Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 35

❊ ❊ ❊

Khi Pug quay trở lại, không khí tháng Chín ở Berlin thật trong lành, lá cây đang dần chuyển sang sắc vàng. So với một London đang chìm trong chiến tranh chớp nhoáng, thành phố này trông vô cùng thái bình, số người mặc quân phục ít hơn hẳn, hầu như không thấy bóng dáng xe tải hay xe tăng. Sau khi đánh bại Pháp, Hitler đã cho phép một bộ phận binh sĩ giải ngũ để trở về nông trại hoặc nhà máy làm nhân công tự do. Số binh lính còn lại cũng không lảng vảng quanh Berlin. Họ người thì đang chờ đợi ở bờ biển để xâm lược Anh, người thì đóng quân tại Pháp và Ba Lan, kẻ khác lại canh giữ một phòng tuyến mỏng manh và thận trọng đối diện với Liên Xô. Chỉ có cuộc chiến trên không là còn dấu vết: họng pháo màu xanh xám của súng phòng không nhô lên khỏi tán lá mùa thu; những đứa trẻ Đức tóc vàng nhạt đứng trên quảng trường ngơ ngác nhìn một chiếc máy bay ném bom tầm xa Wellington của Anh bị bắn rơi. Pug nhìn thấy xác chiếc máy bay Anh đổ nát ấy – giống hệt chiếc "Frandi" – cùng những ô cửa sổ có ba màu đỏ, trắng, xanh, trong lòng dâng lên một nỗi buồn đau. Ông muốn đến xem nhà máy khí đốt bị phá hủy nhưng không tìm thấy. Những cảnh vệ không quân Đức với khuôn mặt căng thẳng cùng hàng rào gỗ đã phong tỏa hiện trường. Từ lâu, Göring từng tuyên bố rằng, chỉ cần một quả bom Anh rơi xuống Berlin, người dân Đức có thể gọi ông ta là Meyer. Đương nhiên, bằng chứng tại hiện trường phơi bày sự yếu kém của Meyer không được phép cho ai xem.

Tuy nhiên, dù không phải là khu vực cấm, Pug cũng nghi ngờ liệu có bao nhiêu người Đức muốn đến đó xem. Họ là những người kỳ lạ. Ở Lisbon, ngay khi ông bước lên máy bay của hãng hàng không Lufthansa, người Đức tại đó đã để lại cho ông ấn tượng sâu sắc: trong khoang máy bay sạch bóng bụi, nhân viên phục vụ cung kính, rượu và đồ ăn gọi là có ngay, loa phóng thanh thì ầm ĩ. Hành khách ngồi cạnh ông là một bác sĩ béo mập, tóc vàng, đeo kính, trong bữa ăn ông ta đã nâng ly chúc mừng, nhiệt tình nói về nước Mỹ và người em gái đang sống ở Milwaukee. Vị bác sĩ này tin chắc rằng Mỹ và Đức sẽ mãi mãi là bạn, Hitler và Roosevelt đều là những nhân vật vĩ đại như nhau, cả hai người họ đều cần hòa bình. Ông ta bày tỏ sự tiếc nuối sâu sắc trước việc máy bay Anh tàn sát dã man dân thường Berlin, nói rằng điều này hoàn toàn trái ngược với việc không quân Đức chỉ tập trung vào các mục tiêu quân sự.

Ông ta còn chỉ ra rằng, Không quân Hoàng gia Anh đã sơn một lớp sơn đen hiệu quả lên bụng máy bay để khó bị phát hiện vào ban đêm, họ liên tục thay đổi độ cao khi bay khiến súng phòng không rất khó nhắm bắn. Đó là lý do tại sao chúng có thể lẻn vào được. Thế nhưng, những thủ đoạn quỷ quyệt nhỏ nhen này không thể cứu mạng họ. Khoa học nước Đức sẽ tìm ra cách đối phó chỉ trong một hoặc hai tuần nữa. Chiến tranh thực tế đã kết thúc, thắng lợi của Đức đã được định đoạt. Không quân Đức là vô địch. Những tên tội phạm Anh ném bom phụ nữ và trẻ em rồi sẽ sớm phải chịu sự trừng phạt của pháp luật.

Người này trông giống hệt gã hề Đức diễn kịch trong các rạp hát ở London, từ nụ cười lệch cho đến những ngấn mỡ trên cổ đều giống y đúc. Pug ngày càng ghét ông ta. Ông lạnh lùng nói rằng mình vừa từ London đến, Không quân Đức đã bị đánh bại trên bầu trời nước Anh. Đối phương lập tức trở nên lạnh nhạt, quay lưng lại với Pug, cố tình vung vẩy một tờ báo Ý có in vài tấm ảnh London bốc cháy rất bắt mắt.

Ngay khi Pug vừa trở về nhà ở khu vực Green Belt, vị giám đốc bảo tàng mỹ thuật nhà bên – ông ta tên là Tiến sĩ Bazel, người có học vấn uyên bác, dáng người nhỏ thó, da ngăm đen – đã lập tức lê cái chân tật nguyền chạy sang, mời người hàng xóm uống một ly, đồng thời bàn luận về sự diệt vong sắp đến của nước Anh. Gia đình Bazel vốn là những người hàng xóm thân thiện, từng nhiều lần mời vợ chồng Henry tham dự các buổi triển lãm và tiệc tối thú vị. Bà Bazel đã trở thành người bạn Đức thân thiết nhất của Rhoda. Pug khéo léo nói với người hàng xóm rằng, chiến tranh không hoàn toàn diễn ra như cách báo chí và đài phát thanh của Goebbels mô tả. Ngay khi ông vừa ám chỉ Không quân Hoàng gia Anh vẫn còn sức chiến đấu, vị chuyên gia mỹ thuật nhỏ bé này liền nổi giận, tập tễnh bỏ đi, quên cả việc mời Pug uống rượu. Mà người này trước đó còn từng nhiều lần ám chỉ đảng viên Đức Quốc xã là lũ côn đồ hạ lưu, còn Hitler là tai họa.

Chính tình trạng này hiện nay khiến Berlin trở nên hoàn toàn không thể chịu nổi. Toàn thể người Đức đã nắm chặt thành một nắm đấm. Tên lưu manh nhỏ bé đó đã thực hiện được khẩu hiệu "Một đế chế, một dân tộc, một lãnh tụ" mà hắn thường rêu rao bấy lâu nay. Victor Henry là người có kỷ luật, ông hiểu và ngưỡng mộ hiệu suất làm việc dựa trên sự phục tùng kỷ luật sắt đá của những con người này, nhưng ông ghét thái độ mù quáng nhắm mắt làm ngơ trước sự thật của họ. Đây không chỉ là ngu ngốc, không chỉ là vô liêm sỉ; đây là binh pháp tồi. "Đánh giá tình hình" – một thuật ngữ hải quân mượn từ học thuyết quân sự Phổ – phải dựa trên sự thật.

Không lâu sau khi ông trở về, Ernst Glock đã gọi điện mời ông ăn tối, ông vui vẻ nhận lời. Glock là một trong số ít những sĩ quan Đức mà ông quen biết, những người dường như vẫn giữ được chút lương tri trong sự điên cuồng của Đức Quốc xã. Trong một nhà hàng chật kín các quan chức và sĩ quan cao cấp mặc quân phục Đức Quốc xã, vị sĩ quan tàu ngầm này công khai buông lời phàn nàn về chiến sự, đặc biệt là về cách chỉ huy vụng về của Göring trong chiến dịch nước Anh. Thỉnh thoảng, ông ta lại nheo mắt nhìn quanh, ở Đức, hễ cứ nói đến chiến tranh hoặc chính trị là người ta luôn vô thức làm như vậy.

“Chúng ta vẫn sẽ thắng,” ông ta nói. “Họ sẽ dùng đủ mọi cách ngu ngốc, rồi sau đó họ mới nghĩ ra điều này.”

“Nghĩ ra điều gì?” Pug hỏi.

“Phong tỏa, đương nhiên rồi. Đây là thứ vũ khí cũ của nước Anh, giờ dùng để gậy ông đập lưng ông. Người Anh không phong tỏa được chúng ta. Chúng ta đã có toàn bộ bờ biển châu Âu, từ vùng Balkan cho đến Thổ Nhĩ Kỳ. Ngay cả Napoleon cũng chưa từng có đường bờ biển dài đến thế. Nhưng nước Anh thiếu lương thực và nhiên liệu, đây vốn là tử huyệt của họ. Nếu Göring đánh bom các cảng biển, đánh đắm tàu thuyền vào mùa hè năm nay – cộng thêm sự phá hoại lớn từ tàu ngầm và thủy lôi từ tính của chúng ta – thì nước Anh đã sớm phải liên lạc với chúng ta thông qua Thụy Sĩ và Thụy Điển rồi.” Ông ta bình tĩnh giơ hai tay lên. “Không còn cách nào khác! Chúng ta đánh đắm tàu thuyền của họ trên khắp mặt biển Đại Tây Dương bao la. Họ không có lực lượng hộ tống. Dù họ có đi chăng nữa, chiến thuật và ngư lôi mới của chúng ta vẫn có thể đánh bại họ. Anh phải nhớ rằng, lúc đầu lực lượng tàu ngầm của chúng ta rất yếu, Victor. Nhưng cuối cùng Dönitz đã thuyết phục được Raeder, Raeder lại thuyết phục được Quốc trưởng. Sau khi chiếm Ba Lan, từ lúc nước Anh từ chối đề nghị hòa bình, chúng ta đã bắt đầu đóng hàng loạt tàu mới. Tháng Giêng năm sau, tàu mới có thể lần lượt hạ thủy. Một loại chiến hạm mới, rất đẹp. Thế là – trong vòng bốn, năm tháng, mỗi tháng đánh đắm năm trăm nghìn tấn, hừ! – Churchill sẽ tiêu đời. Anh không đồng ý sao?” Glock cười toe toét với ông. Vị sĩ quan tàu ngầm nhỏ thó này mặc bộ đồ vải tuýt màu tím cắt may tinh xảo, thắt chiếc nơ bướm màu vàng nổi bật. Gương mặt rám nắng khỏe mạnh của ông ta rạng rỡ, đầy tự tin. “Nói đi, anh không cần phải bày tỏ sự đồng cảm đâu. Chúng ta đều biết tâm trạng của Tổng thống các anh, ừm? Nhưng anh hiểu biển, cũng hiểu tình hình.” Pug cười khổ nhìn Glock. Ông quả thực đồng ý với đánh giá này. “Ừm, giả sử Göring thực sự chuyển hướng sang phong tỏa, giả sử các anh thực sự đóng xong một đội tàu mới – đây là hai giả thiết rất lớn đấy.”

“Anh nghi ngờ lời tôi sao?”

“Anh có phóng đại một chút thì tôi cũng không trách đâu.”

“Anh nói đúng, Victor,” Glock cười thành tiếng. “Mẹ kiếp. Nhưng tôi không cần phải phóng đại. Anh cứ chờ xem, bắt đầu từ tháng Giêng.”

“Lúc đó phải xem chúng tôi có can thiệp hay không.” Vị sĩ quan tàu ngầm không cười nữa. “Đúng, đó đúng là một vấn đề. Nhưng hiện tại, Tổng thống của các anh chỉ có thể lén lút đưa vài chiếc máy bay và tàu cũ cho nước Anh, thế mà ông ta còn chẳng dám đối mặt với Quốc hội. Anh nghĩ người dân của anh sẽ tán thành việc phái tàu chiến Mỹ ra để tàu ngầm Đức đánh đắm sao? Roosevelt là một người rất lợi hại, nhưng ông ta sợ người dân của các anh.”

“À! Ernst Glock và Victor Henry! Hai con chó biển này đang quyết định cục diện chiến tranh đấy.”

Hóa ra là chủ ngân hàng Wolf Stoller đang cúi người nói chuyện với họ, mái tóc vàng thưa thớt của ông ta chải bóng mượt, miệng ngậm tẩu thuốc cười nói.

“Victor, bộ đồ mới này của anh đẹp lắm. Là của tiệm Savile Row làm phải không?”

“Đúng, không sai chút nào.”

“Không thể sai được. Ừm, nếu lại có thể đặt may quần áo ở đó thì đúng là một việc thú vị. Không có thợ may nào tốt hơn người Anh cả. Này, hai anh đến đây bao lâu rồi? Ngồi vào bàn chúng tôi đi. Cùng bàn chỉ là vài người bạn tốt thôi.”

