có chương trình gì hay không?" Ông vẫy tay với cô, bịt ống nghe lại.

"Này, Maddy! Anh tưởng em không đến được chứ. Ký vào cái này đi. Cho nó một đô la."

Người bồi bàn là một thanh niên trẻ tuổi có ánh mắt đờ đẫn, đang lảng vảng trong phòng. Trong lúc Cleveland nói chuyện với người kế toán, anh ta cười ngô nghê, hai mắt nhìn chằm chằm. "Ông Cleveland, tôi chỉ muốn nói với ông, tôi là một người hâm mộ của ông." Sau khi Cleveland cúp điện thoại, anh ta nói như vậy. "Tôi thực sự thấy ông rất tuyệt vời. Cả nhà chúng tôi đều nghĩ thế. Mỗi lần diễn nghiệp dư chúng tôi đều đi xem."

"Cảm ơn," Cleveland nói với vẻ mặt lờ đờ vì buồn ngủ, đồng thời dùng ngón tay vuốt mái tóc màu trà nhạt của mình. "Maddy, dùng chút gì không?"

"Cảm ơn, cho em một ly rượu đi, em bị cảm rồi."

"Cho cô ấy một ly đôi," Cleveland đột nhiên cười rất phong độ với người bồi bàn. "Cho tôi ba điếu xì gà Havana, nếu có thì lấy loại Montecristo nhé. Càng nhanh càng tốt."

"Vâng, thưa ông Cleveland."

"Quantico thế nào?" Madeline ném áo khoác lên ghế, ngồi xuống, hỉ mũi.

"Sân khấu rất tốt. Chỉ huy vô cùng phấn khích, ông ấy nghĩ đây là một chiêu trò tuyệt vời để tuyển mộ lính mới." Cleveland ngáp một cái, châm xì gà, rồi giải thích cho cô về sự sắp xếp liên quan đến chương trình phát thanh mà ông đã bàn bạc với chỉ huy. "Ông ấy dẫn tôi đi tham quan khắp doanh trại. Tôi đã xem một buổi diễn tập chiến đấu thực sự. Chà, những thủy thủ đó dùng đạn thật bắn vào đầu nhau đấy! Tôi chắc phải điếc mất một tuần." Nói đoạn, ông xoa xoa tai mình. "Tôi đoán họ sẽ không bắt em trải qua một trận như thế đâu."

"Em? Em đến đó sao?"

"Tất nhiên, ngày mai."

"Đến làm gì?"

"Đi chọn diễn viên. Mang hết hồ sơ lý lịch của từng người bọn họ đến. Hóa ra ở đó đã có một trò nghiệp dư rồi. Họ gọi nó là 'Giờ hạnh phúc'." Madeline nói: "Cái 'Giờ hạnh phúc' này là truyền thống lâu đời trong toàn quân đội đấy."

"Thật sao? Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến. Dù sao thì, như vậy cũng coi như nắm chắc phần thắng rồi." Anh ta mô tả sơ qua về việc sắp xếp cho cô đến Quantico.

Tiếng chuông cửa vang lên. Madeline sụt sịt mũi, chạy ra mở cửa. "Tôi cảm thấy hơi sốt. Tôi không muốn đến đó để thăm mấy thủy thủ ấy đâu."

Một cô gái nhuộm tóc đen đứng ở cửa, cười ngây ngô. Cô ta mặc một chiếc áo khoác vàng, đi đôi ủng tuyết cao cổ màu vàng, đôi môi tô son dày cộm lộ ra hàm răng bị ám khói thuốc. Ngay khi Madeline mở cửa, nụ cười của cô ta liền biến mất.

"Tôi đến tìm ông Hugh Cleveland."

"Bé cưng, đúng là ở đây rồi," anh ta nói lớn.

Cô gái bước vào phòng với những bước đi ngập ngừng, đôi mắt lén lút liếc qua liếc lại giữa Cleveland và Madeline.

"Chuyện này là thế nào?" cô ta hỏi.

"Đợi ở đó đi," anh ta nói, dùng ngón tay cái chỉ về phía phòng ngủ. "Tôi đến ngay."

Cô gái bước vào phòng ngủ rồi khép cửa lại. Madeline không thèm để ý đến nụ cười gượng gạo đầy bối rối của Cleveland, cô vơ lấy áo khoác, cố sức kéo một bên tay áo rồi lại kéo bên kia. "Chúc ngủ ngon, ngày mai tôi sẽ nói chuyện với anh sau."

"Đồ uống cô muốn sắp tới rồi đấy."

"Tôi không uống nữa. Tôi muốn về nhà. Tôi lạnh đến phát run rồi."

Cleveland đi chân trần bước tới, đặt tay lên trán cô. Cô gạt tay anh ta ra.

"Cô không có sốt."

"Xin đừng chạm vào tôi."

"Sao thế?"

"Tôi chỉ là không thích người khác chạm vào mình."

Người phục vụ gõ cửa rồi bước vào. "Thưa ông, hai phần Martini và một chai 'Bá tước Monte Cristo'."

"Tuyệt lắm, cảm ơn." Người phục vụ rời đi, Cleveland bưng khay đến trước mặt Madeline. "Nào, cởi áo khoác ra rồi uống đi."

Madeline đút hai tay vào túi áo khoác, nói: "Để một cô gái điếm đợi ở đó là không công bằng. Thứ duy nhất cô ta có thể bán chính là thời gian."

Miệng Hugh Cleveland vô thức há ra, anh ta nở một nụ cười khổ sở. "Ồ — Madeline Henry."

"Xin lỗi, tâm trạng tôi tệ quá. Chúc ngủ ngon."

Cleveland bước vào phòng ngủ, thì thầm điều gì đó. Cô gái kia nhét tiền vào chiếc ví vàng sáng bóng rồi từ phòng ngủ bước ra. Cô ta liếc nhìn Madeline với vẻ mặt thô lỗ, khó chịu và buồn bã rồi bỏ đi.

"Ngồi xuống, uống rượu của cô đi. Đây là toàn bộ thông tin về Quantico," anh ta vung vẩy một chiếc phong bì bằng giấy Manila, "gặp những ai, danh sách người biểu diễn. Ngày mai nếu cô thấy không khỏe thì gọi điện cho tôi. Tôi sẽ gọi Nat hoặc Arnold thay cô."

"Ồ, tôi đoán là mình làm được." Madeline ngồi xuống, đẩy áo khoác ra sau vai rồi uống rượu.

"Gia đình thế nào?"

"Rất tốt."

"Trong bữa tiệc có vị khách nào thú vị không?"

"Alistair Tudsbury là một."

"Tudsbury! Này, đó là một thiên tài đấy. Đó là người tôi rất muốn gặp. Tudsbury có phong cách riêng, giọng phát thanh thì cực phẩm. Nhưng ông ta vẫn chưa lên sóng 'Tin tức nhân vật nổi tiếng trong thành phố'. Còn ai nữa?"

"Chuẩn tướng Không quân Hoàng gia Bernard Walker."

"Chuẩn tướng có phải nhân vật lớn không?"

"Theo lời cha tôi thì, 'Trận chiến nước Anh' đại khái là do ông ấy chỉ huy."

Cleveland nhăn mũi, lại gác đôi chân lên bàn làm việc. "Ừm, không tệ. Nhưng 'Trận chiến nước Anh' chán ngắt, đúng không? Maddy, tôi không biết bây giờ ông ta còn có tầm quan trọng gì nữa. Khán giả đã chán ngấy 'Trận chiến nước Anh' rồi."

"Tôi không hề muốn mời ông ấy đến phát thanh."

"Tôi thì lại muốn." Cleveland nắm chặt hai tay, hai ngón tay chọc vào cằm đầy vẻ suy tư. Cuối cùng anh ta lắc đầu. "Không, ông ta lỗi thời rồi. 'Trận chiến nước Anh' chỉ là chuyện nhảm nhí."

"Còn Thượng nghị sĩ Lacouture nữa."

Đôi lông mày dày, màu trà nhạt của ông chủ cô nhướng lên. "À, ông ta mới là nhân vật nóng hổi. Phải rồi, chẳng phải ông ta là thông gia gì đó của nhà cô sao?"

"Con gái ông ấy đã kết hôn với anh trai tôi."

"Người ở trên tàu ngầm ấy à?"

"Không, người lái máy bay."

"Cô thấy thế nào? Lacouture có chịu đến New York không?"

"Chỉ cần có thể thúc đẩy 'Đạo luật Cho thuê', tôi thấy đến Seattle ông ấy cũng chịu."

"Dù sao thì 'Đạo luật Cho thuê' cũng là tin tức trang nhất — không phải là cứ bốn mươi người thì có một người hiểu rốt cuộc nó là gì. Chúng ta cứ hẹn Lacouture đi. Cô có muốn nói chuyện với ông ấy không?"

"Muốn," Madeline uống cạn rượu rồi đứng dậy.

"Tốt, nếu cô làm được thì xếp lịch cho ông ấy vào thứ Hai. Chương trình thứ Hai của chúng ta chán lắm."

Madeline khẽ vỗ vào chiếc phong bì trong tay, nhìn nó một cách lơ đãng. Rượu khiến cô thấy dễ chịu hơn một chút. "Anh biết đấy, ở tất cả các căn cứ hải quân đều có loại 'Giờ vui vẻ' này," cô nói. "Hầu như tàu nào cũng có. Trong doanh trại cũng vậy. Anh không thể tổ chức biểu diễn thêm một hai lần như thế này sao? Nó rất khác biệt."

Cleveland lắc đầu. "Maddy, chỉ có thể diễn một lần như vậy thôi, xem cho mới lạ. Món chính vẫn phải dựa vào diễn viên nghiệp dư chính quy."

"Nếu chúng ta tham chiến," Madeline nói, "người có tài năng đều sẽ nhập ngũ cả, đúng không? Khi đó khắp cả nước đâu đâu cũng là doanh trại."

"Ồ, có lẽ vậy." Anh ta nở nụ cười quyến rũ nhất, dùng ngón tay cái chỉ về phía cửa phòng ngủ. "Chuyện cô gái vừa rồi, xin lỗi nhé. Tôi cứ tưởng tối nay cô không đến."

"Yên tâm đi, chuyện này đối với tôi chẳng có nghĩa lý gì cả."

"Tôi biết cô không tán thành việc tôi làm. Vợ tôi cũng không tán thành. Các cô được giáo dục rất tốt."

"Tôi hy vọng là vậy."

"Nhưng cô phải hiểu, tôi không may mắn như các cô."

"Chúc ngủ ngon, Hugh."

"Này, nghe này," Cleveland gãi đầu, liếc nhìn cô một cách vui vẻ và thân thiện. "Nếu chúng ta thực sự tham chiến, cái 'Giờ vui vẻ' đó biết đâu lại là một chương trình hay. Bản thân nó có lẽ sẽ trở thành một chương trình liên tục. Maddy, lập một hồ sơ mới dán nhãn 'Ý tưởng thời chiến', đánh máy cái này vào bản ghi nhớ rồi để sang một bên đi."

"Được thôi."

"Cha cô là người hiểu rõ nội tình. Ông ấy nghĩ chúng ta sẽ tham chiến chứ?"

"Ông ấy nghĩ chúng ta đã tham gia vào rồi."

Cleveland vươn vai, ngáp một cái. "Thật sao? Nhưng chiến tranh dường như đã tan thành mây khói rồi. Đúng không? Bây giờ chẳng có động tĩnh gì, ngoại trừ Hy Lạp và châu Phi vẫn còn đang loạn lạc."

"Người Đức mỗi tháng đánh chìm hai mươi vạn tấn ở Đại Tây Dương đấy."

"Con số đó lớn à? Chắc là mọi thứ đều tương đối thôi. Tôi đoán Hitler đã thắng rồi." Cleveland lại ngáp một cái. "Được rồi Maddy, hẹn gặp lại khi cô về New York nhé." Sau khi Madeline rời đi, Cleveland nhấc điện thoại lên, ngáp ngắn ngáp dài.

"Cho tôi gặp quản lý phục vụ... Cleveland đây. Ồ, là anh à, Eddie? Tuyệt lắm. Anh nghe này Eddie, cô ta trông cũng được, nhưng lúc đó tôi đang bận. Tôi bảo cô ta đợi ở quầy bar một lát. Tóc đen, áo khoác vàng, ví vàng. Cảm ơn nhé, Eddie."

Một chương nhạc chậm trong bản giao hưởng của Brahms đang khiến Victor Henry thiu thiu ngủ, đột nhiên có người vỗ nhẹ vào ông, thì thầm đánh thức: "Đại tá Henry?" Có vẻ như cô gái làm nhân viên đón tiếp vừa phấn khích vừa tỏ ra kính trọng ông.

"Điện thoại từ Nhà Trắng cho ông ạ."

Ông nói nhỏ vài câu vào tai vợ rồi rời khỏi chỗ ngồi. Trong lúc bản giao hưởng kết thúc, khán giả đang vỗ tay, Rhoda quay lại nhìn chiếc ghế vẫn còn trống của ông rồi nói: "Pug chắc lại đến Nhà Trắng rồi."

"Cuộc đời người đàn ông không phải của riêng họ, đúng không?" Kirby nói.

"Từ trước đến nay đã bao giờ là của riêng họ đâu?" Pamela nói: "Ông ấy có đến dự tiệc khiêu vũ không?" Rhoda làm một cử chỉ không thể trả lời.

Khoảng một giờ sau, Victor Henry đứng ở lối vào phòng khiêu vũ lộng lẫy của khách sạn Shoreham, ảm đạm nhìn cảnh tượng trong phòng: sàn nhảy chật kín những vị khách ăn mặc sang trọng, trên sân khấu treo cờ Anh và Mỹ, dòng chữ "Phong trào gây quỹ viện trợ Anh" làm bằng lá vàng được treo hình vòng cung trên đầu dàn nhạc kèn đồng. Trên hai bàn tiệc buffet khổng lồ bày đầy thịt, rau diếp, phô mai và bánh ngọt, phía trước là hai hàng khách đang cười nói. Trong tin tức mà vị phó quan hải quân ở Nhà Trắng nói với ông, còn nhắc đến việc hai ngày qua lại có ba mươi vạn tấn hàng chìm xuống đáy Bắc Đại Tây Dương.

Alistair Tudsbury cùng một người phụ nữ tóc vàng khoảng bốn mươi tuổi nhảy nhót lướt qua ông, người phụ nữ đó từ ngực trở lên hoàn toàn để trần, chỉ đeo một chiếc vòng cổ kim cương. Cái bụng đeo dây xích vàng của gã phóng viên buộc người phụ nữ phải giữ khoảng cách với gã, mặc dù vậy, tinh thần của cô ta vẫn rất phấn chấn. Gã kéo lê cái chân đau nhảy múa, rõ ràng quyết tâm không để ý đến nó.

"À, Pug đến rồi! Anh bạn thân mến, cậu đang trợn mắt nhìn giống như Savonarola vậy."

"Tôi đang tìm Rhoda."

"Cô ấy ở đằng kia kìa. Cậu quen Elena Balsay chứ?"

"Chào nhé, Elena." Người phụ nữ tóc vàng cười khúc khích, vẫy ngón tay chào Henry. "Pamela không đến nhảy sao?"

"Nó về văn phòng rồi. Cô gái nghiêm túc đó đang làm thêm giờ để cống hiến cho tổ quốc đấy."

Tudsbury kéo cô bạn nhảy tóc vàng xoay vòng, dùng sức lực không hề phù hợp với vóc dáng và cái chân khập khiễng của gã. Victor Henry thấy vợ mình đang ngồi cùng Bam Kirby tại một chiếc bàn tròn nhỏ ở phía bên cạnh.

"Này, anh yêu!" cô nói lớn. "Cuối cùng anh cũng thoát ra được rồi! Đi lấy đĩa rồi đến chỗ chúng em đi. Thịt bê ở đây ngon lắm."

"Để tôi đi lấy cho," Kirby vội vàng đứng dậy nói. "Pug, anh ngồi đi."

"Không, không, Fred. Tôi phải đi rồi."

"Ôi, anh yêu," Rhoda nói, "anh không ở lại được một chút sao?"

"Không, tôi chỉ quay lại để nói với em là tối nay tôi không về nhà ngủ, có lẽ không chỉ một đêm đâu. Tôi phải về nhà thu dọn quần áo ngay đây, phải đi rồi."

Bam Kirby cười gượng gạo nói: "Tiếc là anh không thể ở lại, bữa tiệc này tuyệt lắm."

"Hai người cứ tận hưởng đi. Đến London thì anh không được sống cuộc sống như thế này đâu."

"Haizz, đen đủi thật." Rhoda nói. Pug cúi xuống hôn lên má vợ. "Xin lỗi em yêu, em cứ nhảy cho thỏa thích nhé." Cái bóng lưng mặc đồ màu xanh biến mất trong đám người khiêu vũ.

Rhoda và Bam Kirby ngồi đó không nói gì. Nhạc Jazz vang lên dồn dập. Từng cặp đôi lướt qua họ, đôi khi chào Rhoda: "Một bữa tiệc thật sảng khoái! Em yêu, tuyệt quá." Khi Kirby đẩy chiếc đĩa còn một nửa đang dần nguội lạnh ra xa, cô đang mỉm cười vẫy tay với người chào mình. "Vậy thì, ngày mai bảy giờ tôi sẽ đi New York. Tốt nhất tôi nên về ngủ. Bữa tiệc rất tuyệt, buổi hòa nhạc cũng rất xuất sắc. Rhoda, cảm ơn em."

"Bam, em còn phải ở lại khoảng nửa tiếng nữa." Mặt Kirby đờ đẫn. Đôi mắt nâu của anh ta lộ vẻ xa cách và u sầu. Rhoda nói: "Trước khi anh đến London, em còn gặp được anh không?"

" e là không."

Cô nhìn anh ta bằng ánh mắt cảnh giác, thăm dò, thong thả lau miệng bằng khăn ăn. "Em tiễn anh ra ngoài."

Trong tiền sảnh đông đúc, Rhoda dừng lại trước một chiếc gương soi toàn thân, chải tóc, thỉnh thoảng liếc nhìn Kirby qua gương. Cô dùng giọng điệu tán gẫu hết sức bình thường nói: "Thật xin lỗi, em vốn định Pug vừa về là nói chuyện với anh ấy ngay. Nhưng từ khi nhận công việc mới này, anh ấy lúc nào cũng bận tối mắt tối mũi, hơn nữa sau khi về nhà anh ấy cảm thấy rất thư thái, em thực sự không nói ra được. Không có lý do nào khác cả." Kirby gật đầu với vẻ mặt lạnh lùng.

Cô nói tiếp: "Được rồi. Sau đó lại xảy ra chuyện này: Byron kết hôn với cô gái đó ở Lisbon. Vì chuyện này mà hai đứa em phải mất bao nhiêu ngày mới bình tĩnh lại được, nhưng ngay sau đó lại đến chuyện Janice, lại còn mang bụng bầu các thứ, ý em là sắp được làm ông bà lần đầu tiên — anh yêu, anh chỉ có thể để em chọn thời điểm thích hợp thôi. Dù sao thì, chuyện này cũng chẳng dễ dàng gì."

"Rhoda, giữa em và Pug có rất nhiều thứ ràng buộc hai người, anh hiểu rõ điều đó." Cô quay lại nhìn thẳng vào anh ta, rồi tiếp tục chải tóc.

"Chúng em có sao?"

Anh ta nhíu mày nhìn bóng cô trong gương nói: "Tối nay trong lòng anh rất khó chịu. Rhoda, anh thực sự muốn kết hôn một lần nữa. Về điểm này, chưa bao giờ anh cảm thấy mãnh liệt như trong bữa tiệc tối nay của em."

"Bam, vì trời cao, đừng đưa tối hậu thư cho em. Em không chịu nổi áp lực đâu." Rhoda quay người lại đối diện với anh ta, nói rất nhanh, đồng thời liếc nhìn khắp tiền sảnh, mỉm cười với một người phụ nữ mặc lễ phục váy dài bằng satin màu cam đang lướt qua cạnh cô. "Nếu không thì, anh yêu, anh muốn làm gì thì làm. Sao anh không mang một người vợ Anh về? Anh sẽ thấy ở đó có hàng tá người phụ nữ xinh đẹp đang khao khát ngưỡng mộ anh, họ cũng sẵn lòng đến Mỹ."

"Anh sẽ không mang người vợ Anh nào về đâu." Anh ta nắm lấy tay cô, nhìn lên nhìn xuống rồi đột nhiên mỉm cười. "Lạy Chúa, tối nay em đẹp quá! Bữa tiệc của em thật tuyệt, và buổi khiêu vũ này là một thành công to lớn. Em đúng là người biết tổ chức công việc. Anh đoán là trước tháng Năm anh sẽ không về đâu. Khoảng thời gian này chắc là đủ rồi. Em biết là đủ rồi mà. Tạm biệt."

Rhoda quay lại bữa tiệc, lòng nhẹ nhõm hơn nhiều. Khoảnh khắc cuối cùng đã làm sáng tỏ bầu không khí. Trước tháng Năm, trò ảo thuật của cô vẫn có thể tiếp tục.

Pamela Tudsbury đeo kính gọng đen kiểu cú mèo, mặc lễ phục buổi tối màu tím nhạt, kiểu tóc tinh tế, đang gõ máy chữ lạch cạch, chiếc máy chữ được chiếu sáng bởi một chiếc đèn bàn — phần còn lại của văn phòng nhỏ tồi tàn, không cửa sổ đó tối mờ mờ. Có tiếng gõ cửa.

"Ôi chao, đến nhanh thật!" Cô mở cửa. Người đến là Victor Henry. Ông đội mũ phớt nâu, mặc áo khoác nâu, xách một chiếc vali vải đựng đồ ngủ. Cô đi đến chiếc bàn nhỏ, nơi có một bình cà phê bằng thủy tinh chịu nhiệt đang bốc hơi giữa đống giấy tờ, tập sách và sách kỹ thuật. "Em nhớ ông thích cho đường, không cho sữa."

"Trí nhớ tốt thật."

Cô rót hai tách cà phê rồi ngồi xuống chiếc ghế xoay cạnh máy chữ. Họ nhâm nhi cà phê, nhìn nhau dưới ánh đèn.

"Cô ăn mặc thế này thật không phù hợp chút nào," Pug Henry nói.

"À, em biết chứ. Nhưng tám giờ sáng mai ông ấy cần rồi," cô tháo kính, dụi mắt. "Hoặc là đêm nay đánh máy xong, hoặc là sáng mai em phải bò dậy lúc năm giờ. Em không buồn ngủ. Em chẳng muốn khiêu vũ hay đi ăn uống gì cả."

"Cô đang làm gì vậy?"

Cô ngập ngừng một chút rồi mỉm cười. "Em dám chắc ông biết về việc này nhiều hơn em. Phụ lục về tàu đổ bộ."

"Ồ, cái đó à. Là một tài liệu không tệ nhỉ?"

"Đọc cứ như là một giấc mơ vậy. Nước Mỹ thực sự có thể cải tiến tất cả những thiết kế đó, chế tạo hàng ngàn cỗ máy như vậy trước năm 1943 sao?"

"Chúng ta có thể, nhưng tôi không có lý do gì để tin là chúng ta sẽ làm thế. Thứ cô đang đánh máy không phải là một mệnh lệnh hành động, đó chỉ là một kế hoạch."

Ông rất thích ở riêng với cô trong căn phòng nhỏ, u ám và ánh sáng lờ mờ này. Bộ lễ phục hở hang mà Pamela mặc đi dự tiệc tuy không phù hợp với môi trường này, nhưng lại khiến ông cảm thấy cô đáng yêu hơn: giống như một bó hoa violet đặt trên một xấp bản ghi nhớ in ronéo vậy. Ông nói bằng giọng khàn khàn: "Ted Gallard có tin tức gì không?"

"Em vừa nhận được thư của thiếu tá viết cho anh ấy hôm qua. Chuyện dài lắm. Ý chính là: ba tù binh Không quân Hoàng gia cùng bệnh viện với anh ấy đã trốn thoát. Họ chạy ra biển, được cứu và đưa về nước. Ted vốn định trốn thoát cùng họ. Nhưng sau lần ông đến thăm, anh ấy được chuyển sang phòng đơn, đồng thời bị giám sát đặc biệt. Nên anh ấy không trốn được. Họ cho rằng hiện tại đã dùng tàu đưa anh ấy sang Đức, nhốt vào trại tù binh của Không quân Hoàng gia. Đó là đại khái diễn biến. Chắc chắn họ không đối xử tệ với anh ấy, lý do rất đơn giản: chúng ta đang giữ rất nhiều phi công Không quân Đức trong tay. Nhưng ông có thể hiểu tại sao hiện tại em không đặc biệt muốn đi dự những bữa tối và tiệc khiêu vũ sang trọng nào cả."

Victor Henry liếc nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường. "Vậy ra, anh ta không trốn thoát được là do tôi."

"Ông nói gì vậy."

"Không, đó là sự thật. Cô biết đấy, trước khi tôi nói chuyện với Không quân Đức về anh ta, tôi đã từng do dự. Tôi đoán là sẽ gây chú ý đến anh ta, cho anh ta một địa vị đặc biệt. Lúc đó tôi không chắc là có lợi hay có hại cho anh ta. Đôi khi tốt nhất là cứ để mọi chuyện thuận theo tự nhiên."

"Nhưng chính em đã bảo ông cố gắng tìm hiểu tình hình của anh ấy mà."

"Đúng, là cô bảo tôi làm như vậy."

"Ông đã giúp em bớt đau khổ trong hai tháng qua."

Ông nói: "Dù sao thì mọi chuyện cũng đã làm rồi. Bây giờ cô biết anh ta vẫn còn sống, đó mới là điều quan trọng. Pam, tôi rất vui khi nghe tin này. Được rồi, tôi nghĩ mình phải đi đây."

"Đi đâu ạ?" Ông cười khổ sở đầy ngạc nhiên nói: "Cô nên hiểu đây là chuyện không hỏi được."

"Nếu là cơ mật thì ông cứ việc bảo em đừng hỏi nữa. Không phải ra nước ngoài chứ?" ông chỉ chiếc vali nhỏ. "Không thể nào."

"Vì chúng ta sắp kết thúc ở đây rồi," cô nói. "Nếu vậy, có lẽ em sẽ rất lâu không được gặp ông nữa."

Pug cúi người về phía trước, khuỷu tay chống trên đầu gối, nắm chặt hai tay. Đối với việc tiết lộ cho Pamela những điều chưa bao giờ kể với vợ mình, ông không hề do dự. Dù sao thì cô cũng hiểu nội tình gần như ông. "Pam, mấy tuần nay xoang của Tổng thống không tốt. Gần đây ông ấy lại bị sốt. Cơn sóng gió 'Đạo luật Cho thuê' này cũng chẳng giúp ích gì cho bệnh tình của ông ấy. Ông ấy định đi tàu hỏa đến Hyde Park nghỉ ngơi vài ngày, tĩnh dưỡng nghiêm ngặt. Tôi được cử đi cùng ông ấy trên tàu. Chuyện này thực sự nằm ngoài dự đoán của tôi. Tôi cứ tưởng — và hy vọng — ông ấy đã quên tôi rồi."

Cô mỉm cười. "Quên ông không dễ thế đâu. Ông biết ông là một huyền thoại trong Bộ tư lệnh máy bay ném bom mà. Một sĩ quan hải quân Mỹ, chỉ vì tìm niềm vui mà dám ngồi lên một chiếc Wellington bay vào tầm bắn của pháo cao xạ ở Berlin."

"Lần đó thật buồn cười," Pug nói. "Suốt cả chuyến bay tôi đều ngồi xổm trong cabin, nhắm chặt mắt, lấy ngón tay bịt tai. Đến tận bây giờ, cứ nghĩ đến việc lỡ bị bắn rơi rồi bắt sống là tôi vẫn còn run! Sĩ quan tùy viên hải quân Mỹ tại Berlin lại ngồi trên một chiếc máy bay ném bom của Anh bay trên bầu trời Đức! Lạy Chúa, cô đã giận tôi vì chuyến đó đấy."

"Em thực sự rất giận."

Pug đứng dậy, cài cúc áo khoác. "Cảm ơn tách cà phê của cô. Từ khi tôi cai cà phê để mặc quân phục, lúc nào tôi cũng muốn uống nó."

"Bữa tiệc tối nay tuyệt lắm. Victor, vợ ông thực sự rất xuất sắc. Cô ấy thật tài giỏi. Cô ấy vớt cái bát súp đó lên không trung như một nhà ảo thuật, hơn nữa cô ấy còn đẹp như vậy."

"Rhoda không tệ. Không ai cần phải tâng bốc cô ấy với tôi cả." Pamela đeo kính vào, thay một tờ giấy khác vào máy chữ.

"Vậy, tạm biệt nhé," Pug nói, rồi ngượng ngùng nói thêm: "Có lẽ trước khi cô về nước tôi vẫn còn gặp được cô."

"Thế thì tốt quá." Cô đang liếc nhìn một tờ giấy viết rất nguệch ngoạc bên cạnh máy chữ. "Ông biết không, em rất nhớ ông, ở đây nhớ ông hơn ở London."

Những lời này Pamela nói một cách tự nhiên với vẻ điềm tĩnh đặc trưng của mình. Victor Henry đã đặt tay lên nắm cửa, ông dừng lại, hắng giọng. "Ồ, Rhoda cũng phàn nàn như vậy. Tôi luôn vùi đầu vào công việc của mình."

"À, em hiểu," cô ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng sau cặp kính nhìn ông đầy thẳng thắn. "Vậy thì, Đại tá Henry, ông không muốn Tổng thống đợi mình đâu."

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »