Đối với các chuyên gia quân sự, "Sân bay Clark" chính là mật danh cho sự thất bại của Mỹ, nghiêm trọng không kém gì Trân Châu Cảng. Một khi căn cứ không quân chủ lực này của lục quân trên đảo Luzon bị hủy diệt, Philippines mất đi lá chắn trên không, hạm đội châu Á buộc phải tháo chạy về phía nam, những hòn đảo và quần đảo giàu tài nguyên ở Nam Hải lập tức phơi mình trước kẻ xâm lược. Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì ở đó, cho đến nay vẫn chưa có một lời giải thích hợp lý. Thế nhưng Quốc hội chưa từng tiến hành điều tra, cũng chẳng có lấy một người nào bị cách chức. Lịch sử vẫn cứ bỏ mặc Sân bay Clark, chỉ ghi nhớ Trân Châu Cảng. Hai thảm họa lớn cách nhau năm ngàn dặm xảy ra trong cùng một ngày quả thực là điều đau lòng, thế là lịch sử giống như một biên tập viên lão luyện, đã cắt bỏ đi phần trùng lặp.
Sự kiện Sân bay Clark chậm hơn sự kiện Trân Châu Cảng nửa ngày, bởi vì dù kế hoạch của người Nhật có tinh vi đến đâu, cũng không thể sắp xếp để mọi nơi cùng hửng sáng một lúc. Họ từ bỏ hy vọng tập kích bất ngờ Philippines vì mặt trời cần năm tiếng đồng hồ để vượt qua đại dương từ Hawaii. Các máy bay ném bom của họ chờ thời tiết tốt rồi cất cánh từ Đài Loan, bay rầm rập đến thẳng không phận đảo Luzon ngay trước buổi trưa, vốn dự tính hòn đảo sẽ trong tư thế sẵn sàng nghênh chiến và kháng cự mãnh liệt. Sau khi tin tức Trân Châu Cảng bị ném bom truyền tới, các trạm quan sát mặt đất chuyển sang chế độ thời chiến đã theo dõi đội hình máy bay tấn công bay qua bờ biển hướng thẳng tới mục tiêu, đồng thời gửi hàng loạt báo cáo về bộ chỉ huy. Thế nhưng, những máy bay ném bom đó lại không hề vấp phải bất kỳ sự kháng cự nào, họ phát hiện đội hình khổng lồ gồm máy bay chiến đấu và máy bay ném bom của Lực lượng Không quân Viễn Đông đang xếp hàng ngay trên sân bay. Sự kiện đáng xấu hổ này đến nay vẫn là một bí ẩn. Lần này, người kinh ngạc lại là người Nhật; tuy nhiên sự kinh ngạc đó lại vô cùng dễ chịu. Họ tiêu diệt sạch sành sanh không quân của Tướng MacArthur rồi bay đi. Như vậy, chỉ trong vòng mười lăm phút, mọi hy vọng ngăn cản người Nhật tiến quân xuống Nam Dương đều tan thành mây khói. Thứ còn lại cho quân Mỹ tại địa phương không gì khác ngoài việc rơi vào đường cùng và đầu hàng.
Người Nhật lập tức nắm lấy thắng lợi kinh người này. Bước đầu tiên là phải khiến Hải quân Mỹ không thể đứng vững tại vịnh Manila. Hai ngày sau sự kiện Sân bay Clark, một đội hình máy bay ném bom lớn bay đến, phá hủy căn cứ hải quân Cavite một cách tỉ mỉ và chu đáo. Họ làm việc rất thong dong vì không cần lo lắng về phòng không của quân Mỹ. Tàu "Squid" và Byron Henry là những người chịu đòn đầu tiên trong trận ném bom của người Nhật: đó cũng là lý do dẫn đến báo cáo sai lệch lần đầu tiên đó. Thứ bị đánh chìm ở Cavite là một chiếc tàu ngầm cùng loại khác mang tên "Sea Lion".
Khi cuộc tấn công vừa bắt đầu, Byron đang ở trên bờ, dẫn theo một tổ công tác vận chuyển ngư lôi. Tiếng còi báo động không kích kinh hoàng vang lên ngay gần xưởng ngư lôi rộng lớn. Cần cẩu trên cao khựng lại với một tiếng "cạch". Tiếng ầm ầm và âm thanh chói tai của máy móc sửa chữa cũng im bặt. Các quản đốc, ngư lôi thủ và thợ máy mặc bộ đồ công tác dính đầy dầu mỡ chạy ra khỏi chỗ ngồi và máy tiện, tiến về vị trí chiến đấu.
Tổ của Byron đã chất bốn quả ngư lôi lên xe tải. Anh quyết định chất thêm hai quả nữa rồi mới đi, vì mệnh lệnh anh nhận được là sáu quả, hơn nữa kể từ sau sự kiện Sân bay Clark, những đợt báo động giả thường xuyên xảy ra. Thế nhưng cần cẩu đã dừng, việc di chuyển một quả ngư lôi Mark 14 đã lắp ráp hoàn chỉnh - một ống thép nặng một tấn rưỡi chứa đầy thuốc nổ, nhiên liệu đẩy và động cơ - trở thành một công việc chậm chạp. Các thủy thủ tàu "Squid" mồ hôi nhễ nhại đang móc một quả ngư lôi vào dây cáp của xe cẩu, ngư lôi thủ hạng nhất dưới quyền Byron liếc nhìn về phía chân trời rồi nói: "Ông Henry, chúng bay tới kìa."
Trên tàu "Squid", mắt của Hanson là tinh nhất. Byron phải mất nửa phút mới nhìn ra đội hình chữ V chỉnh tề tạo thành từ những đốm nhỏ màu xám bạc, lấp lánh trên bầu trời xanh, cao hơn nhiều so với những chiếc máy bay Đức mà anh từng thấy trên bầu trời Ba Lan. Cảm giác lúc ở Warsaw năm nào - sợ hãi, phấn khích cùng yêu cầu phải nhanh mắt nhanh tay - lại siết chặt lấy anh.
"Chúa ơi, thật đấy, phải đến năm sáu mươi chiếc," anh nói.
"Tôi đếm được năm mươi bảy chiếc. Đang bay về phía này, thưa ông. Góc mục tiêu bằng không."
"Đúng rồi. Nào, chúng ta mau chất hàng thôi." Người thủy thủ lái xe cẩu khởi động động cơ, sợi dây xích treo ngư lôi căng cứng.
"Dừng lại!" Byron nghe thấy một tiếng nổ từ xa, bèn hét lên. Nhiều quả bom nổ hơn, âm thanh ngày càng gần. Nền xi măng rung chuyển. Kể từ khi rời Warsaw, đây là lần đầu tiên Byron nghe thấy thứ âm thanh quen thuộc đó - một tiếng rít ngày càng lớn, ngày càng chói tai.
"Nấp đi!"
Các thủy thủ chui xuống dưới xe tải và một chiếc bàn làm việc cồng kềnh gần đó. Một tiếng nổ vang lên gần xưởng, theo sau là hàng loạt âm thanh xung quanh, mặt đất rung chuyển, Byron cũng lao xuống dưới bàn làm việc, nằm trên nền xi măng thô ráp phủ một lớp dầu mỡ. Chỗ này rất hẹp. Mặt anh ép chặt vào bộ đồ công tác thô cứng của ai đó. Byron chưa từng trải qua trận ném bom nào như vậy. Nghe thấy những tiếng nổ rung chuyển mặt đất từng đợt từng đợt, anh liên tục cảm thấy nỗi đau nhói trong lòng, nghiến răng ken két. Anh cảm thấy cơ hội sống chết là năm mươi năm mươi, như thể phút tiếp theo sẽ bị bom nổ chết. Nhưng tiếng ồn ào cuối cùng cũng giảm dần, cuộc ném bom chuyển sang phần khác của căn cứ. Anh bò ra, chạy ra ngoài. Khắp nơi là khói lửa cuồn cuộn, từng bức tường bắt đầu đổ sụp. Trên bầu trời xanh trong, những đốm lửa cao xạ nổ yếu ớt ở tít phía dưới các máy bay ném bom. Xuyên qua làn khói, những chiếc máy bay ném bom đó trông rất rõ nét. Các thủy thủ tàu "Squid" tụ tập hỗn loạn xung quanh Byron, phủi bụi trên người, nhìn chằm chằm vào đám cháy.
"Này, ông Henry, có vẻ không ổn rồi, đúng không?"
"Chúng ta quay về tàu thôi được không?"
"Đợi chút đã."
"Chúng ta còn phải chất nốt ngư lôi không?"
Byron vội vã đi xuyên qua xưởng đang bốc khói để xem xét tình hình phía bên kia. Hanson đi theo anh. Hanson là một cựu binh tàu ngầm tháo vát, một người Thụy Điển béo mập có nhà ở Oregon, cao hơn sáu feet, để một bộ râu quai nón màu vàng kim, chiếc thắt lưng thắt chặt dưới cái bụng phệ. Hanson không được lên chức tiểu đội trưởng là vì có lần ở Honolulu đã chống lại ba cảnh sát tuần tra bờ biển của Thủy quân lục chiến, đánh một tên bị chấn động não, một tên khác bị gãy tay. Ông ta thích Byron, dạy cho anh rất nhiều thứ mà không hề tỏ ra là đang dạy. Byron để râu một phần cũng là vì đồng cảm với Hanson, bởi thuyền trưởng luôn gây khó dễ cho người Thụy Điển cứng đầu này, bắt ông ta hoặc là tỉa râu cho gọn, hoặc là cạo sạch.
Phía bên kia xưởng ngư lôi, gió biển thổi vào khiến đám cháy bùng lên ầm ầm, lách tách. Trên đường phố, một quả bom nổ tạo thành cái hố lớn; nước phun lên từ đường ống chính bị vỡ. Những tia lửa điện màu xanh bắn ra dày đặc từ các sợi dây cáp ngầm bị nổ đứt méo mó. Ba chiếc xe tải hạng nặng của hải quân dừng lại bên cạnh cái hố đang bốc khói, ba tài xế người Philippines đang trò chuyện bằng tiếng Tagalog, nhìn vào trong hố.
Tiếng hét của Byron át cả mớ hỗn độn này: "Có vẻ như chúng ta sắp bị mắc kẹt ở đây rồi, Hanson, ông nghĩ sao?"
"Tôi cũng không rõ, ông Henry. Nếu những chiếc xe tải này có thể điều đi, chúng ta có thể vòng qua bộ chỉ huy để lái ra ngoài."
Một tài xế gọi Byron: "Này, chúng tôi có thể lái xe qua cái xưởng này không? Có đường nào lên cầu tàu không?"
Byron lắc đầu, cố nâng giọng át tiếng còi báo động chói tai và tiếng hét của lính cứu hỏa đang kéo vòi rồng dọc theo con phố: "Đường bên kia bị chặn hết rồi! Lửa lớn lắm, nhiều bức tường đổ sập rồi!"
Hanson nheo mắt, ngước nhìn làn khói đặc quánh và ngọn lửa đang cuộn theo chiều gió, nói: "Ông Henry, lửa sắp lan vào xưởng này rồi, đám ngư lôi này sẽ tiêu tùng hết." Byron hiểu lời cảnh báo ẩn chứa trong lời nói của người ngư lôi thủ này. Không có ngư lôi, phân đội tàu ngầm còn có tác dụng gì nữa? Không đủ ngư lôi, ai cũng biết đó là một vấn đề nan giải.
Anh nói: "Được rồi, nếu ông biết lái cần cẩu trên cao, chúng ta có lẽ còn kéo thêm được vài quả nữa." Hanson gãi gãi cái đầu hói. "Ông Henry, tôi không phải là tài xế cần cẩu."
Một người dân thường gầy gò mặc đồ công tác, đội mũ cứng màu nâu đang đứng cạnh vũng nước, ông ta nói: "Tôi là tài xế cần cẩu. Các anh cần làm gì?"
Byron quay sang nói với tài xế người Philippines: "Các anh giúp chúng tôi một tay được không? Chúng tôi muốn chuyển một số ngư lôi ra khỏi đây."
Người Philippines đó nhanh chóng trao đổi ý kiến bằng tiếng Tagalog với mấy tài xế khác rồi nói: "Được! Đi đâu?"
"Đi thôi," Byron nói với người dân thường kia. "Ngay trong xưởng này. Đó là một chiếc cần cẩu trên cao."
"Tôi biết rồi, chàng trai."
Lúc này, tại vịnh mũi Sangley, một chiếc ca nô màu xám lao nhanh tới cập sát tàu "Squid" đang trên đường tới căn cứ tàu ngầm Bataan. Đây là ca nô của Reed Talley, ông ta đưa thuyền trưởng tàu "Squid" từ căn cứ trở về tàu. Blanche Huuban nhảy từ ca nô lên boong trước của tàu ngầm, lúc này Đại tá Talley hét lớn qua loa phóng thanh lên đài chỉ huy: "A-hôi, 'Squid'! 'Sea Dragon' và 'Sea Lion' thế nào rồi?"
Ester chụm hai tay quanh miệng nói: "Khi chúng tôi rời đi, chúng đều không sao, thưa ông. Nhưng chúng đang đậu cạnh nhau ở đó, không nhúc nhích được. Không có động lực ạ."
"Ôi, Chúa ơi. Bảo Blanche dừng tàu ngầm ở gần đây. Tôi đi xem thế nào."
"Có cần lặn không, thưa ông?"
"Không cần, trừ khi các anh bị tấn công."
Khi Huuban lên đài chỉ huy, chiếc ca nô vụt đi. "'Phu nhân', tình hình của Blani và tổ công tác thế nào rồi?"
Ester chỉ tay về phía căn cứ hải quân sau lưng, nơi đó là một vùng lửa cháy ngùn ngụt, những cột khói xông thẳng lên trời. "Họ vẫn chưa lộ diện. Lúc đó tôi nghĩ tốt nhất là nên rời khỏi đó, thuyền trưởng."
"Rất đúng. May mắn là chúng ta có một người trên tàu."
Một lát sau, chiếc ca nô quay lại. Người lái tàu điều khiển nó áp sát vào, Talley lên tàu "Squid"; ông ta mặt cắt không còn giọt máu, khàn giọng nói: "Tệ rồi. Chúng đều trúng bom cả. Tôi thấy 'Sea Lion' xong đời rồi - nó đang cháy, khoang máy phía sau bị ngập nước, đang chìm nhanh chóng. 'Pigeon' đang cố gắng kéo 'Sea Dragon' ra một bên. Tốt nhất anh nên quay lại đó, Blanche, xem có cách nào không."
"Rõ, rõ, thưa ông." Một chiếc xuồng máy đánh cá bẩn thỉu lạch bạch chạy về phía tàu "Squid".
"Lúc này sẽ là ai đây?" Talley nói. Huuban dùng tay che mắt. "Này, 'Phu nhân', đó là Pierce phải không?"
"Là cậu ấy, là Pierce, thưa ông." Đại úy Ester dùng ống nhòm nhìn rồi nói.
Các thủy thủ chạy lên boong trước, giúp người thủy thủ trẻ leo lên tàu. Cậu ta lên đến đài chỉ huy, mắt trắng dã, miệng đỏ lòm, trông như một ca sĩ bôi mặt đen đóng vai người da đen. "Đại tá, ông Henry phái tôi tới báo với ông rằng tổ công tác vẫn bình an vô sự."
"Ái chà, tạ ơn Chúa! Họ đang ở đâu?"
"Họ đang vận chuyển ngư lôi từ xưởng ngư lôi ra ngoài ạ." Talley hét lên: "Xưởng ngư lôi? Ý cậu là nó vẫn chưa sụp đổ?"
"Chưa ạ, thưa ông. Ngọn lửa có vẻ thổi về hướng khác, nên ông Henry và Hanson đã lấy được một số xe tải, và—"
"Cậu đi với tôi," Talley nói. "Blanche, tôi quay lại đó đây."
Thế nhưng khi chỉ huy trung đội và người thủy thủ đó tới được căn cứ hải quân đang cháy rực, thì không còn con đường nào có thể dẫn tới xưởng ngư lôi nữa. Những tòa nhà đổ sụp và đống đổ nát bốc khói đã chặn mọi con đường dẫn tới khu vực cầu tàu. Talley lái một chiếc xe Jeep trưng dụng, xuyên qua làn khói cuồn cuộn, tránh các hố bom, gạch vụn cũng như những chiếc xe cứu thương đang gào thét chạy qua, loay hoay vòng vèo trong vô vọng. "Đại tá Talley, tôi nghĩ, tôi thấy những chiếc xe tải đó rồi." Pierce nói. Cậu chỉ vào một bãi cỏ bên kia cây cầu nhỏ, nơi đó chật kín xe cộ, xe cứu thương và người đi bộ. "Thấy chưa? Ngay bên cạnh cái tháp nước đó ạ."
"Chiếc xe tải lớn màu xám đó hả?"
"Vâng, thưa ông. Tôi nghĩ, họ ở ngay đó ạ."
Talley lái xe Jeep ra ngoài đường rồi dừng lại, chen qua cầu. Ông phát hiện Byron Henry đang ngồi trên đống ngư lôi trên xe tải, đang uống Coca-Cola. Tay, mặt, râu của anh toàn là muội than, gần như không thể nhận ra. Ba chiếc xe tải chất đầy ngư lôi, hai chiếc xe cẩu cũng chở đầy. Một chiếc xe tải quân sự nhỏ chất cao những thùng gỗ có in chữ và đủ loại hộp. Các tài xế người Philippines ngồi trên bãi cỏ, ăn bánh mì kẹp thịt, nói chuyện cười đùa bằng tiếng Tagalog. Người của tổ công tác tàu "Squid" đều mệt mỏi rã rời, nằm la liệt ở đó, chỉ có Hanson ngồi đó hút tẩu thuốc, dựa lưng vào chiếc lốp xe tải lớn mà Byron đang ngồi.
"Này, Byron," Talley gọi.
Byron quay người lại, muốn nhảy dựng lên, nhưng trên đống ống dài tròn trịa đó thì không thể làm được. "Ồ, chào buổi chiều, thưa ông."
"Cậu lấy được bao nhiêu quả?"
"Hai mươi sáu quả, thưa ông. Sau đó buộc phải rời đi. Lửa áp sát tới rồi."
"Tôi thấy cậu còn đào được cả một xe tải linh kiện nữa."
"Đó là ý của Hanson, thưa ông."
"Hanson là ai?"
Byron chỉ vào người ngư lôi thủ đó, ông ta vừa nhận ra Đại tá Talley liền lập tức đứng bật dậy.
"Cậu cấp bậc gì?"
"Ngư lôi thủ hạng nhất, thưa ông."
"Vậy thì cậu sai rồi. Cậu là tiểu đội trưởng ngư lôi rồi."
Bộ râu quai nón của Hanson nở ra, mỉm cười rạng rỡ. Ông nhìn Thiếu úy Henry, đôi mắt sáng rực. Talley nhìn quanh kho báu ngư lôi vừa cứu được. "Có kíp nổ không?"
"Có ạ, thưa ông."
"Vậy tốt lắm. Cậu đưa đợt hàng này đến Mariveles đi."
"Rõ, rõ, thưa ông."
"Byron, về chuyện này tôi muốn một bản báo cáo, viết rõ tên, cấp bậc của nhân viên tổ công tác và những tài xế này."
"Rõ, thưa ông."
"Còn cách nào lấy thêm ngư lôi từ đó ra không?"
"Điều đó phải xem ngọn lửa này để lại được bao nhiêu, thưa ông. Lúc chúng tôi đi, xưởng vẫn chưa cháy, nhưng lúc này - thì tôi không biết nữa."
"Được rồi. Việc này tôi sẽ lo. Các cậu đi đi."
Sáng hôm sau, Byron đi gặp Đại tá Talley. Vị chỉ huy trung đội này đang ngồi làm việc tại bàn giấy trong một ngôi nhà di động trên bãi biển cảng Mariveles. Cảng biển này là một vịnh nhỏ sâu thuộc bán đảo Bataan nhiều núi. Phía sau cái đầu trọc bóng loáng của Talley, một tấm bản đồ lớn vịnh Manila màu xanh vàng gần như che kín bức tường bảng trắng. Byron đưa cho ông bản báo cáo hai trang. Talley xem qua một lượt rồi nói: "Tài liệu này ngắn quá."
"Sự thật và tất cả tên tuổi, cấp bậc đều ghi trong đó rồi ạ, đại tá."
Talley gật đầu, đặt báo cáo vào giỏ đựng tài liệu. "Blanche bảo tôi, cậu ghét viết công văn."
"Rất xin lỗi, thưa ông, tôi không có cái tài đó."
"Vậy, cậu ấy đã nói với cậu tại sao tôi lại tìm cậu chưa?"
"Là về việc cứu hộ vật tư, thưa ông."
"Byron, lũ quỷ Nhật sắp đổ bộ rồi. Chúng ta có lẽ không giữ nổi Manila. Chỉ cần MacArthur còn bám lấy Bataan, trung đội này có thể tiếp tục tác chiến từ Mariveles. Cái nơi quỷ quái này gần Nhật Bản hơn nhiều so với bất kỳ căn cứ tàu ngầm nào khác mà chúng ta hiện có hoặc có thể có trong một thời gian dài." Talley đứng dậy, chỉ vào bức tường. "Vì vậy, ý tưởng của chúng tôi là rút mọi vật tư còn lại, miễn là chúng ta dùng được, từ Cavite và Manila về đây. Cậu có vẻ có tài làm người dọn dẹp đấy." Talley cười. Byron cũng lịch sự cười đáp lại. "Trước khi tàu 'Squid' ra khơi tác chiến, cậu làm việc này đi. Thiếu tá Percival phụ trách công việc này, bây giờ cậu đến bộ chỉ huy của Đô đốc Hart ở Manila để báo cáo với ông ấy. Ông ấy đang đợi cậu đấy."
"Rõ, rõ, thưa ông."
"Cậu đến đó, đi gặp Đô đốc Hart. Cậu biết đấy, ông ấy là lão làng trên tàu ngầm. Tôi đã kể với ông ấy về chuyện ngư lôi, ông ấy rất tán thưởng, đang viết thư đề bạt đấy."
"Rõ, đại tá."
"À, nhân tiện, tôi đã viết một lá thư cho cha cậu, nói về việc cậu lập công, nhưng trời biết lá thư đó khi nào và bằng cách nào mới đến tay ông ấy." Đại tá Talley do dự tháo kính ra, nhìn người thiếu úy đang đứng thẳng, không cảm xúc, xoay tới xoay lui trên ghế. "Này, Byron, chỗ chúng ta rối tung rối mù thế này, cậu vẫn muốn đến Đại Tây Dương à?"
"Vâng, thưa ông, tôi muốn đi."
"Hiện tại chỉ có trung đội chúng ta đang tác chiến với lũ quỷ Nhật trên biển, chỉ ở đây mới là chiến trường, trong lúc này mà cậu còn muốn đi?" Byron không nói gì.
"Còn về vợ con cậu ở Ý, đúng là không may, nhưng cậu biết đấy, cô ấy sắp trở thành kiều dân của kẻ thù rồi."
"Thưa ông, chúng ta vẫn chưa tuyên chiến với Ý mà."
"À, điều đó không tránh khỏi đâu. Cậu biết đấy, Hitler dự định sẽ diễn thuyết vào hôm nay, bàn kỹ về vấn đề này. Ai cũng đoán được ông ta sẽ tuyên chiến, Mussolini cũng sẽ lập tức theo sau. Vợ cậu sẽ bị giam giữ, nhưng điều đó cũng chẳng có gì đáng sợ. Một thời gian nữa là có thể trao đổi về thôi. Người Ý là người văn minh. Tôi dám chắc cô ấy sẽ không sao đâu."
"Đại tá Talley, vợ tôi là người Do Thái."
Vị chỉ huy trung đội có vẻ kinh ngạc, mặt hơi đỏ lên. Ông tránh ánh mắt của Byron. "Ồ, vậy thì tôi không biết."
"Thuyền trưởng của tôi biết. Tôi đã nói với ông ấy. Những người Ý đó, nói cụ thể hơn, những người Đức đó sẽ liệt cả đứa con trai nhỏ của tôi vào danh sách người Do Thái."
Talley thở dài một hơi, nói: "Được rồi, đó quả là một vấn đề. Nhưng tôi vẫn không biết cậu có cách gì để nghĩ? Hoạt động quân sự của tàu ngầm chúng ta ở Đại Tây Dương trong một thời gian khá dài là thứ yếu. Đây mới là nơi cần cậu." Ông ngước nhìn người thiếu úy đang đứng nghiêm không cảm xúc. "Dù sao đi nữa, Byron, tôi sẽ gửi một công văn, đề nghị điều cậu tới hạm đội tàu ngầm Đại Tây Dương, nhưng phải đợi đến khi tàu 'Squid' tìm được người thay thế cậu đã, trước đó thì không được."
Byron Henry không lộ ra chút nhẹ nhõm nào mà anh cảm thấy trong lòng. "Cảm ơn ông, Đại tá Talley."
Vị chỉ huy trung đội mở ngăn kéo bàn. "Còn một việc nữa, chỉ huy của cậu đồng ý phát cho cậu, chúc mừng cậu."
Ông đặt một chiếc huy hiệu vàng lên bàn trước mặt Byron, đó là huy chương Cá heo dành cho nhân viên tàu ngầm.