“Không, cảm ơn ông, ông Stoller,” Pug nói. “Tôi phải về văn phòng ngay đây.”

“Đương nhiên. Này, Ernst, anh đã nói với Đại tá Henry là cuối tuần này anh sẽ đến Abendru chưa? Anh biết đấy, Victor là khách quen của Abendru mà. Trời ạ! Sao lần này anh không đi cùng đi, Victor? Gần đây anh đã từ chối hai lần rồi, tôi đương nhiên sẽ không vui đâu. Cả cuối tuần anh và bạn anh là Ernst có thể tha hồ bàn luận về cuộc sống trên biển của hai người! Đồng ý nhanh lên nào. Ngoài ra chỉ mời thêm hai ba người bạn tốt thôi. Còn có vài quý cô xinh đẹp, có người vẫn còn độc thân đấy.”

Victor Henry nhanh chóng liếc nhìn Glock, đối phương cười một cách gượng gạo rồi nói: “Ừm, ý này cũng hay đấy, phải không?”

“Được thôi,” người Mỹ nói. Giờ thì ông đã hoàn toàn hiểu chuyện gì đang diễn ra, và tại sao Glock lại gọi điện cho ông. “Cảm ơn hai người.”

“Tuyệt quá. Hay lắm. Hẹn gặp lại vào thứ Sáu.” Vị chủ ngân hàng nói, vỗ vỗ vai Victor Henry. Sau đó, cuộc trò chuyện của hai vị sĩ quan hải quân ít đi, nội dung cũng nhạt nhẽo. Ernst Glock bận ăn uống, không nhìn Pug nhiều.

Chiều hôm đó, Victor Henry nghe thư ký thông báo rằng Natalie Jastrow gọi điện từ Siena đến, không khỏi kinh ngạc.

“Trời ạ! Nối máy nhanh lên.”

“Alo? Alo? Sao thế ạ? Tôi muốn gặp Đại tá Henry ở Berlin.” Giọng cô gái lầm bầm, không rõ ràng.

“Là tôi đây, Natalie.”

“A, alo! Byron có khỏe không ạ?”

“Cậu ấy rất khỏe.”

“À, thế thì yên tâm rồi!” Sự nhiễu loạn trên đường dây điện thoại dừng lại. Giọng Natalie trở nên rõ ràng hơn. “Sau khi đi, tôi không nhận được lá thư nào của anh ấy cả. Tôi đã gửi một bức điện tín dưới đáy biển, không nhận được hồi âm, tôi biết bưu điện bây giờ tồi tệ thế nào, nhưng tôi vẫn lo lắng.”

“Natalie, cậu ấy cũng chưa từng nhận được thư của cô. Cậu ấy có viết thư cho tôi nhắc đến chuyện đó. Tôi chắc chắn cậu ấy không nhận được điện tín của cô. Nhưng cậu ấy rất khỏe.”

“Thật lạ, tôi vẫn viết thư cho anh ấy mỗi tuần một bức. Đáng ghét thật! Tôi rất nhớ anh ấy. Anh ấy làm thế nào ở trường tàu ngầm vậy ạ?”

Ngoài cửa sổ của Victor Henry, lính gác trước cổng đại sứ quán đang đổi ca, phát ra tiếng đứng nghiêm chào hỏi nhịp nhàng và những âm thanh ngắn gọn bằng tiếng Đức. Giọng Natalie trong điện thoại khiến ông thấy xót xa. Giọng New York của cô không giống giọng Pamela, nhưng cũng là giọng của một cô gái trẻ trầm thấp.

“Cũng tạm ổn, tôi nghĩ vậy.”

Tiếng cười của cô cũng rất giống Pamela, hơi khàn, mang chút giễu cợt. “Ông nói đúng ạ.”

“Natalie, cậu ấy vẫn luôn chờ cô quay lại đấy.”

“Tôi biết, vẫn còn một số vấn đề, nhưng rồi sẽ giải quyết được thôi. Xin ông hãy chắc chắn nói với anh ấy là tôi vẫn khỏe. Siena thời chiến rất quyến rũ, cũng rất yên bình. Có chút hương vị quay về thời trung cổ. Byron vẫn phải ở lại ba tháng nữa, đúng không ạ?”

“Cậu ấy tốt nghiệp vào tháng Mười hai, nếu họ không đuổi học cậu ấy.”

Lại là tiếng cười. “Họ sẽ không đuổi anh ấy đâu. Brani thực sự rất đáng tin cậy, ông biết đấy. Tôi sẽ trở về vào tháng Mười hai. Xin ông hãy nói với anh ấy một tiếng, biết đâu thư ông viết sẽ được gửi đến.”

“Sẽ gửi được thôi. Hôm nay tôi sẽ viết.”

Đây là một buổi tụ họp nhỏ tại Abendru, không còn trò trượt xuống cầu thang nữa. Pug hơi tiếc nuối nhận ra, kiểu trò chơi thô lỗ vắt óc suy nghĩ này tuy rất hợp khẩu vị dân tộc Teuton, nhưng Ernst Glock lại không hứng thú. Vị sĩ quan tàu ngầm này rõ ràng có chút bồn chồn, vốn dĩ có thể tận dụng trò này để thay đổi cục diện. Những vị khách khác là một vị tướng không quân Đức và một quan chức cấp cao của Bộ Ngoại giao, địa vị đều cao hơn Glock rất nhiều. Năm vị quý cô xinh đẹp đều chưa kết hôn. Bà Stoller không có mặt.

Victor Henry đoán họ đang ủ mưu cho một bữa tiệc rượu cuồng loạn, mục đích là để ông nói về tình hình nước Anh. Sau bữa ăn, điều khiến ông ngạc nhiên là họ bước vào một căn phòng có ốp gỗ, nơi đã chuẩn bị sẵn nhạc cụ, Stoller, vị tướng không quân Đức, quan chức Bộ Ngoại giao và một quý cô tóc đỏ đã chơi một bản tứ tấu. Pug từng đến đây vài lần, vị chủ ngân hàng này chưa bao giờ bộc lộ tài năng âm nhạc của mình, nhưng lần này Stoller chơi violin số một rất xuất sắc. Vị tướng không quân Đức là người dáng cao, sắc mặt xám xịt, đôi mắt trũng sâu, mang vẻ bệnh tật, ông ta cúi chào trước, rồi cúi người xuống cây đàn cello, lắc lư cơ thể, tấu lên những âm thanh tuyệt vời. Pug từng nhìn thấy người này từ xa tại biệt thự Kailin, lúc đó ông ta mặc quân phục đầy đủ, trông uy nghiêm hơn nhiều so với khi mặc lễ phục, đeo kính một mắt như hiện tại. Các nhạc sĩ chơi sai, dừng lại hai ba lần, nói vài câu đùa vui vẻ rồi chơi tiếp. Vị quan chức Bộ Ngoại giao chơi violin số hai là một người Bavaria thấp béo, có bộ râu vàng rủ xuống, là một nghệ sĩ vĩ cầm xuất sắc. Đây là nhạc nghiệp dư hay nhất mà Pug từng nghe. Glock ngồi đó với thái độ chăm chú như hầu hết người Đức khi thưởng thức nghệ thuật, uống lượng lớn rượu brandy, xua tan cơn buồn ngủ. Cứ thế trôi qua hai ba tiếng, các quý cô nói chúc ngủ ngon rồi rời đi. Nếu có ám hiệu nào đó, Pug cũng không nhận ra.

“Có lẽ chúng ta nên ra ngoài uống ly rượu đêm,” vị chủ ngân hàng nói với Pug, cất cây đàn violin Stradivari của mình vào hộp một cách cẩn thận. “Đêm nay rất ấm áp. Anh có thích âm sắc cây đàn Stradivari này của tôi không? Tôi hy vọng mình không làm phụ lòng cây đàn này.”

Nhìn ra từ ban công đá rộng rãi là một khu vườn trang trọng, một đài phun nước tao nhã và dòng sông; xa hơn nữa là rừng cây. Vầng trăng khuyết màu cam nhạt mờ ảo nhô lên trên ngọn cây. Dưới ánh đèn đỏ vàng trên cột sắt dài, bóng tối nhảy múa trên ngôi nhà và mặt sân lát đá. Sau khi năm người ngồi xuống, quản gia mang đồ uống đến. Những chú chim hót líu lo trong đêm tĩnh lặng, Pug nghe vậy, không khỏi nhớ lại tiếng chim sơn ca từng nghe ở căn cứ máy bay ném bom tại Anh.

“Victor, nếu anh sẵn lòng nói về nước Anh,” Stoller tựa người vào ghế bành một cách thoải mái, khuôn mặt ông ta bị che khuất trong bóng tối. “Chúng tôi đương nhiên rất quan tâm.”

Pug miễn cưỡng dùng giọng điệu vui vẻ nói: “Ý ông là, tôi phải thừa nhận mình từng đến Anh sao?”

Vị chủ ngân hàng lập tức dùng giọng điệu vui vẻ hơn đáp lại: “Ha, ha. Trừ khi anh muốn gây thêm nhiều rắc rối cho nhân viên tình báo của chúng tôi, nếu không anh cứ thừa nhận cho rồi.” Sau khi đợi mọi người cười xong, ông ta nói tiếp: “Tất nhiên, chỉ cần anh muốn, chúng ta có thể bỏ qua chủ đề này ngay lập tức để tận hưởng cuối tuần. Sự tiếp đãi của chúng tôi chưa bao giờ – trong tiếng Anh gọi là gì nhỉ?” Hóa ra mọi người đều đang nói tiếng Đức, ông ta nói đến đây chuyển sang tiếng Anh – “‘Kèm theo bất kỳ điều kiện nào’. Nhưng anh đi lại giữa hai thủ đô, đang ở vị trí rất hiếm có.”

“Ừm, nếu các ông muốn tôi nói rằng các ông đã đánh bại Không quân Hoàng gia từ trên trời xuống, người Anh sẽ tiêu đời vào tuần sau, thì chi bằng bây giờ hãy bỏ qua chủ đề này đi.”

Vị tướng cao lớn dùng giọng nam trầm buồn bã nói: “Chúng tôi biết mình chưa đánh bại được Không quân Hoàng gia từ trên trời xuống.”

“Cứ bàn thoải mái đi. Tướng Yago là bạn cũ nhất của tôi,” Stoller nói. “Chúng tôi là bạn cùng trường tiểu học. Còn Tiến sĩ Muss –” ông ta vung cánh tay về phía quan chức Bộ Ngoại giao, bóng của một cánh tay gầy dài như bộ xương nhảy múa trên tường – “cũng có tình bạn lâu năm tương tự.”

“Chúng tôi có một câu nói trong không quân,” vị tướng nói. “Đã kéo cờ đỏ lên. Nghĩa là, chúng ta đều đang nói chuyện thẳng thắn. Chúng ta nói ra suy nghĩ về Quốc trưởng, về Göring, về bất cứ việc gì và bất cứ ai. Chúng ta nói chuyện không hề kiêng dè, tôi nói cho anh biết.”

“Được thôi, tôi thích những nguyên tắc này,” Victor Henry nói. “Nói đi.”

“Cuộc xâm lược sẽ thành công chứ?” Tiến sĩ Muss lên tiếng.

“Cuộc xâm lược nào? Hải quân các ông có thể đưa các ông qua được không?”

“Tại sao không?” Tướng Yago dùng giọng điệu bình tĩnh của người trong nghề nói. “Thông qua một hành lang, hai bên phong tỏa bằng dải thủy lôi, bên ngoài phong tỏa bằng tàu ngầm, bên trên có không quân Đức yểm trợ, chẳng lẽ đối với hạm đội chiến đấu mà nói, đây lại là yêu cầu quá cao sao?”

Pug nhìn Glock, chỉ thấy ông ta ngồi đó không vui, xoay xoay ly rượu brandy hình chuông. “Các ông ở đây có một người thuộc lực lượng tàu ngầm đấy. Hỏi ông ta cách phong tỏa và thiết lập dải thủy lôi đi.”

Glock thiếu kiên nhẫn vung tay, rượu brandy trong ly bắn tung tóe ra ngoài, ông ta nói bằng giọng nặng nề: “Cực kỳ khó, có thể là hành động tự sát, và tệ nhất là hoàn toàn không cần thiết.”

Tướng Yago cúi người về phía Glock, chiếc kính một mắt của ông ta lấp lánh dưới ánh đèn lay động, khuôn mặt đầy giận dữ. Pug hét lên: “Đã kéo cờ đỏ lên rồi đấy.”

“Không sai,” Yago nói, nhìn vị sĩ quan tàu ngầm với ánh mắt không thể tha thứ, người sau đang lười biếng ngồi trong bóng tối.

“Tôi đồng ý với quan điểm của ông ta,” Pug nói. “Một bộ phận quân đổ bộ có lẽ có thể vượt qua – chưa bàn đến việc dùng hình thức nào. Ở đó còn có bãi đổ bộ cho quân xâm lược – nơi đó tôi từng nhìn thấy ở cự ly gần. Cá nhân tôi, thì không muốn tiếp cận bãi đổ bộ này từ phía biển.”

“Quét sạch chướng ngại vật ở bãi đổ bộ là một nhiệm vụ kỹ thuật,” Yago nói, nhanh chóng quay lại giọng điệu tán gẫu bình thường. “Chúng tôi có công binh được đào tạo chuyên môn để đối phó với nó.”

“Thưa tướng quân, thủy quân lục chiến của chúng tôi nhiều năm qua luôn chuyên tâm nghiên cứu và diễn tập tấn công bãi đổ bộ. Đây là hạng mục tấn công khó nhằn nhất trong sách giáo khoa. Tôi tin rằng lực lượng vũ trang Đức chỉ mới nghĩ đến vấn đề này cách đây vài tuần thôi.”

“Tài năng quân sự của người Đức là không thể xem thường.” Tiến sĩ Muss nói.

“Điều này là không thể tranh cãi.” Victor Henry nói.

Yago nói: “Đương nhiên chúng ta đổ bộ không thể không có tổn thất. Tổn thất của chúng ta sẽ rất lớn, nhưng vẫn chịu đựng được. Một khi chiếm được cứ điểm vững chắc, anh sẽ thấy Churchill sụp đổ. Để chiếm được đầu cầu, không quân Đức sẽ chiến đấu đến chiếc máy bay cuối cùng. Nhưng tôi tin rằng máy bay của Không quân Hoàng gia sẽ không còn chiếc nào trước tiên.” Victor Henry không bày tỏ ý kiến.

“Việc ném bom London có ảnh hưởng gì đến tinh thần của người Anh không?” Stoller hỏi.

“Các ông làm cho công việc của Churchill dễ dàng hơn rồi đấy. Bây giờ họ càng liều mạng hơn. Ném bom London tan nát cũng không thắng nổi cuộc chiến này. Phán đoán của tôi là không thắng nổi. Chưa nói đến việc máy bay ném bom không chỉ có thể bay về phía tây, mà còn có thể bay về phía đông.”

Vị tướng và chủ ngân hàng nhìn nhau. Giọng vị tướng rất trầm buồn. “Nếu ở đây có người đồng ý với anh, anh có ngạc nhiên không?”

“Churchill đã khéo léo chọc giận Quốc trưởng bằng việc ném bom Berlin vào ngày 26,” Stoller nói. “Để giữ vững tinh thần, chúng ta không thể không đáp trả. Mưu kế này đã thành công, nhưng người Anh bây giờ buộc phải trả giá. Về mặt chính trị không còn lựa chọn nào khác, chỉ có thể là trả đũa quy mô lớn.”

“Nói lời thật lòng,” Tiến sĩ Muss nói. “Nguyên soái Göring muốn ném bom London, muốn san phẳng nó.”

Yago lắc đầu. “Ông ấy biết hành động quá sớm. Chúng ta đều biết. Chính sáu ngày thời tiết xấu đó đã cứu Không quân Hoàng gia. Chúng ta còn cần một tuần nữa để đánh sập những sân bay đó. Nhưng cuối cùng kết quả vẫn như vậy.”

Stoller nói: “Họ là một dân tộc dũng cảm. Tôi không muốn nhìn thấy họ kéo dài nỗi đau.”

“Họ có vẻ không bận tâm lắm,” Victor Henry nói. “Nhìn chung, cuộc sống của họ vẫn ổn. Họ tin rằng mình sẽ giành thắng lợi.”

“Đây chính là điểm yếu,” Tiến sĩ Muss nói, vuốt bộ râu của mình. “Tự đại dân tộc. Một dân tộc một khi rời xa thực tế, thì mọi thứ đều xong đời.”

Stoller châm một điếu xì gà to. “Không sai chút nào. Tiến trình của cuộc chiến lần này hiện đã được quyết định bởi các số liệu thống kê. Đây là phạm vi quản lý của tôi. Anh có muốn nghe thử không?”

"Hoan nghênh nhiệt liệt. Đặc biệt là nếu ông có thể tiết lộ chút cơ mật," Victor Henry vừa nói xong, ngoại trừ Glock ra, tất cả những người Đức còn lại đều bật cười thân thiện. Vị sĩ quan tàu ngầm này đang chìm trong nỗi buồn bã, có lẽ đã ngủ thiếp đi rồi.

"Không phải cơ mật đâu," Stoller nói. "Số liệu về tài chính có lẽ là điều mới mẻ đối với ông. Nhưng xin hãy tin tôi, những con số của tôi đều chính xác."

"Tôi hoàn toàn tin tưởng."

"Tốt. Anh hiện đang ở—nói thế nào nhỉ—cuối một chuỗi gàu múc nước đang vận hành bằng tàu bè. Đây là vị thế mà nó thường xuyên rơi vào. Hiện nay, những chiếc gàu cứ liên tục bị đánh chìm, với tốc độ nhanh hơn nhiều so với việc lắp thêm vào dây chuyền. Khi nó phát động chiến tranh, có khoảng hai trăm nghìn tấn tàu bè. Bao gồm tàu của chính nó và gom góp từ những nơi khác. Tấn số này đang giảm đi nhanh chóng. Tốc độ giảm là—gần đây là bao nhiêu?" Ông ta hỏi Glock với thái độ của một cấp trên.

Vị sĩ quan tàu ngầm lén ngáp một cái. "Con số này là cơ mật. Victor nghe ở London cũng đủ nhiều rồi, hẳn là đã nắm rõ trong lòng." Pug nói: "Không sai."

"Rất tốt. Vậy ông biết đường cong đang đi lên. Trong cuộc chiến này, những thứ khác đều không quan trọng bằng. Anh sẽ sớm cạn kiệt nhiên liệu và lương thực, đến lúc đó nó sẽ tiêu tùng. Một khi máy móc không thể vận hành, máy bay không thể cất cánh, nhân dân không có cơm ăn, thì Churchill cũng sẽ sụp đổ. Không còn lối thoát nào khác."

"Không còn lối thoát nào khác? Đất nước của tôi còn có lượng lớn nhiên liệu và lương thực—còn cả thép và xưởng đóng tàu—và thương mại đối ngoại của chúng tôi vẫn mở cửa." Vị chủ ngân hàng cười lạnh. "Không sai, nhưng theo yêu cầu của "Đạo luật Trung lập" của các ông, Anh mua bất cứ thứ gì đều phải trả bằng tiền mặt. Thanh toán tiền mặt, tự lo vận chuyển. Đây là điều sáng suốt duy nhất mà nhân dân các ông học được từ cuộc đại chiến trước sau khi Anh từ chối trả nợ chiến tranh. Roosevelt hay Wilkie, bây giờ đều không quan trọng. Victor, ông có thể tin lời tôi, Quốc hội của các ông không thể nào cấp thêm một khoản vay chiến tranh nào cho Anh nữa. Họ sẽ làm vậy sao?"

"Không."

"Đúng. Vậy là nó xong đời rồi. Khi phát động chiến tranh, nó có khoảng năm trăm triệu ngoại hối. Tình báo của chúng tôi cho biết, nó đã dùng hết hơn bốn trăm triệu. Để tiếp tục chiến đấu, số máy bay, vật tư và tàu bè mà nó cần sẽ tiêu tốn nốt một trăm triệu còn lại nhanh như lò sưởi làm tan quả cầu tuyết vậy. Đến tháng Mười hai, Đế quốc Anh sẽ không còn một xu dính túi. Phá sản! Ông thấy đấy, người bạn thân mến, họ đã vướng vào một cuộc chiến mà họ không thể đánh, cũng không thể trả nổi. Sự thật đơn giản là vậy. Người nhìn thấu điều này qua màn sương mù của tương lai chính là thiên tài chính trị của Quốc trưởng, Victor ạ—bất kể ông có cái nhìn thế nào về ông ta. Giống như việc ông ta từng nhìn ra Pháp không thể chống cự được nữa. Sự lãnh đạo như vậy mới mang lại thắng lợi." Stoller nhoài người về phía trước, vung tay một cách khinh miệt.

"Không sai, lời lẽ của Churchill rất có sức thuyết phục, rất cảm động, rất truyền cảm hứng. Nhưng ông ta là Bộ trưởng Tài chính tồi tệ nhất của Anh, hoàn toàn không hiểu gì về tình trạng hậu cần hay tài chính hiện nay. Và trước nay vẫn luôn không hiểu. Những bong bóng xà phòng bằng lời lẽ hoa mỹ của ông ta sắp tan vỡ cả rồi. Sau đó hòa bình sẽ đến."

Tiến sĩ Muse chen lời: "Tốc độ chúng ta đánh chìm tàu bè hiện nay chỉ có thể so sánh với những tháng lập kỷ lục cao nhất vào năm 1917. Ông có biết không?"

"Điểm này tôi biết," Đại tá Henry nói. "Như tôi đã nói với Oester không lâu trước đây, đó cũng là lúc chúng tôi bị cuốn vào."

Sự im lặng trên ban công kéo dài rất lâu, rồi Wolf Stoller nói: "Bi kịch thế giới như thế này không nên lặp lại nữa, Victor—Đức và Mỹ, hai cường quốc chống Liên Xô lớn nhất, không nên khai chiến với nhau. Nếu vậy, người chiến thắng duy nhất sẽ chỉ là Stalin."

Glock phát ra tiếng khàn khàn, lầm bầm từ sâu trong ghế. "Điều đó sẽ không xảy ra đâu. Chiến tranh sẽ sớm kết thúc thôi. Đợi đến tháng Giêng, khi chúng ta có tàu ngầm mới."

Cuối tuần đó lạnh lẽo, âm u và mưa gió, đối với Pug, cũng trở nên buồn tẻ vì quá nhiều âm nhạc và văn hóa. Năm vị quý bà đều đã ngoài ba mươi, tất cả đều vụng về làm dáng, có thể cùng ông trò chuyện, tản bộ, khiêu vũ; đợi mưa tạnh một chút, cũng có thể cùng ông đánh tennis. Pug đoán, họ còn có thể cùng ông qua đêm. Ông thấy ngại nên không hỏi riêng từng người.

Oester Glock cứ ngủ suốt, sáng Chủ nhật đã rời đi. Ba người còn lại tỏ ra khá lạnh nhạt với vị sĩ quan tàu ngầm này, nhưng lại vô cùng nhiệt tình và lịch sự với Victor Henry. Rõ ràng, Glock đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Rõ ràng, việc ông ta gọi điện và gặp gỡ Stoller ở khách sạn đều đã được sắp xếp từ trước. Những nhân vật lớn này dành sự quan tâm giả tạo cho một sĩ quan hải quân Mỹ bốn vạch thật là hết chỗ nói.

Họ lại hỏi Pug rất nhiều câu hỏi về chuyến đi Anh của ông, ông cũng lần lượt trả lời. Chỉ có vị sĩ quan không quân Đức gầy gò kia dò hỏi về trạm radar—Pug đáp lại bằng vẻ mặt đần độn—ngoài ra không ai cố gắng khai thác tin mật gì từ ông.

Có thể nói, họ dường như đang cố gắng nhồi nhét chính trị, triết học và thơ ca Đức vào đầu ông. Ba lão đồng chí này rất thích đàm đạo học thuật, còn không ngừng lấy những cuốn sách nhắc đến trong cuộc trò chuyện từ thư viện của Stoller nhét vào tay Henry. Ông muốn đọc trước khi ngủ, nhưng chỉ đọc được mười lăm phút là chìm vào giấc ngủ sâu, đêm nào cũng vậy. Văn học kỳ lạ của Đức thường có tác dụng này đối với Victor Henry. Từ lâu ông đã từ bỏ ý định tìm hiểu về sự nghiêm túc tự phụ của người Đức, vị thế của họ trong lịch sử thế giới và từng bước ngoặt trong lịch sử u ám của họ từ thời Charlemagne. Từ quan điểm quân sự mà xét, tất cả những giấy mực tiêu tốn cho vận mệnh nước Đức, văn hóa Đức, tinh thần Đức, chủ nghĩa thân Đức, chủ nghĩa toàn Đức... đều không ngừng nhấn mạnh một sự thật. Đây là một dân tộc công nghiệp hóa với tám mươi triệu dân, họ đã dành cả một thế kỷ để thống nhất chính mình, giáo dục chính mình, xắn tay áo lên để chinh phục toàn thế giới, tin rằng Chúa sẽ nắm lấy vạt áo nước Đức để cổ vũ nó tiến lên. Điều này rất đáng để ghi nhớ.

Chiều Chủ nhật, khi họ đang uống cocktail trên ban công, mặt trời xuyên qua mây mù ló dạng. Stoller đề nghị đưa Victor Henry đi xem những con lợn đoạt giải của ông ta, họ đi một quãng đường dài từ bờ sông đến chuồng lợn. Trong mùi hôi thối nồng nặc, chủ nhân kể cho Henry nghe về gia phả của mấy con lợn lông dài béo mầm đang nằm trong đống phân kêu eng éc. Khi họ quay trở lại, vị chủ ngân hàng nói: "Ông thấy chán lắm phải không, Victor?"

"Ai nói chứ, không hề," Pug nói dối.

"Tôi biết đây là một cuối tuần không bình thường. Muse và Yago đều là những người rất phi thường. Chúng tôi đã là bạn tốt từ lâu. Yago là người đầu tiên thực sự kết nối tôi với Göring. Trước đó, tôi rất gần gũi với Von Papen, và ông ta, ông biết đấy, là đối thủ lớn nhất của Đức Quốc xã, cho đến năm 1933 khi ông ta tận mắt thấy xu thế thời đại. Thực ra chính ông ta là người bổ nhiệm Hitler làm Thủ tướng." Stoller dùng cây gậy đen nặng nề của mình gõ nhẹ vào những bông hoa kế đang nở, làm rơi những cánh hoa. Những bông hoa dập nát tỏa ra một mùi hương tươi mát. "Yago rất coi trọng ông đấy."

"Là một quân nhân bay trên bầu trời," Pug nói, "ông ấy chơi cello thật sự rất khá."

"Đúng vậy, ông ấy rất có tài. Nhưng sức khỏe ông ấy không tốt lắm. Victor, điều ông ấy ngưỡng mộ nhất ở ông chính là việc ông sẵn sàng trò chuyện về nước Anh. Ông quá thân thiện rồi."

"Tôi không tiết lộ gì cả. Ít nhất là không cố ý."

Stoller cười lớn. "Ông đúng là một bề tôi trung thành của chính phủ các ông. Hơn nữa, quan sát của ông rất gợi mở. Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất với chúng tôi chính là tinh thần danh dự của ông. Đối với một người Đức, danh dự là tất cả."

Những lời khen ngợi khiến Pug Henry cảm thấy không thoải mái. Ông như thường lệ đáp lại bằng sự im lặng và ánh mắt đờ đẫn.

"Nếu Tướng Yago có chỗ nào có thể giúp được ông, tôi biết ông ấy sẽ rất vui lòng."

"Thật quá tốt, nhưng tôi không có việc gì cả."

"Có lẽ có cơ sở nào ông muốn đi tham quan chăng?"

"Ừm, lời mời như vậy tùy viên không quân của chúng tôi sẽ sẵn lòng chấp nhận."

"Tùy ông. Yago quan tâm đến lợi ích cá nhân của ông hơn."

"Có một việc, không phải việc thông thường. Có một phi công Không quân Hoàng gia, một người bạn của tôi, vài tuần trước bị bắn rơi ở eo biển Anh. Người của các ông rất có thể đã bắt được anh ta." Stoller vung cây gậy có nhiều đốt lên nói: "Tìm anh ta không khó. Hãy cho Yago biết tên, cấp bậc... của phi công này, ông sẽ sớm nhận được câu trả lời."

"Tôi thật sự rất cảm ơn."

"Nếu bạn ông đã trở thành tù binh, ông còn có thể đi gặp anh ta."

"Thế thì tốt quá."

Đầu tháng Mười, Victor Henry gần như đã quên mất cuối tuần kỳ lạ đó, thì Wolf Stoller bỗng gọi điện cho ông. "Người ông nói vẫn còn sống."

"Ai cơ?"

Stoller đọc một hơi tên, cấp bậc và số hiệu của Gaillard. "Anh ta ở Pháp, vẫn đang ở trong bệnh viện, nhưng sức khỏe rất tốt. Tướng Yago mời ông, với tư cách là khách mời riêng, đến tham quan Bộ tư lệnh Không quân Đức gần đó. Ông được mời với tư cách là một người bạn, chứ không phải là một tùy viên quân sự Mỹ. Cuộc điện thoại này sẽ là liên lạc duy nhất. Không cần phải có sự đáp lễ."

Dừng một chút, Pug nói: "À, đây quả là tin tốt. Tướng quân quá khách khí rồi."

"Tôi đã nói với ông rồi, ông rất được ông ấy coi trọng."

"Tôi còn phải gọi lại cho ông chứ."

"Tất nhiên rồi."

Pug kể chuyện này cho đại biện nghe, đại biện sụp mí mắt, gần như nhắm nghiền mắt lại, ông tựa người ra sau ghế, dùng ngón cái xoa xoa bộ ria mép. "Vị sĩ quan không quân Đức đó có yêu cầu gì với ông chăng."

"Tất nhiên rồi."

"Được thôi, tôi phê chuẩn cho ông. Tại sao không vui vẻ chấp nhận chứ? Ông có lẽ sẽ tìm hiểu được điều gì đó, ông còn có thể gặp vị phi công này. Anh ta là ai?"

"Ừm—anh ta đã đính hôn với con gái của một người bạn tôi." Đại biện mở to mắt một chút, lại xoa ria mép. Pug cảm thấy cần bổ sung thêm một chút.

"Sự thật là, con gái của Alistair Tudsbury."

"À, anh ta là hôn phu của Pam, đúng không? Chàng thanh niên may mắn. Được thôi, dù sao thì, hãy đi đi, xem xem hôn phu của Pamela Tudsbury tình hình thế nào." Đại biện nói với giọng mỉa mai, Victor Henry cảm nhận được, và có chút tức giận.

Thời tiết không tốt. Pug đi tàu hỏa đến Lille. Ở châu Âu dưới sự cai trị của Đức, việc đi lại bằng đường sắt đã khôi phục bình thường, điều này thật đáng kinh ngạc. Tàu rời ga đúng giờ, ầm ầm chạy qua khung cảnh mùa thu yên tĩnh trong mưa. Đức, Bỉ và miền Bắc nước Pháp trong màn mưa sương tháng Mười trông đều rất giống nhau, đều là một vùng bình nguyên rộng lớn bao gồm trang trại, cây thường xanh và những cánh rừng vàng úa. Thành phố trông cũng rất giống nhau, trung tâm thành phố là đủ loại kiến trúc cổ kính tráng lệ, xung quanh là một số công trình hiện đại, cái thì không bị chiến tranh tàn phá, cái thì chỉ còn lại những đống gạch vụn. Trong toa ăn đông đúc, người Đức, người Hà Lan, người Pháp, người Bỉ—một vài người đi cùng vợ—đang trò chuyện thân mật, ăn uống trong mùi hương nồng nàn và những tiếng cười vui vẻ. Những sĩ quan Không quân Đức mặc quân phục ngồi riêng một bàn, khinh khỉnh nhìn những người dân thường, tùy ý quát tháo người phục vụ đi ngang qua. Ngoại trừ việc không thấy người Do Thái, mọi thứ dưới Trật tự Mới vẫn như bình thường. Người Do Thái luôn là những hành khách thường xuyên nhất ở châu Âu, nhưng trên chuyến tàu này thì không thấy một ai. Trên chuyến tàu tốc hành từ Berlin đến Lille này, Đế chế thứ ba nhờ vào sự ưu việt về chủng tộc và năng lực làm việc cao cường, xem ra ít nhất có thể tồn tại hàng ngàn năm. Chuyến tàu chạy theo hướng ngược lại chở đầy những người lính trẻ vui vẻ, Victor Henry lần đầu tiên nhận được gợi ý đáng tin cậy: cuộc xâm lược—nếu từng có kế hoạch đó—có lẽ đã dừng lại rồi.

Người mà Tướng Yago cử đến ga để đón vị sĩ quan hải quân Mỹ này là một trung úy nghiêm nghị và gầy gò, trên vai nhiều hơn người khác một dải vàng, trên ngực treo một dải băng dài, cơ mắt ở đuôi mắt không ngừng giật giật. Anh ta lái xe đưa Pug đến một tòa nhà bằng đá bẩn thỉu ở trung tâm Lille, phía trước có nhiều bức tượng ẩm ướt, mời ông bước vào một văn phòng lạnh lẽo không có cửa sổ, bên trong có một cái bàn làm việc đầy vết mực và hai cái ghế. Trên bức tường màu vàng phủ đầy bụi có vài ô vuông và hình chữ nhật sạch sẽ, vốn là nơi treo ảnh của các quan chức Pháp, nay đã gỡ xuống. Phía sau bàn có treo một lá cờ chữ A màu đỏ trắng đen hoàn toàn mới. Lại có một bức ảnh bình thường của Hitler với khuôn mặt nghiêm nghị, mặc áo khoác quân đội, một lọn tóc rối xõa trên một bên mắt, đây là một bức ảnh được chỉnh sửa thô sơ trông trẻ hơn so với bản gốc. Trên tường có một chiếc đồng hồ treo tường, tiếng tích tắc rất lớn, là thứ Pug chưa từng nghe thấy; mặt đồng hồ vốn màu xanh, do lâu ngày, đã phai màu.

Cửa mở. Một người lính Đức đội mũ sắt, mang súng tiểu liên bước vào với những bước chân nặng nề, đến bên bàn xoay người, cạch một cái đứng nghiêm chào. Gaillard theo sau anh ta, cánh tay phải treo bằng băng vải, khuôn mặt sưng phù, không có huyết sắc, còn quấn băng gạc. Theo sau nữa là vị trung úy có đôi mắt giật giật kia. Phi công mặc đồ bay, những chỗ rách được khâu vá tùy tiện vài mũi.

"Chào, Ted," Victor Henry nói.

Gaillard cực kỳ kinh ngạc nói: "Ôi!" Băng gạc quấn trên môi dưới và cằm che mất tiếng nói của anh.

Trung úy dùng tiếng Đức nhanh và chuẩn xác nói với Đại tá Henry rằng, vì phi công Anh được lệnh tìm mọi cơ hội để trốn thoát, Tướng Yago cảm thấy rất xin lỗi vì không thể gỡ bỏ sự giám sát của lính canh vũ trang. Thời gian gặp mặt là không giới hạn. Người lính cũng sẽ không can thiệp. Anh ta không biết tiếng Anh. Anh ta được lệnh nếu phát hiện hành động bỏ trốn thì nổ súng, vì vậy trung úy yêu cầu các vị không được có bất kỳ hành động nào dễ gây hiểu lầm. Về nội dung trò chuyện, tướng quân hoàn toàn tin tưởng Đại tá Henry. Nếu không có vấn đề gì, anh ta xin phép đi trước.

"Sau khi chúng tôi nói chuyện xong, làm sao tôi thông báo cho anh đây?" Pug dùng ngón cái chỉ về phía người lính đang ngây người. "Ví dụ tôi đứng dậy đi về phía cửa, thì có thể gây ra hiểu lầm cho anh ta."

"Rất đúng," trung úy cúi đầu, đuôi mắt giật giật một cái. "Vậy thì xin ông hãy nhấc điện thoại chờ một chút, rồi đặt lại lên giá. Tôi sẽ đến ngay. Xin cho phép tôi thông báo với ông, tướng quân mời ông dùng bữa trưa cùng ông ấy tại sở chỉ huy tiền phương, cách đây bốn mươi cây số đường ô tô." Sau khi cửa đóng lại, Pug lấy thuốc lá ra, châm cho phi công một điếu.

"Ôi! Chúa phù hộ ông." Gaillard rít một hơi thuốc, giống như một người từ dưới đáy nước chui lên hít một hơi không khí vậy. "Pam có biết không? Có ai nhìn thấy tôi nhảy dù không?"

"Một người bạn đồng hành của anh nói anh ta đã nhìn thấy. Cô ấy tin chắc anh vẫn còn sống."

"Tốt quá, bây giờ ông có thể nói với cô ấy rồi."

"Tôi tất nhiên rất vui lòng."

Tiếng tích tắc của đồng hồ rất lớn. Gaillard dùng tay trái vụng về gảy gảy tàn thuốc, nhìn người lính canh một cái, người lính canh đứng thẳng như một cây trúc, khẩu súng tiểu liên cầm chéo trong đôi tay trắng bệch vì gồng chặt. Vành mũ sắt Đức làm cho khuôn mặt của chàng thanh niên nông thôn này trông nghiêm nghị như một bức tượng.

"Làm cho cuộc trò chuyện nhỏ này hơi mất hứng nhỉ, ừ?"

"Cậu ta là một gã khá lão luyện đấy," Pug nói.

Người lính canh nhìn thẳng về phía trước, trong căn phòng nhỏ đóng kín này có thể ngửi thấy một mùi hôi thối nồng nặc phát ra từ cơ thể anh ta do lâu ngày không tắm. Mặc dù khuôn mặt cạo sạch sẽ của anh ta rất sạch.

"Trông khá lão luyện. Tôi nói này, đây là một tai nạn trong cuộc đời tôi, tôi cứ tưởng mình sẽ bị tra khảo thô bạo. Có lẽ sẽ bị tống sang Đức. Họ chẳng nói gì với tôi cả, chỉ bảo nếu tôi không thành thật thì sẽ bắn chết tôi. Ông chắc là có vài người bạn tốt trong Không quân Đức nhỉ."

"Anh có lời gì muốn tôi nhắn với Pamela không?"

"Ông sẽ gặp cô ấy chứ?"

"Tôi nghĩ là không, tôi sắp phải về Washington rồi. Tôi có thể gửi điện tín hoặc viết thư cho cô ấy."

"Có rất nhiều điều muốn nói với cô ấy. Đầu tiên, dù sao thì tôi vẫn ổn. Mặt và cổ có chút bỏng." Anh giơ cánh tay đang treo lên. "May mà đạn chỉ xuyên qua xương, không làm nó vỡ nát. Về chăm sóc y tế tôi không có gì để trách cả. Ăn uống thì tệ kinh khủng—bánh mì đen mốc, bơ nhân tạo hôi thối, ăn xong miệng đầy mùi xăng, trong canh toàn khoai tây thối. Hai hôm trước cơm nước không hiểu sao lại cải thiện, chỉ là trong phòng bệnh của tôi thôi. Tối hôm qua chúng tôi được ăn một bữa thịt hầm thực sự ngon, mặc dù rất có thể là thịt chó mèo ở Lille. Vị rất ngon. Tôi nghĩ tất cả những thứ này đều là chuẩn bị cho chuyến thăm nhỏ này của ông. Tôi thật sự vô cùng cảm kích ông. Thật đấy, ông lại có thể xoay xở đến thăm tôi, thật là tuyệt vời. Đại tá Henry, Pam sống thế nào? Kể cho tôi nghe chút ít về cô ấy đi. Lần cuối cùng ông gặp cô ấy là khi nào? Cô ấy trông có ổn không?"

"Sau khi anh mất tích tôi đã gặp cô ấy vài lần. Cô ấy có đến London, tôi đưa cô ấy tham dự vài bữa tiệc, đi vài nơi giải trí. Có một thời gian cô ấy gầy đi, không muốn ăn gì. Nhưng cô ấy đang hồi phục. Thực ra, một trong những điều cuối cùng cô ấy nói với tôi là hy vọng anh trở về. Và cô ấy chuẩn bị đợi anh, kết hôn với anh."

Đôi mắt của người phi công trở nên ươn ướt. "Cô ấy là một cô gái tuyệt vời, Pamela." Anh quay đầu nhìn người lính kia. "Ừm, anh ta thật là hôi hám, phải không?" Anh nhìn khuôn mặt vô cảm của người lính, nói với giọng điệu tùy tiện: "Ông có muốn nhìn kỹ khuôn mặt này không? Giải thích được nhiều điều đấy, phải không? Tám mươi triệu con thú vừa thuần phục vừa nguy hiểm giống như gã này. Chẳng trách Hitler trở thành lãnh tụ của họ." Đôi mắt người lính không hề chớp. "Tôi thực sự nghĩ anh ta không biết tiếng Anh."

"Đừng tin điều đó," Pug nói một câu cộc lốc, nói rất nhanh.

"Ừm, hãy nói với cô ấy bây giờ tôi thừa nhận ý kiến của cô ấy là đúng, sau khi tôi trở về tôi sẽ nhận công việc ở Bộ tư lệnh. Đó mới là nơi tôi nên đến." Anh lắc đầu. "Tôi đúng là một thằng ngốc. Những chiếc máy bay Đức này ngay trước mặt tôi, ở phía dưới, máy bay chiến đấu Me-110, ba chỗ ngồi—đây là cơ hội rất tốt. Nhưng tôi không bắn trúng, không phanh kịp. Vừa hay lao xuống giữa họ, sau đó tôi chỉ biết là mình cảm thấy trên vai bị một cái, giống như bị đấm một cú thật mạnh vậy. Động cơ của tôi bốc cháy, tôi cố sức kéo cần lái, trời đất ơi, nó giống như một cái cổ bị gãy vậy. Tôi nhìn bốn phía, phát hiện không thấy đuôi máy bay đâu cả. Tất cả đều bị đánh bay mất. Tôi mở nắp buồng lái, tháo khóa dây đeo dù, từ bên trong bò ra. Tôi thậm chí không biết mình bị bỏng, nhưng ngọn lửa cháy thẳng vào mặt tôi, phần lớn cháy ở gần miệng. Tôi chỉ cảm thấy khi nước muối làm đau buốt." Gaillard thở dài, nhìn quanh căn phòng, ánh mắt buồn bã của anh dừng lại trên người lính cứng nhắc, bốc mùi kia. "Vậy là tôi đến đây. Chiến tranh thế nào rồi? Bác sĩ Đức nói chiến tranh thực ra đã kết thúc rồi. Tất nhiên đây là lời nói dối."

Victor Henry cố gắng nói tình hình theo hướng tốt nhất có thể. Phi công gật đầu, vui vẻ lên. "Thế mới đúng chứ."

Đồng hồ vẫn tích tắc, người lính canh hắt hơi hai cái, làm họ giật mình. Khuôn mặt anh ta biến dạng, nước mắt chảy xuống mặt, nhưng anh ta vẫn đứng đờ đẫn như cũ.

"Lạ ở chỗ này," Gaillard nói. "Ông từ đây ra ngoài sẽ cùng một vị tướng Không quân Đức dùng bữa trưa, còn tôi vẫn là một tù nhân dưới họng súng. Tôi nghĩ ông tốt nhất nên đi nhanh đi."

"Không vội, lấy vài điếu thuốc đi, tôi rất muốn để lại cả bao này cho anh, chỉ là cái thằng ngốc này có lẽ sẽ cho rằng việc này có chút ám muội, từ đó gây ra hiểu lầm."

"Ha! Gọi anh ta là thằng ngốc đúng không sai. Ông suy nghĩ thật là chu đáo, thưa ông." Gaillard rút vài điếu thuốc, sau đó bị cảm xúc nhất thời chi phối, bỗng nhiên đưa bao thuốc lá đó đến trước mặt người lính canh. Đôi mắt người lính Đức di chuyển lên xuống, lắc đầu lia lịa, giống như một con ngựa đang xua đuổi ruồi vậy.

Gaillard châm điếu thuốc mới trên đầu điếu thuốc cũ. "Này, tôi không biết ông đã làm thế nào, nhưng tôi phải cảm ơn ông! Cảm ơn ông! Ông giúp tôi nhiều hơn ông tưởng đấy."

"Ừm, chủ yếu là nhờ may mắn, nhưng tôi cuối cùng đã tìm thấy anh, trong lòng vẫn rất vui."

Viên phi công vặn vẹo khuôn mặt, nở một nụ cười gượng gạo – bên trái cái miệng đang băng bó của anh ta trông như bị tê liệt – rồi nói: "Chẳng trách Pam cho rằng anh có thể xoay xở được mọi việc."

Pug ngước nhìn chiếc đồng hồ cũ. Mặt đồng hồ đã mờ nhạt không rõ hình thù, nhưng kim đồng hồ đã gần chỉ đến chính ngọ. "Tôi nghĩ tốt nhất là không nên để vị tướng quân phải chờ đợi quá lâu."

"Tất nhiên rồi, thưa ông." Viên phi công nhìn về phía người lính gác, rồi nói thêm: "Dù sao đi nữa, tôi không thể quên được cái gã ngốc nghếch này, hắn làm tôi thấy khó chịu."

Khi Victor Henry nhấc ống nghe điện thoại ra khỏi móc, chiếc đồng hồ điểm mười hai tiếng. Ông đặt ống nghe trở lại vị trí cũ.

"Hãy bảo với Pam là tôi sẽ sớm gặp cô ấy," Gallard nói với giọng kiên định, ngầm ý rằng anh đã có kế hoạch đào thoát.

"Hãy cẩn thận."

"Tin tôi đi. Anh biết tôi sống vì ai mà. Đến lúc đó, chúng ta sẽ nhờ anh làm phù rể, chỉ cần anh ở trong phạm vi một ngàn dặm."

"Nếu tôi ở trong phạm vi một ngàn dặm, chắc chắn tôi sẽ đến."

Khi Pug ngồi xe đi xuyên qua Lille, cũng giống như lần trước ngồi trong toa ăn, ông lại một lần nữa nhận thấy sự cai trị của Đức đã trở nên ổn định. Trong tiết trời mưa phùn, trên những con phố xám xịt và đại lộ của thành phố công nghiệp lớn này, người Pháp dưới sự chỉ huy của cảnh sát Pháp, lái những chiếc xe hơi Pháp mang biển số Pháp, tất bật giữa những cửa hiệu và bảng quảng cáo của Pháp. Chỉ là thỉnh thoảng lại xuất hiện một thông báo bằng chữ in đậm tiếng Đức, một tấm biển dán trên phố hoặc phía trên lối vào tòa nhà – thường ghi dòng chữ "Cấm vào" – cùng với cảnh tượng chướng mắt là những người lính Đức ngồi tuần tra trên xe tải quân sự, nhắc nhở người ta rằng Hitler mới là chủ nhân của Lille. Không còn nghi ngờ gì nữa, thành phố này đã bị cướp bóc, chỉ là theo một cách văn minh hơn, có tổ chức hơn. Pug từng nghe về thủ đoạn của chúng: người Đức mua phần lớn hàng hóa bằng loại tiền chiếm đóng không có giá trị, những kẻ cướp bóc trắng trợn thì trưng dụng vật tư và chỉ để lại một tờ biên nhận vô dụng, nhưng quá trình sử dụng những thủ đoạn này lại không hề lộ liễu. Những dòng người qua lại trên phố Lille trông có vẻ trầm uất, nhưng Victor Henry chưa thấy người Pháp nào mà không trông trầm uất cả. Ở đây cũng như trên tàu hỏa, trật tự mới dường như sẽ tồn tại một ngàn năm.

Vị tướng quân biết kéo đàn cello đội một chiếc mũ không quân Đức cao ngất, đi đôi ủng da đen bóng loáng, khoác chiếc áo mưa quân sự màu xanh xám phẳng phiu dài chấm gót, trông ông ta cao hơn, gầy hơn và hung dữ hơn trước. Viên trung úy thấy ông ta thì cúi chào một cách khiêm nhường và đứng nghiêm, mọi người trong bộ tư lệnh đều cung kính với ông ta, đủ cho thấy Jaggernaut là sĩ quan cấp cao nhất ở đây. Ông ta đưa ra hai lựa chọn cho Victor Henry: hoặc là dùng một bữa trưa tử tế tại một biệt thự "khá tiện nghi" gần đó do không quân Đức trưng dụng, hoặc là ăn tạm một chút ngay tại sân bay này. Sau khi Pug đưa ra lựa chọn, ông ta gật đầu tán thành. Ông ta cởi áo mưa, không cần nhìn mà để nó rơi khỏi vai, viên trung úy lập tức tiến lên đón lấy.

Vị tướng quân và khách của ông ta đi vào văn phòng bên trong, ngồi xuống một chiếc bàn trải khăn, ăn súp, cá tầm, thịt bê, phô mai và trái cây. Tất cả đều được đựng trong những chiếc đĩa sứ viền vàng, do những người phục vụ người Pháp với bước chân nhẹ nhàng và gương mặt rạng rỡ bưng tới. Tướng Jaggernaut chỉ gắp vài món ăn, không uống nhiều rượu. Victor Henry thấy sắc mặt ông ta tái nhợt và khô héo, nhận ra đó là dấu hiệu của bệnh tim, nhưng không nói gì. Ông đang đói, chỉ cắm cúi ăn, còn vị tướng vừa hút thuốc vừa trò chuyện bằng thứ tiếng Đức chuẩn xác nhưng phát âm hơi không rõ, viên trung úy của ông ta khi nói chuyện rõ ràng là luôn bắt chước theo ông. Ông ta thường xuyên dừng lại, lấy tay che miệng ho một cách thận trọng.

Jaggernaut nói, Hải quân Mỹ là bộ máy quân sự duy nhất trên thế giới có thể so sánh với Lục quân Đức về mặt chuyên môn. Vào những năm ba mươi, ông ta đã từng đi tham quan với tư cách là một quan sát viên và truyền đạt khái niệm ném bom bổ nhào cho Goering. Nhờ đó, không quân Đức đã phát triển loại máy bay ném bom bổ nhào hạng nhẹ Stuka. "Dù anh có tán thành hay không," ông ta nói với một nụ cười mệt mỏi. "Sự thành công của chiến tranh chớp nhoáng của chúng tôi, xét trên một chừng mực đáng kể, phải kể đến công lao của hải quân các anh."

"Vâng, có lẽ sau chiến tranh chúng tôi sẽ đón nhận lời khen này, thưa tướng quân."

Jaggernaut nghe thấy câu nói đầy mỉa mai của Pug thì gật đầu không mấy vui vẻ, rồi nói tiếp: Lục quân Mỹ không thể so sánh được, cũng như mọi quân đội hiện đại khác, lý thuyết và thực tiễn của nó đều được phát triển và suy diễn từ các khái niệm của Bộ Tổng tham mưu Đức. Nhưng ông ta nhận thấy Lục quân Mỹ còn khá nghiệp dư, thiếu khí phách trong các động tác cơ động, và số lượng cũng quá đáng thương. Ông ta nói, Mỹ về bản chất là một cường quốc hàng hải nối liền hai đại dương của thế giới. Tình trạng của các lực lượng vũ trang phản ánh sự thật địa lý này.

Từ đây, ông ta bắt đầu nói về Spengler, nói rằng người này cũng giống như bao người Đức khác, không thể hiểu nổi nước Mỹ. Đó chính là sai lầm trong cuốn "Sự suy tàn của phương Tây". Mỹ lại trở thành một châu Âu của những người Cơ đốc giáo da trắng, có cơ hội phát triển lại trên một lục địa giàu có chưa được khai phá. Mỹ liên minh với một châu Âu hiện đại, trật tự, sẽ có thể mang lại sự hồi sinh to lớn cho phương Tây, mang lại một thời đại hoàng kim mới. Ít nhất đó là điều mà Pug hiểu được từ những lời bàn luận viển vông của vị tướng, giống hệt với những gì ông từng nghe vào tối cuối tuần ở Abendroth.

Khi uống cà phê – vị cà phê kinh khủng, giống như vị vỏ hạt óc chó bị cháy – Jaggernaut nói: "Ông có muốn dành chút thời gian đi xem sân bay không? Thời tiết không được tốt lắm."

"Nếu một trong các sĩ quan tùy tùng của ngài có thời gian, tôi rất sẵn lòng."

Nụ cười mệt mỏi của ông ta lại xuất hiện. "Công việc của tôi trong chiến dịch này đã kết thúc từ lâu rồi. Còn lại là việc của các chỉ huy mặt trận. Tôi có thể đi cùng ông một chuyến."

Họ đi một chiếc xe nhỏ hẹp dạo một vòng quanh sân bay, trong xe nồng nặc mùi lưu huỳnh của xăng Đức. Mặt trời chiếu rọi từ khe hây mây xanh biếc trên bầu trời thấp, dưới ánh nắng mờ nhạt, những chiếc máy bay Messerschmitt 109 ngắn ngủn lộ ra một nửa từ các hầm trú ẩn dưới đất, những dấu chữ thập và chữ A sơn trên đó đã bong tróc. Nơi này hoàn toàn giống như một căn cứ máy bay chiến đấu của Anh: nhà kho sửa chữa, nhà chứa máy bay, doanh trại phân tán, sân bay dã chiến hình chữ thập nằm giữa trang trại yên bình và những đồng cỏ nhấp nhô nơi đàn bò đang gặm cỏ. Những thông báo bằng tiếng Pháp đã phai màu cho thấy đây là căn cứ mở rộng của không quân Pháp đã bị đánh bại. Phần lớn các công trình đều là nhà mới xây thô sơ bằng gỗ hoặc xi măng. Những đường băng cũ nứt nẻ và đường băng mới rộng rãi nằm song song, giống như đường đua xe hơi vậy.

"Tất cả những thứ này là các ông hoàn thành sau tháng Sáu sao?" Pug nói. "Thật không tệ."

Lúc này Jaggernaut trông như một ông già được khen ngợi, nở nụ cười vui vẻ và ôn hòa, lộ ra hàm răng thưa thớt. "Ánh mắt của ông rất chuyên nghiệp. Những kẻ thời thượng trong giới báo chí phương Tây cứ muốn biết tại sao không quân Đức lại chờ đợi sáu tuần quý giá trước khi tấn công. Họ thì biết gì về hậu cần chứ?"

Vị tướng nói, khi Hitler giao toàn bộ quyền chỉ huy tác chiến không quân cho Goering, ông ta chỉ kiên trì một điểm, nhưng đủ để chứng minh thiên tài quân sự của mình. Sau khi chinh phục các quốc gia vùng trũng và miền bắc nước Pháp, các căn cứ không quân tiền phương phải được xây dựng theo lệnh của ông ta. Cho đến lúc đó, ông ta mới cho phép không quân Đức tấn công nước Anh. Căn cứ tiền phương phải gấp hai hoặc ba lần lực lượng không quân Đức. Do đó, với cùng một khoảng thời gian, cùng một số lượng máy bay có thể thực hiện số cuộc tấn công gấp hai hoặc ba lần, như vậy hành trình được rút ngắn, trọng lượng xăng có thể được thay thế bằng trọng lượng bom.

"Đây là tư duy chiến lược đơn giản nhất," Jaggernaut nói, "cũng là đúng đắn nhất."

Họ tham quan một doanh trại phân tán, những chàng trai Đức vẻ mặt mệt mỏi trông rất giống phi công của Không quân Hoàng gia Anh, họ mặc đồ bay nằm lười biếng, chờ lệnh xuất phát. Nhưng khi nhìn thấy Jaggernaut, họ lập tức bật dậy đứng nghiêm, trong khi phi công Anh thì không bao giờ làm vậy. Doanh trại được xây dựng thô sơ hơn doanh trại của Anh, trên vách gỗ, gần lịch trực và các lưu ý được in thạch bản, dán những bức ảnh phụ nữ đầy đặn, tươi cười, so với những phụ nữ Anh-Mỹ gầy gò thì mang đậm nét gợi cảm mềm mại kiểu Đức hơn. Ngoài ra, mọi thứ đều giống hệt, thậm chí cả mùi ẩm mốc trên chăn đệm và quần áo bay cũng vậy.

Khi chiếc xe nhỏ của Jaggernaut chạy dọc theo sân bay, còi báo động không kích vang lên. Các phi công từ trong doanh trại vội vã chạy ra. "Dừng xe," Jaggernaut nói với tài xế; rồi nói thêm một câu với Victor Henry: "Một cuộc không kích quấy rối, ở độ cao lớn. Chiến thuật đúng đắn, chúng tôi phải phản ứng, làm cho phi công của chúng tôi rất bối rối. Nhưng người Anh cũng phải trả giá bằng một lượng lớn máy bay ném bom. Những chiếc máy bay mỏng manh, trang bị rất kém. Chúng ta có ra ngoài xem không?"

Những chiếc máy bay Messerschmitt từng chiếc một vào vị trí, rồi gầm rú bay đi, tạo thành một dòng thác máy bay chiến đấu bay thẳng lên cao.

"Đối với tôi, đây là một cảnh tượng khó chịu," Jaggernaut nói, hai tay ôm chặt lấy thân hình gầy gò trong chiếc áo khoác mới toanh, như thể đang bị lạnh.

"Người Đức đang chiến đấu với người Anh. Kim cương cắt kim cương. Đây là cuộc nội chiến của phương Tây, thuần túy là hành động tự sát ngu xuẩn. Người Anh ngày mai hoàn toàn có thể có được một nền hòa bình tử tế và vinh quang. Con chó bull Churchill đó dựa vào, chỉ dựa vào một thứ – sự viện trợ của Mỹ."

"Thưa tướng quân, ông ấy dựa vào lòng dũng cảm của nhân dân ông ấy và chất lượng không quân của ông ấy."

"Đại tá Henry, nếu Roosevelt cắt đứt toàn bộ viện trợ và nói với Churchill rằng ông ta sẵn sàng tìm kiếm hòa bình, thì cuộc chiến này có thể kéo dài bao lâu?"

"Nhưng điều đó là không thể."

"Rất đúng, vì Tổng thống của các anh bị bao vây bởi những Morgenthau, Frankfurter và Lehman." Pug vừa định lên tiếng phản đối thì tướng Jaggernaut đã giơ một bàn tay gầy gò đeo găng dài màu xám lên. "Tôi không phải là một đảng viên Quốc xã. Tôi là từ Lục quân chuyển sang Không quân. Đừng nghĩ rằng bài Do Thái chỉ là vấn đề của nước Đức. Thái độ của toàn bộ châu Âu đối với người Do Thái là hoàn toàn giống nhau. Quốc trưởng chẳng qua chỉ là thực tế tuyên bố nó ra mà thôi. Một số đảng viên của ông ta đã làm những việc ngu xuẩn quá mức. Nhưng ông không thể vì hành vi thô bạo của một số ít người mà buộc tội cả một dân tộc. Những người Do Thái Mỹ xung quanh Roosevelt đã phạm phải sai lầm tương tự như những kẻ cuồng tín Quốc xã của chúng tôi."

"Tướng Jaggernaut," Pug vội vã chen vào, "tại sao ông cũng tin rằng người Do Thái đang giật dây sau lưng chúng tôi để kích động sự thù hận đối với sự cai trị của Hitler? Không thể phạm sai lầm nào lớn hơn thế nữa." Ông hy vọng có một lần có thể phá vỡ quan niệm không thể lay chuyển này của người Đức. Jaggernaut là một người thông minh xuất chúng. "Rất nhiều người Mỹ vô cùng ngưỡng mộ người Đức. Tôi cũng vậy. Nhưng có những việc Hitler làm, đối với bất kỳ người Mỹ nào cũng đều không thể tha thứ."

"Việc Hitler làm!" Jaggernaut thở dài, đôi mắt ông ta nặng nề và u sầu.

"Để tôi kể cho ông nghe vài chuyện khiến ông phải kinh ngạc, Đại tá. Khi chúng tôi chiếm Ba Lan, chính người Đức chúng tôi đã ngăn cản người Ba Lan sát hại người Do Thái. Họ coi sự xuất hiện của chúng tôi như tín hiệu để có thể làm bất cứ điều gì họ muốn. Thật sự đã trở thành mùa săn lùng người Do Thái công khai! Những tội ác tày trời thật không thể tin nổi. Đúng vậy, lực lượng vũ trang của chúng tôi đã phải can thiệp, cứu người Do Thái khỏi tay người Ba Lan để bảo vệ họ." Vị tướng ho rất dữ dội. "Tôi không giả vờ nói rằng chúng tôi yêu người Do Thái. Tôi cũng không nói rằng họ nên yêu chúng tôi. Tôi thực sự hiểu những Morgenthau đó. Nhưng họ đã phạm phải sai lầm đáng thương. Mỹ không thể cho phép Anh và Đức quyết chiến một trận sống còn. Chúng ta thuộc về cùng một nền văn hóa. Chúng ta đều thuộc về phương Tây. Nếu chúng ta đấu đá đến chết, chúng ta sẽ phải khuất phục trước chủ nghĩa Bolshevik châu Á. Tiếp theo đó sẽ là một ngàn năm tăm tối man rợ."

Jaggernaut im lặng, đôi mắt trũng sâu, có phần phấn khích của ông ta chằm chằm nhìn Pug. Sau đó, ông ta chìa ra một ngón tay dài cứng đờ. "Giá mà có vài cố vấn mạnh mẽ nói cho Tổng thống của các anh biết quan điểm này thì tốt biết mấy! Nhưng những cố vấn đó ngoài người Do Thái ra, thì cũng là người có dòng máu Anh. Tình hình tồi tệ như vậy đấy! Chúng tôi sẽ đánh bại người Anh, Đại tá Henry, chúng tôi có sức mạnh đó. Chúng tôi chưa bao giờ định chiến đấu với họ. Quốc trưởng hoàn toàn có thể đóng một ngàn chiếc tàu ngầm, bóp nghẹt nước Anh trong vòng ba tháng. Ông ta chưa bao giờ nhấn mạnh vào tàu ngầm. Ông biết đấy. Giành được thắng lợi như vậy thì có ích gì cho chúng tôi chứ? Chúng tôi chẳng qua chỉ đánh bại đồng minh tự nhiên tốt nhất của mình mà thôi."

"Vâng, thưa tướng quân, khi Ba Lan vẫn còn là đồng minh của Anh thì các ông đã tấn công nó. Các ông đã làm giao dịch với Stalin. Những việc này các ông đều đã làm."

"Những việc này đều là bị ép buộc phải làm." Jaggernaut lấy tay đeo găng che miệng, ho một tiếng thật lớn và lịch sự. "Chúng tôi là một dân tộc kỳ lạ, Đại tá Henry, không dễ để người ngoài hiểu được. Chúng tôi rất nghiêm túc, rất ngây thơ. Chúng tôi luôn muốn có được những vì sao trên trời. Trong mắt người ngoài, chúng tôi có vẻ hơi vô cảm và kiêu ngạo. Anh em người Anh của chúng tôi cũng kiêu ngạo y như vậy, tôi đảm bảo với ông. Ôi, nhưng họ học được một loại lễ độ! Họ coi thường người Do Thái. Họ bài xích người Do Thái trong các câu lạc bộ, ngân hàng và mọi cơ quan then chốt nơi nắm giữ quyền lực. Nhưng thái độ của họ đối với người Do Thái lại rất lịch sự. Còn chúng tôi, chúng tôi tiếp nhận người Do Thái vào những cơ quan cao nhất, nhưng họ ùn ùn kéo đến, gần như lấn lướt cả chủ nhà. Thế nhưng chúng tôi lại bộc lộ cảm xúc của mình. Sự khác biệt nằm ở chỗ đó. Người Đức thích cảm tính, giống như Faust, không ngừng theo đuổi. Để theo đuổi vinh quang, họ sẽ hát những bài ca vui vẻ, đi bộ hoặc bay hoặc chèo thuyền lao về phía cái chết. Đây chính là sự ngây thơ của chúng tôi, đúng vậy, là sự nguyên thủy của chúng tôi. Nhưng nó rất lành mạnh. Mỹ cũng có sự ngây thơ của riêng mình, đó là chủ nghĩa thực dụng nguyên thủy của vùng biên giới, những gã cao bồi đó."

"Tất cả những điều này nói lên điều gì? Chúng ta cần những người bạn Mỹ ra mặt giải thích rằng, cuộc chiến này có hai mặt, giải pháp duy nhất là hòa bình của phương Tây, sự thống nhất của phương Tây, một liên minh phương Tây có thể kiểm soát thế giới – à, nhìn đằng kia kìa, những kẻ ném bom của Anh đối với gia súc của Pháp quả thực là quá tàn nhẫn, nhưng họ cũng chỉ có chút bản lĩnh đó thôi."

Trên một ngọn đồi nhỏ phía xa, giữa khói lửa mịt mù, từng đống đất hình nón ngược bay cao lên không trung, đàn bò chạy loạn xạ một cách vụng về. Vị tướng nhìn đồng hồ.

"Tôi phải đến bộ chỉ huy họp một chút, nếu ông có thể ở lại ăn tối thì Lille có một nhà hàng tốt..."

"Tôi phải quay về Berlin, thưa tướng quân. Tôi không biết dùng lời nào để bày tỏ lòng biết ơn, nhưng..."

Bàn tay đeo găng giơ lên. "Đừng nhắc đến nữa. Được trò chuyện với một người Mỹ hiểu được tình thế của chúng tôi, một quân nhân chuyên nghiệp, thật sự rất tốt cho sức khỏe của tôi."

Khi Jaggernaut giao Victor Henry cho viên trung úy tại lối vào tòa nhà bộ chỉ huy, những chiếc máy bay Messerschmitt đang hạ cánh trong mưa.

"Về phần Đại úy không quân Gallard, nếu chúng tôi còn có thể giúp được gì, xin hãy cho chúng tôi biết." Jaggernaut nói, cởi một chiếc găng tay, chìa ra một bàn tay lạnh lẽo ẩm ướt. "Auf Wiedersehen, Đại tá Henry. Nếu tôi có giúp được gì cho ông một chút, tôi chỉ xin ông một yêu cầu này. Dù sau này ông làm việc ở đâu, hãy nhớ rằng chiến tranh có hai mặt, bên nào cũng có những người tử tế."

Trong ngân hàng của Wolf Stoller, trần nhà chạm khắc hoa văn lộng lẫy dường như cao tới bốn trượng. Đã tan tầm. Phía sau những ô cửa sổ lưới vẫn còn vài nhân viên đang lặng lẽ làm việc. Dưới mái vòm cao vút, tiếng bước chân của hai người trên sàn đá cẩm thạch đỏ nghe như một hàng binh sĩ đang đi đều bước. "Ở đây hơi tối một chút," Stoller nói, "nhưng rất yên tĩnh. Đi lối này, Victor."

Họ đi qua một phòng họp khá lớn để vào một văn phòng nhỏ được trang trí lộng lẫy, bốn bức tường treo đầy tranh sơn dầu; dù Henry không biết nhiều, nhưng cũng nhận ra hai bức của Picasso và một bức của Renoir.

"Ồ, anh sắp đi rồi sao," Stoller nói, ra hiệu về phía một chiếc ghế bành bọc da màu hạt dẻ nặng nề. "Có nằm trong dự liệu của anh không?"

"Vâng, tôi cứ nghĩ phải đợi một hai tuần mới có lệnh điều động. Nhưng tôi vừa từ Lille về, lệnh đã ở đó đợi sẵn rồi."

"Tất nhiên là anh đang nóng lòng được đoàn tụ với người vợ xinh đẹp của mình rồi."

Victor Henry nhìn vào bức tranh Picasso khá lớn kia, đó là một bức chân dung phụ nữ với màu sắc quá sặc sỡ và bị biến dạng kỳ dị. "Tôi cứ tưởng nghệ thuật hiện đại không được hoan nghênh ở Đế chế thứ ba chứ," ông nói.

Stoller cười. "Ở đây giá của nó không hề giảm. Thống chế có bộ sưu tập lớn nhất thế giới. Ông ấy là một người rất có văn hóa. Ông ấy biết mọi thứ rồi sẽ thay đổi."

"Sẽ sao?"

"Chắc chắn rồi, chỉ cần chờ chiến tranh kết thúc. Chúng ta là một quốc gia đang bị bao vây, Victor. Thần kinh quá căng thẳng, cảm xúc cực đoan bao trùm lên tất cả. Tất cả những điều này sẽ sớm trở thành quá khứ. Châu Âu sẽ trở thành một khu vực sống rất tốt đẹp. Đức sẽ càng là nơi thoải mái nhất châu Âu. Dùng một ly Sherry nhé?"

"Tuyệt quá, cảm ơn anh."

Stoller rót rượu từ một chiếc bình pha lê nặng trịch. "Chúng ta cụng ly vì điều gì? Tôi dám chắc anh sẽ không cụng ly vì thắng lợi của nước Đức đâu." Pug cười khổ nói: "Anh biết đấy, chúng tôi là nước trung lập."

"À, vâng. À, Victor, nếu các anh thực sự trung lập thì tốt biết mấy! Chúng ta sẽ vui mừng biết bao khi đạt được sự đồng thuận trong vấn đề này! Vậy thì, cụng ly vì nền hòa bình vinh quang nhé?"

"Tất nhiên rồi. Cụng ly vì nền hòa bình vinh quang." Họ uống rượu.

"Rượu được chứ?"

"Tuyệt lắm. Tôi không phải là người sành rượu."

"Nghe nói đây là loại Sherry ngon nhất châu Âu."

"Quả thực là tuyệt vời."

Vị chủ ngân hàng ngồi xuống một chiếc ghế bành, châm một điếu xì gà dài. Dưới ánh đèn trên trần nhà, da đầu ông ta lộ ra màu hồng nhạt qua mái tóc thưa thớt.

"Chuyến đi nhỏ đến Lille của anh thành công chứ?"

"Vâng, tôi phải cảm ơn anh và vị tướng quân."

"Đừng khách sáo. Theo quy định chung, những việc như thế này không chỉ bất thường, mà còn là tuyệt đối không thể. Nhưng giữa những người tử tế với nhau, có những quy định đặc biệt." Stoller thở dài. "Vâng, Victor, tôi vất vả mời anh đến gặp tôi, tất nhiên không phải chỉ để mời anh uống một ly Sherry."

"Tôi cũng nghĩ anh không làm như vậy."

"Anh là một quân nhân. Có những cuộc trò chuyện đặc biệt đôi khi phải quên đi, không được để lại bất kỳ dấu vết nào. Trong tiếng Đức, chúng tôi có một cụm từ đặc biệt cho những chuyện tế nhị như vậy. 'Dưới bốn con mắt'."

"Tôi đã từng nghe cụm từ này."

"Những điều sắp tiết lộ dưới đây chính là 'dưới bốn con mắt'."

Victor Henry nghe xong cảm thấy rất kỳ lạ, cảm thấy ngoài việc để vị chủ ngân hàng nói tiếp thì không còn cách nào khác. Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, ông không thể tưởng tượng nổi; phỏng đoán tốt nhất của ông là một vòi bạch tuộc hòa bình gián tiếp từ Goering, muốn ông chuyển đạt cho Tổng thống.

"Anh đã nói chuyện với Gregor Jaggernaut về tiến trình của cuộc chiến. Về sai lầm bi kịch của cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa Đức và Anh này." Pug gật đầu.

"Anh thấy ý kiến của ông ta có lý không?"

"Thú thật, chúng tôi ở hải quân không học về địa chính trị. Ít nhất là chúng tôi không có môn đó. Cho nên tôi không hiểu gì về lý thuyết của Spengler và những người khác."

"Anh là một người thực dụng kiểu Mỹ," Stoller cười nói.

"Tôi là một người học về xạ kích, bị sắp xếp nhầm vào ngành ngoại giao, nhưng lòng chỉ muốn thoát khỏi ngành này."

"Tôi tin anh. Những người tử tế đều muốn phục vụ trên chiến trường."

"Tôi muốn làm công việc mà mình đã học."

"Anh thực sự nghĩ rằng, sự viện trợ của Mỹ và hy vọng nhận được nhiều viện trợ hơn từ Mỹ là lý do ủng hộ nước Anh tiếp tục chiến đấu?"

"Một phần. Họ không muốn rút lui. Họ nghĩ rằng họ có thể thắng."

"Dựa vào sự viện trợ của Mỹ."

"Vâng, họ nghĩ có thể nhận được."

"Vậy thì thứ ngăn cách toàn bộ thế giới phương Tây và nền hòa bình vinh quang – thứ mà anh và tôi vừa cụng ly lúc nãy – chủ yếu là sự tin tưởng của Churchill vào viện trợ của Roosevelt."

Pug dừng lại vài phút mới trả lời. "Có lẽ vậy, nhưng thế nào mới là hòa bình vinh quang? Churchill muốn loại bỏ Hitler. Hitler muốn loại bỏ Churchill. Cả hai vị này đều nắm quyền vững chắc như nhau, và cả hai đều đại diện thực sự cho ý chí dân tộc. Vấn đề cứ phơi bày ra như vậy đó."

"Anh sắp quay về làm sĩ quan tùy tùng hải quân cho Tổng thống Roosevelt rồi," Stoller nói câu này với giọng điệu dò hỏi.

Gương mặt Pug không lộ chút vẻ kinh ngạc nào. "Tôi quay về Cục Nhân sự để chờ đợi sự bổ nhiệm mới."

Nụ cười của vị chủ ngân hàng thể hiện sự bao dung và tự tin. "Được thôi, tin tức của chúng tôi về loại chuyện này thường rất chính xác. Bây giờ, Victor, hãy để tôi nói hết lời của mình, đừng ngắt lời tôi trước khi tôi nói xong. Tôi chỉ yêu cầu có vậy thôi, được chứ?"

"Được."

Vị chủ ngân hàng rít hai hơi xì gà. "Những người tử tế khi nói chuyện với nhau thường sử dụng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, Victor, và tôi đang dùng thứ từ vựng đặc biệt đó để trò chuyện với anh đây. Những chuyện này cực kỳ tế nhị. Suy cho cùng, ngoài câu chữ ra còn phải có một sự kết nối về mặt tinh thần. Đối với anh, Grego-Yago và tôi đều cảm thấy có sự kết nối đó. Anh luôn vô cùng chuẩn mực, nhưng không giống như nhiều nhân viên tại Đại sứ quán Mỹ, anh không nhìn nhận người Đức chúng tôi như những kẻ man di ăn thịt người. Anh luôn coi chúng tôi là những con người giống như các anh. Người vợ xinh đẹp đáng yêu của anh cũng vậy. Tôi cam đoan với anh rằng, tình trạng này đã được ghi nhận. Còn về việc anh đồng cảm với Anh quốc, đó là điều hết sức tự nhiên. Tôi cũng vậy. Tôi yêu nước Anh, tôi đã ở Oxford hai năm."

"Bây giờ, anh đã nghe Grego nhắc tới tầm ảnh hưởng của người Do Thái xung quanh Tổng thống của các anh, tôi biết anh buộc phải phủ nhận điều này, nhưng đây là một sự thật vô cùng nghiêm trọng trong cuộc chiến tranh này, chúng ta phải đối mặt với sự thật đó và thực hiện các biện pháp cần thiết."

Pug định lên tiếng. Stoller giơ bàn tay cứng đờ lên ngăn ông lại. "Anh đã hứa sẽ nghe hết lời tôi nói rồi mà, Victor. Trong tình thế này, chúng ta cần những người bạn ở Washington. Không phải kiểu gây áp lực trơ trẽn như người Do Thái, mà chỉ là cung cấp một khía cạnh khác của vấn đề. Roosevelt là người có tầm nhìn rất rộng, chúng ta có thể cho ông ấy thấy rằng, dựa trên lợi ích của nước Mỹ, cần phải nhanh chóng đạt được một nền hòa bình vẻ vang ở phương Tây. Ít nhất có một điểm là chắc chắn, chỉ có như vậy ông ấy mới có thể rảnh tay để đối phó với Nhật Bản. Anh nghĩ chúng tôi thực sự quan tâm đến Nhật Bản sao? Cái hiệp ước mới đó chẳng qua chỉ là một vở hài kịch, để cho người Nga lo lắng một chút và an phận thủ thường mà thôi."

"Bây giờ, Victor — hãy nhớ đây là cuộc đối thoại giữa bốn mắt — chúng ta thực sự có những người bạn như vậy. Không nhiều, chỉ vài người. Họ đều là những người Mỹ yêu nước, những người nhìn thấy thực tế của chiến tranh chứ không phải sự tuyên truyền của người Do Thái và Churchill — nhắc đến Churchill, ông ta từ đầu đến cuối chẳng là gì cả, chỉ là một kẻ phiêu lưu có chứng vĩ cuồng. Chúng tôi hy vọng anh sẽ là một người bạn như thế."

Victor Henry thấy hối hận vì đã uống ly rượu Sherry đó quá nhanh. Câu chuyện đang chuyển sang hướng cần phải nghiêm túc đối đãi. Ông hơi rướn người về phía trước.

"Hãy để tôi nói tiếp," vị chủ ngân hàng nói, tay cầm điếu xì gà vung về phía ông. "Anh biết mối quan hệ của tôi với Hermann Göring. Trong mắt tôi, ông ấy là một nhân vật vĩ đại trong lịch sử châu Âu. Sự nắm bắt thực tế và nguồn năng lượng dồi dào của ông ấy thực sự khiến tôi kinh ngạc. Quốc trưởng — ừm, Quốc trưởng tất nhiên là khác rồi, ông ấy làm gì cũng cao hơn chúng ta một bậc, ở tầm cao của những lời tiên tri, ở tầm cao của những giấc mơ vĩ đại. Kỹ sư vận hành các công tắc chính là Göring. Mọi việc ở Đức không có gì là ông ấy không nhúng tay vào, cũng không có gì là ông ấy không biết. Các anh người Mỹ với định kiến Thanh giáo cho rằng ông ấy hơi giống Satan, nhưng người Đức chúng tôi lại yêu thích opera và sự giàu sang. Đây là một điểm yếu. Thống chế hiểu điều đó và đã tận dụng nó. Tất nhiên, bản thân ông ấy cũng tận hưởng một cách trọn vẹn, tại sao lại không chứ? Tình yêu cuộc sống của ông ấy mang tính Faust, mang tính Rabelais."

"Victor, Hermann Göring đã mở một số tài khoản ngân hàng ẩn danh, không thể truy vết tại Thụy Sĩ. Nguồn lực của ông ấy là khổng lồ. Những khoản tiền gửi ngân hàng này sau chiến tranh sẽ được dùng để thù lao cho những người bạn tốt của nước Đức, những người đã lên tiếng vì nước Đức vào thời điểm then chốt. Việc này chẳng có gì chung với gián điệp cả, đó là việc đưa tiền cho những kẻ làm chuyện xấu xa trong bóng tối để đổi lấy tài liệu hoặc tin tức. Còn điều tôi vừa nói, chẳng qua chỉ là món quà bày tỏ lòng biết ơn giữa những người tử tế, chia sẻ một chút lợi ích vào ngày chiến thắng. Nếu bạn bè của chúng tôi cần tiền gửi, thì nó ở ngay đây. Nếu họ không cần..." Stoller nhún vai, tựa lưng ra sau. "Tôi đã nói xong những gì cần nói, Victor. Sau khi anh nói xong những lời của mình, cuộc đối thoại này sẽ coi như chưa từng tồn tại." Victor Henry cả đời này chưa bao giờ kinh ngạc đến thế.

"Điều này rất thú vị," ông nói. "Vô cùng thú vị." Sau một hồi im lặng, ông tiếp lời: "Được thôi! Trước hết, nếu có thể, xin hãy cho tôi biết, lý do gì khiến ông, hoặc Tướng Yago, hoặc Thống chế Göring cho rằng tôi có khả năng chấp nhận một đề nghị như vậy? Tôi dám nói, đây là điểm quan trọng nhất đối với tôi, cũng như đối với toàn bộ sự việc này."

"Anh bạn thân mến của tôi, thái độ của Washington là vô cùng quan trọng, mà anh lại sắp sửa đi Washington. Nếu có một ngày viện trợ của Mỹ dành cho Anh quốc bị cắt đứt, chúng tôi sẽ thắng cuộc chiến này. Thực sự, chúng tôi hiện tại đã thắng rồi, chỉ là nước Anh vẫn đang kiên trì ở đó, ôm ấp hy vọng mà ngay cả chính nó cũng không biết. Thêm ba, bốn tháng nữa, nó sẽ phá sản hoàn toàn. Chỉ cần các anh tuân thủ 'Đạo luật Trung lập', ngày tàn của nó cũng đến. Bây giờ, Victor, Thống chế vẫn nhớ lần ghé thăm thú vị khi anh tháp tùng chủ ngân hàng Giannini. Mục đích hiện tại của ông ấy cũng trùng khớp với mục đích của Roosevelt lúc bấy giờ, đó là để tránh thêm nhiều đổ máu vô ích. Ông ấy cho rằng anh có thể giúp đỡ, và Tướng Yago lại càng tin chắc rằng anh sẽ giúp." Stoller mỉm cười với Pug đầy lấy lòng, đôi mắt nheo lại thành một đường chỉ. "Còn về phần tôi, tôi biết người vợ xinh đẹp của anh là một phu nhân vô cùng thân thiện và giàu lòng trắc ẩn. Tôi đoán bà ấy thường phản ánh những tình cảm chân thật của anh, chân thật hơn cả những lời lẽ trịnh trọng của anh. Tôi tin là mình đã đúng."

Victor Henry gật đầu. "Tôi hiểu rồi. Ông Stoller, câu trả lời này rất rõ ràng. Đây là câu trả lời của tôi, giữa bốn mắt. Xin hãy chuyển lời giúp tôi tới Thống chế Göring, tiền gửi ngân hàng của ông ta ở Thụy Sĩ cứ giữ lại mà nhồi nhét vào cái bụng béo của ông ta đi."

Stoller kinh hãi biến sắc, làn khói xanh lượn lờ quanh gương mặt ông ta. Đôi mắt mở to, hơi ầng ậc nước, mặt ông ta đỏ bừng từ cổ áo cho đến tận chân tóc, ngay cả da đầu cũng đỏ lên. Ông ta nhe răng cười nham nhở.

"Tôi nhắc nhở anh, Đại tá Henry," ông ta đổi sang một giọng điệu mới, chậm rãi, cứng nhắc. "Anh vẫn chưa rời khỏi Đế chế thứ ba đâu. Anh vẫn đang sống ở Berlin đấy. Vị thế của Thống chế Hermann Göring ở đây chỉ đứng sau Quốc trưởng thôi."

"Tôi là sĩ quan Hải quân Mỹ. Trừ khi tôi hiểu lầm ông, hoặc ông định rút lại lời nói đó —" giọng Victor rất lớn, như đang quát lên. "Ông đã từng nhân danh ông ta yêu cầu tôi phạm tội phản quốc vì tiền."

Nụ cười nham nhở của vị chủ ngân hàng biến mất. Ông ta dùng giọng điệu hòa giải, ánh mắt dịu lại, dang rộng hai tay nói: "Victor thân mến, sao anh có thể hiểu như vậy chứ? Tôi cầu xin anh, hãy suy nghĩ cho kỹ! Các sĩ quan cấp cao nhất của lực lượng vũ trang Mỹ vẫn luôn công khai kêu gào, ủng hộ viện trợ cho Anh quốc. Những gì tôi yêu cầu ở anh chẳng qua chỉ là khi tình hình cần thiết, vì sự an toàn của nước Mỹ cũng như vì hòa bình, hãy trình bày tình hình của cả hai bên."

"Phải, với tư cách là một người tử tế, tôi đã nghe lời ông nói. Tôi thực sự tin rằng ông có ý đó. Tướng Yago từng nói, người Đức các ông là một dân tộc không dễ hiểu. Ông ấy nói đúng. Tôi chỉ còn cách nhận thua. Nhiệm vụ của tôi ở đây đã kết thúc rồi." Victor Henry biết mình đã tấn công quá mạnh, nhưng phản ứng của ông cũng giống như khi ông ở trong một trận đấu, xuất phát từ bản năng và sự thúc đẩy. Ông đứng dậy, vị chủ ngân hàng cũng đứng dậy theo.

"Anh hãy suy nghĩ lại đi, anh bạn già," Stoller nói khẽ, "Người Đức chúng tôi đang đánh trận, bốn phía đều là kẻ thù. Một ngày nào đó nước Mỹ cũng rơi vào hoàn cảnh này — hãy biết rằng lịch sử luôn thay đổi — một ngày nào đó có lẽ anh cũng sẽ đưa ra đề nghị tương tự với một người mà anh tôn trọng, anh sẽ cảm thấy khó xử giống như tôi thôi. Tôi cho rằng câu trả lời của anh là ngây thơ, là sai lầm. Lời lẽ của anh quá thô lỗ. Nhưng phẩm hạnh của anh vẫn cao thượng. Đây là phản ứng của một người tử tế, tôi tuyệt đối không để bụng. Tôi tin anh cũng vậy. Tôi đánh giá rất cao thiện ý của anh, Victor. Hơn nữa, chúng ta đã có khoảng thời gian rất vui vẻ ở Abendruh, đúng không?"

Stoller mỉm cười chìa bàn tay nhẵn nhụi, gầy gò và sạch sẽ đó ra. Pug quay người bước ra khỏi phòng, khi bước ra khỏi tòa ngân hàng vang vọng tiếng bước chân, người gác cửa cúi chào ông thật sâu, ông cũng gật đầu đáp lễ. Bên ngoài, hoàng hôn Berlin dưới ánh mặt trời rất ấm áp, những đứa trẻ Đức xinh xắn trên vỉa hè đang vây quanh một người đàn ông cụt chân chống nạng, nơi ông ta đang bán những con búp bê giấy màu hồng nhảy múa trên dây. Victor Henry bước nhanh qua mấy con phố, bước chân khiến trái tim ông đập thình thịch. Một ý nghĩ mới trong đầu ông là: lời nói và hành động thô lỗ của mình, rất có thể sẽ hại chết Ted Gallard.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »