Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 31

❊ ❊ ❊

Trước khi đất liền lọt vào tầm mắt, trên bầu trời quang đãng không một gợn mây phía trước máy bay, những quả khinh khí cầu chặn đường màu bạc, căng phồng đang lấp lánh, tô điểm thêm không khí lễ hội cho quần đảo Anh. Trong tiết trời nắng gắt tháng Tám, vùng đất này trông đặc biệt bình yên. Ô tô và xe tải chậm chạp bò dọc theo những con đường hẹp, xuyên qua các cánh đồng vàng và xanh nhấp nhô, vốn được chia thành từng mảnh nhỏ bởi những hàng rào đen. Những đàn cừu nhỏ đang gặm cỏ, nông dân từng người một như những con rối cử động khi thu hoạch ngô. Máy bay bay qua các thị trấn tụ tập xung quanh những nhà thờ lớn có chóp màu xám, bay qua sông ngòi, rừng cây, đầm lầy và những cánh đồng xanh mướt được bao quanh bởi hàng rào, bay qua một nước Anh vui tươi vốn thường được mô tả trong tranh ảnh, tranh sơn dầu và thơ ca.

Đây là điểm dừng chân cuối cùng trong chuyến đi một tuần tẻ nhạt của Pug qua Zurich, Madrid, Lisbon và Dublin. Chuyến đi này bắt nguồn từ một lá thư dán kín bằng sáp trong túi thư gửi từ Washington đến Berlin. Trên phong bì viết tay bằng mực đỏ: "Tuyệt mật – Gửi riêng cho Đại tá Victor "Pug" Henry". Ông mở ra và thấy một bức thư đóng dấu từ Nhà Trắng.

Pug thân mến:

Thứ trưởng Bộ Hải quân nói cậu là người ủng hộ lâu năm của "Radar". Người Anh bí mật báo cáo với chúng ta rằng họ đã mua một thứ gọi là "Máy định vị vô tuyến" trong các trận không chiến và đạt được thành công to lớn. Kết quả thảo luận của chúng tôi là muốn cậu đến xem thử. Cậu thấy thế nào? Cậu sẽ nhận được lệnh khẩn cấp, bạn bè của chúng ta sẽ đợi cậu. London lúc này chắc hẳn rất thú vị, mặc dù hơi nóng một chút. Chúng tôi muốn tặng họ năm mươi chiếc tàu khu trục, nếu cậu cho rằng làm vậy là quá "nóng" về mặt tình cảm, hãy viết thư cho tôi biết.

F. D. Roosevelt

Đối với tờ mệnh lệnh có cách diễn đạt rất tùy tiện này, Pug mang trong lòng tâm trạng phức tạp. Bất cứ cái cớ nào để rời khỏi Berlin đều khiến ông vui mừng. Báo chí thì khô khan nhạt nhẽo, những dòng chữ khoe khoang in bằng phông chữ đỏ thật khó mà chịu nổi; trong các cơ quan chính phủ, người Đức ai nấy đều hân hoan đắc thắng, quên hết cả mình, bàn tán rôm rả rằng một tháng nữa sẽ bắt đầu cuộc sống hậu chiến hạnh phúc; phụ nữ mặc lụa Pháp, dùng mỹ phẩm Pháp, với vẻ mặt ranh mãnh, đắc ý dạo bước trên đại lộ. Tất cả những điều này khiến người ta không thể chịu đựng nổi. Pug ăn những món thịt heo Ba Lan, bơ Đan Mạch, thịt bê Pháp và rượu vang bị cướp bóc trong các nhà hàng cao cấp, thậm chí cảm thấy tội lỗi. Buổi tối, ông ngồi một mình trong căn nhà lớn ở khu rừng xanh bị cướp từ tay người Do Thái, nghe phát thanh viên truyền tin với giọng điệu vui vẻ rằng máy bay Anh tổn thất nặng nề còn không quân Đức không hề hấn gì, lòng ông cảm thấy vô cùng bực bội. Mệnh lệnh rời khỏi tất cả những thứ này quả là một ân huệ. Nhưng bức thư này cũng khiến ông phiền lòng. Đã hơn bốn năm ông không sống cuộc đời hải quân trên boong tàu, mà cuộc sống trên đất liền lại ngày càng cố định.

Chiều hôm đó ông đi bộ về nhà, đi ngang qua bệ pháo cao xạ màu ô liu đã hoen gỉ, cảm thấy nó khiến ông muốn rời khỏi Berlin hơn bất cứ thứ gì khác. Người ta không còn nhìn chằm chằm vào tòa tháp đầy súng ống đó như khi khung giàn và thép tấm dày mới được dựng lên nữa. Nhiều tuần nay, những lời đồn đoán về tòa tháp này râm ran không ngớt. Giờ thì sự thật đã sáng tỏ. Hóa ra đó là một bệ pháo cao xạ dùng để bắn máy bay ném bom tầm thấp. Trong phạm vi bắn không được có công trình kiến trúc cao tầng. Nó cao hơn hẳn những mái nhà cao nhất ở Berlin, quả thực gây chướng mắt. Cho đến nay, số lượng ít ỏi máy bay ném bom của Anh vẫn luôn bay ở tầm cao, nhưng người Đức lại chu đáo quá mức. Tòa tháp sắt màu nâu nhạt khổng lồ này sừng sững cao vút trong vườn thú xinh đẹp nơi trẻ em nô đùa, người già tản bộ, Victor Henry cảm thấy đây chính là hình ảnh thu nhỏ của sự cai trị của Đức Quốc xã.

Tối hôm đó, khi người hầu làm cảnh sát mật của ông rón rén bưng món thịt heo chiên Đan Mạch đến đầu bàn ăn dài không trải khăn cho ông, ngôi nhà cô quạnh này khiến ông chán ghét. Ông bồn chồn không yên. Pug quyết định nếu ông bắt buộc phải quay lại, ông sẽ thuê một phòng ở khách sạn Adlon. Ông thu dọn quần áo: áo choàng, quân phục xanh, quân phục tự chế, lễ phục buổi tối, quân phục kaki, thường phục, lễ phục thường, đây là gánh nặng lớn của một tùy viên quân sự. Ông viết thư cho Rhoda, Warren và Byron, khi đi ngủ lại nhớ đến vợ, rồi nghĩ đến việc ở London rất có thể ông sẽ gặp Pamela Tudsbury.

Ngày hôm sau, tùy viên quân sự trợ lý của Pug, một trung tá hải quân đẹp trai nói tiếng Đức lưu loát, nói rằng anh ta rất sẵn lòng thay thế vị trí của ông. Tình cờ anh ta là họ hàng của Wendell Willkie. Kể từ sau đại hội toàn quốc của đảng Cộng hòa, anh ta rất có danh tiếng trong giới người Đức. "Tôi nghĩ cuối tuần này tôi không thể dứt ra được rồi," anh ta nói. "Thật không may, tôi đã hẹn với gia đình Wolf Stobbe đi Abendruh. Dạo này họ rất tốt với tôi. Họ nói Goering có thể sẽ ở đó."

"Cậu cứ đi đi," Pug nói. "Cậu có thể lấy được vài tin tức nội bộ của không quân Đức. Bảo vợ cậu mang theo một chiếc quần lửng dày." Tùy viên trợ lý nhìn ông đầy khó hiểu và hơi tức giận, điều đó làm ông thấy rất vui. Ông cứ thế rời khỏi Berlin.

"Sao anh bảo dưỡng tốt thế?" Ông nói với tùy viên hải quân Brink Vance, người đến đón ông tại sân bay London. Hai mươi lăm năm đã trôi qua, Vance nói chuyện vẫn chớp chớp mắt như khi còn ở Annapolis, lúc Victor Henry là sinh viên năm nhất trường hải quân và Vance tố cáo ông đi một chiếc giày trắng bẩn. Vance mặc chiếc áo thể thao kiểu London màu nâu và quần xám. Gương mặt anh ta gầy gò nhăn nheo, nhưng vẫn giữ được vóc dáng thon gọn của một sinh viên năm hai.

"Pug, quả là thời tiết tuyệt vời để chơi quần vợt. Ngày nào tôi cũng chơi một hai tiếng."

"Thật sao? Chẳng phải các anh đang có chiến tranh sao?"

"Chiến tranh. Có vài nơi đang đánh nhau, phần lớn là ở phía Nam." Vance mơ hồ vung một tay lên bầu trời quang đãng. "Chúng ta có báo động không kích; cho đến bây giờ, người Đức vẫn chưa ném thứ gì xuống London. Thỉnh thoảng có thể thấy những làn khói, anh sẽ biết đó là máy bay chiến đấu làm ô nhiễm những đám mây gần đó. Nếu không, anh cứ nghe đài BBC báo cáo con số máy bay địch bị bắn rơi. Cuộc chiến tranh kỳ lạ này, chẳng qua chỉ là trò chơi đếm số máy bay."

Henry vừa đi qua các khu vực bị ném bom ở Pháp và các nước vùng thấp, giao thông ô tô ở London lại vô cùng tấp nập, người đi đường ăn mặc chỉnh tề, thần thái vui vẻ, cảnh tượng yên bình, tiện nghi và nguyên vẹn này khiến ông ngạc nhiên. Những cửa sổ trưng bày cửa hàng dài vô tận với đủ loại hàng hóa tinh xảo cũng khiến ông bất ngờ. Berlin mặc dù tràn ngập hàng hóa cướp bóc, nhưng so sánh lại chỉ là một khu quân sự ảm đạm tiêu điều.

Vance lái xe đưa Victor Henry đến một căn hộ ở London không xa quảng trường Grosvenor. Đây là nhà khách dành cho sĩ quan hải quân cấp cao, là một căn phòng tối nằm cạnh cửa bên ở tầng hầm. Bao gồm một nhà bếp đầy những vỏ chai bia và rượu whisky, một phòng ăn, một phòng khách nhỏ và ba phòng ngủ dọc theo hành lang. "Anh sẽ thấy chật chội lắm đấy," Vance nhìn hành lý và quần áo vứt bừa bãi của hai vị khách khác trong căn hộ này rồi nói.

"Tôi thích có người bầu bạn."

Brink cau mày, chớp mắt, thăm dò nói: "Pug, tôi vẫn không biết anh đã trở thành chuyên gia rồi đấy."

"Chuyên gia?"

"Chuyên gia khoa học. Họ gọi anh như vậy ở đây. Nghe nói anh đến để tham quan phát minh mới nhất của họ, đèn xanh đã được bật từ cấp cao nhất cho anh." Victor Henry vừa mở túi xách vừa nói: "Thật sao?"

Tùy viên hải quân nhếch mép cười trước sự thận trọng im lặng của ông. "Sau này anh sẽ nghe thông tin từ bọn Anh thôi. Nhiệm vụ của tôi đã xong. Trừ khi anh có việc cần tìm tôi." Tiếng chuông điện thoại to, thô kệch của London đánh thức Pug khỏi giấc ngủ trưa. Nhịp điệu và âm thanh của tiếng chuông này rất khác với tiếng kêu o o của điện thoại ở Berlin. Một tia nắng chiếu qua rèm cửa màu nâu đang buông xuống.

"Đại tá Henry phải không? Tôi là Thiếu tướng Tillet, Văn phòng Lịch sử Chiến tranh." Giọng nói cao, mạnh mẽ, hoàn toàn là giọng Anh. "Ngày mai tôi sẽ lái xe đến Portsmouth, có thể sẽ ghé trạm radar. Anh có muốn đi cùng không?" Pug chưa bao giờ nghe thấy cụm từ trạm radar. "Thật tốt quá, thưa Tướng quân. Cảm ơn ông."

"Thật sao, tốt quá." Giọng Tillet có vẻ rất vui, như thể ông ấy đề nghị một việc khô khan nhạt nhẽo, nhưng Pug lại tỏ ra thân thiện ngoài mong đợi. "Tôi đến đón anh lúc năm giờ, chúng ta tránh giao thông đông đúc buổi sáng, được không? Anh mang theo đồ vệ sinh cá nhân và một chiếc áo sơ mi nhé."

Pug nghe thấy tiếng cười say sưa ở phòng bên cạnh, đó là giọng nam trầm và giọng nói trong trẻo như chuông bạc của một cô gái trẻ. Vừa mới sáu giờ. Ông mở đài trong khi mặc quần áo. Bản tam tấu Schubert mà ông thường nghe trên đài Berlin đã phát xong, tiếp theo là bản tin thời sự. Phát thanh viên báo cáo với giọng bình tĩnh, gần như không ngắt quãng về một trận không chiến quy mô lớn kéo dài suốt buổi chiều. Không quân Hoàng gia đã bắn rơi hơn một trăm máy bay Đức, bản thân mất hai mươi lăm chiếc. Một nửa số phi công Anh đã nhảy dù an toàn. Phát thanh viên nói, không chiến vẫn đang tiếp tục. Pug thầm nghĩ, nếu bản tin chiến sự quá thận trọng này còn chút chân thực nào, thì ngay lúc người dân London đang làm việc của họ, trên bầu trời cao không nhìn thấy được kia, một thắng lợi kinh ngạc đã ở trong tầm tay.

Ông tra số điện thoại của Pamela Tudsbury trong danh bạ và gọi cho cô. Người nghe máy là một cô gái khác. Sau khi Victor Henry nói tên mình, giọng nói vốn đã rất quyến rũ của cô gái kia lại càng quyến rũ hơn. Cô bảo ông rằng Pamela hiện là thành viên đội hỗ trợ phụ nữ không quân, làm việc tại trụ sở bên ngoài thành phố London. Cô bảo ông gọi một số điện thoại khác. Ông thử gọi, quả nhiên là Pamela nghe máy.

"Đại tá Henry! Anh đến rồi! A, tuyệt quá! Anh đến đúng lúc lắm. Phải không?"

"Đánh tốt lắm phải không, Pam?"

"Anh có nghe bản tin buổi chiều không?"

"Tôi thường không tin tưởng đài phát thanh lắm."

Cô cười sảng khoái. "Ồ, đó là đài Berlin. Chúa ơi, được nói chuyện với anh thật tốt. Tất cả đều là thật. Hôm nay chúng ta đã đánh bại họ. Nhưng họ vẫn sẽ đến nữa. Một tiếng nữa tôi phải đi trực, giờ tôi đang vội đi ăn chút gì đó. Tôi nghe một sĩ quan nói, đây là bước ngoặt của cuộc chiến. Nhân tiện, nếu anh có cơ hội tham quan, hãy nhớ tôi làm việc tại sở chỉ huy tác chiến đại đội, Đội máy bay chiến đấu số 11."

"Chắc chắn rồi, vị hôn phu của cháu khỏe không?"

"Ted ấy ạ? Rất khỏe. Hiện đang ở trên mặt đất. Hôm nay anh ấy rất bận. Tội nghiệp, mới vừa tròn hai mươi chín tuổi, đã là ông già trong phi đội rồi. Này, khi nào chúng cháu có cơ hội gặp anh? Phi đội của Ted tuần tới không phải trực. Chúng cháu nhất định sẽ cùng lên London. Anh ở đây bao lâu?"

"Tuần tới tôi vẫn ở đây."

"Vậy thì tuyệt quá. Cho cháu số điện thoại của anh, cháu sẽ gọi cho anh. Anh đến, cháu thực sự rất vui."

Ông ra ngoài đi dạo. Chiều tối hôm đó, London đắm mình trong ánh vàng, đó là ánh sáng tỏa ra từ mặt trời lặn qua bầu không khí trong lành. Ông tản bộ dọc theo những con phố quanh co, dọc theo những dãy nhà thanh lịch của thành phố, rồi đi qua một công viên xanh mướt, những chú thiên nga đang bơi lội chậm rãi trên mặt hồ tĩnh lặng của công viên. Ông đến quảng trường Trafalgar, đi qua nhiều tòa nhà chính phủ ở Whitehall. Sau đó đi dọc theo sông Thames lên cầu Westminster. Ông thong thả đi đến giữa cầu, dừng chân, ngắm nhìn thành phố cổ nổi tiếng vẫn an toàn vô sự trải dài hai bên bờ sông.

Xe buýt hai tầng màu đỏ và taxi đen lao vun vút của London hòa lẫn vào dòng xe ô tô cá nhân tấp nập, không ngừng chạy qua cầu. Ở Berlin rất ít xe cộ, phần lớn là xe chính phủ hoặc xe quân sự. Ông cảm thấy, mặc dù đâu đâu cũng là người mặc quân phục, London vẫn là một thành phố dân sự. Ở đây không có pháo cao xạ. Hải quân và không quân Hoàng gia Anh giống như phần thức ăn thừa còn sót lại từ một bữa tiệc thịnh soạn. Bây giờ lại phải dựa vào đội quân được trang bị bằng phần thức ăn thừa này để giữ vững phòng tuyến. Nhiệm vụ của ông là ước tính xem họ có thể giữ vững được không; hơn nữa, còn phải xem thiết bị điện tử mới của họ có thực sự tiên tiến hay không. Nhìn cảnh tượng hòa bình trù phú này, trong lòng ông cảm thấy nghi ngờ.

Ông ăn tối một mình trong một nhà hàng nhỏ, thưởng thức món thịt bò nướng đỏ ngon tuyệt mà ở Berlin chỉ có trong mơ mới thấy. Khi ông về nhà, căn hộ tối om và yên tĩnh. Ông nghe bản tin rồi mới đi ngủ. Con số máy bay bị bắn rơi được công bố trong ngày là: Đức 130 chiếc, Anh 49 chiếc. Chẳng lẽ đây là sự thật?

Một vị tướng người không cao, hói đầu, để ria mép, mặc bộ quân phục kaki cắt may rất vừa vặn, vừa lái xe vừa hút chiếc tẩu thuốc ngắn dày. Gương mặt nhăn nheo tinh thông thời cuộc của ông lộ vẻ nghiêm nghị. Sau khi trò chuyện qua điện thoại, Victor Henry cho rằng ông ấy rất có thể là nhà văn viết về quân sự Tillet, ông rất ngưỡng mộ tác phẩm của ông ấy. Quả nhiên là ông ấy; Tillet trông khá giống với ảnh bìa tác phẩm của mình, chỉ là ảnh trên bìa trông trẻ hơn hai mươi tuổi. Pug không muốn bắt chuyện với vị học giả khó gần này. Tillet lái chiếc xe Vauxhall nhỏ của mình chạy dọc theo đường cái, sau đó quay lại đường chính, suốt dọc đường hầu như không nói một lời nào. Dựa vào mặt trời, Pug biết họ đang đi về hướng chính Nam. Họ càng đi về phía Nam, nước Anh càng giống như đang trong thời chiến. Biển báo đường bộ đã không cánh mà bay, tên địa danh cũng bị bôi xóa, một số thị trấn hoang vắng không bóng người. Những vòng sắt lớn có thanh thép móc ngược treo cao trên con đường không có biển chỉ dẫn. Tillet chỉ tay nói: "Đây là để ngăn chặn tàu lượn hạ cánh." Nói xong lại im lặng. Cuối cùng, Victor Henry cảm thấy chán ngán sự im lặng này và cảnh vật xinh đẹp không ngừng thay đổi. Ông nói: "Tôi nghĩ, hôm qua người Đức đã bị một trận đòn đau nhỉ."

Tillet nhả khói, cho đến khi tẩu thuốc của ông đỏ rực, kêu lách tách. Victor Henry tưởng ông không định trả lời. Ông ấy đột nhiên nói: "Tôi từng nói với Hitler rằng tầm bay của Messerschmitt 109 quá ngắn. Ông ta đồng ý với ý kiến của tôi, nói sẽ nghiên cứu với Goering. Nhưng do tác phong quan liêu của không quân Đức, chuyện này chìm vào quên lãng. Quan điểm cho rằng nhà độc tài vạn năng là một sai lầm cực lớn! Họ cũng như mọi chính trị gia khác, bị những kẻ quan liêu trói buộc tay chân, thậm chí còn tệ hơn. Kẻ thì vì sợ hãi, kẻ thì muốn nịnh hót, tất cả đều nói dối với ông ta. Adolf Hitler bị bao vây bởi mạng lưới đan xen giữa sự nịnh hót và những con số giả tạo. Nói đi cũng phải nói lại, công việc của ông ta vẫn rất đáng kinh ngạc. Đối với sự thật, ông ta vẫn nhạy cảm. Đây là dấu hiệu thiên tài của ông ta. Chắc hẳn anh đã gặp ông ta rồi nhỉ?"

"Gặp một hai lần."

"Tôi đã họp với ông ta vài lần. Ông ta nói, ông ta rất ngưỡng mộ tác phẩm của tôi. Khả năng thấu hiểu của ông ta nhạy bén và sâu sắc. Người ngoại đạo có tài thường như vậy. Goering thiết kế máy bay chiến đấu như công cụ hỗ trợ mặt đất. Tôi từng nói ông ta phạm sai lầm trên máy bay chiến đấu giống như người Pháp phạm trên xe tăng. Máy móc hỗ trợ mặt đất không cần chạy đường dài, vì thùng nhiên liệu luôn ở gần tay, dễ dàng bổ sung. Những chiếc xe tăng Pháp đó là vũ khí chiến đấu tốt nhất, họ lại có hàng ngàn chiếc. Nhưng những thứ tội nghiệp này chỉ có thể chạy một mạch năm mươi, sáu mươi dặm. Xe tăng của Guderian một ngày chạy hai trăm dặm. Khoảng cách lớn biết bao! Người Pháp chưa bao giờ nghĩ rằng xe tăng nên tập trung lại, độc lập tác chiến. Trời biết Fuller, De Gaulle và tôi đã tốn bao nhiêu lời giải thích cho họ nghe." Xe chạy qua dấu hiệu răng rồng bằng bê tông và một bức tường đá, cọc cạch chạy dọc theo con đường bùn lầy quanh co khúc khuỷu, vòng qua hàng rào dây thép gai phong tỏa đường cái. Những công nhân đeo mặt nạ dùng búa hơi và máy khoan hơi thổi tung những làn bụi.

"Anh xem cách làm này ngu ngốc đến mức nào," Tillet dùng tẩu thuốc chỉ vào một cái bẫy xe tăng nói, "muốn dùng cái này để ngăn cản kẻ xâm lược. Những thứ bỏ đi này thực sự chỉ có thể giảm khả năng tác chiến của lực lượng dự bị chúng ta xuống bằng không. May là Brooke hiện đang nắm quyền. Ông ấy sẽ quét sạch tất cả những thứ này." Pug hỏi: "Là Tướng Alan Brooke sao?"

"Đúng vậy, người tuyệt vời nhất của chúng ta. Thiên tài trên chiến trường. Cuộc rút lui Dunkirk là do ông ấy phụ trách. Tôi từng ở trong sở chỉ huy của ông ấy. Tôi chỉ thấy ông ấy tâm trạng không tốt một lần. Đó là lúc sở chỉ huy rút lui từ Armentières về Lille." Tillet đổ tàn thuốc vào gạt tàn trên bảng điều khiển trong xe, chuyển đôi mắt xám lạnh lùng của mình sang Pug. "Lúc đó, trên đường chật kín người tị nạn. Xe chỉ huy của chúng ta đều không thể nhúc nhích. Viện tâm thần Armentières bị ném bom tan tành. Người điên đều chạy ra ngoài, trên đường chắc có hơn hai ngàn người, đều mặc bộ đồ ngủ bằng vải nhung kẻ màu nâu rộng thùng thình, cúi đầu đi, miệng lảm nhảm, đôi khi cười khúc khích. Họ vây quanh xe chúng ta, nhìn vào cửa sổ xe, chảy nước dãi, làm mặt quỷ, lắc đầu. Alan nói với tôi: 'Đây là sự sụp đổ, Ted,' ông ấy nói, 'Chúng ta xong đời rồi, Lực lượng Viễn chinh Anh xong đời rồi. Chúng ta thua cuộc chiến chết tiệt này rồi.' Tôi bèn nói: 'Alan, không sao đâu, bên Đức điên còn nhiều hơn, bao gồm cả kẻ cầm đầu chúng.' Câu nói này khiến ông ấy cười ha hả, đây là lần đầu tiên ông ấy cười sau bao nhiêu ngày. Sau đó, ông ấy lại khôi phục trạng thái bình thường. Đúng như Kinh Thánh nói: 'Lời nói hợp thời'."

"Ông cho rằng Hitler bị điên sao?" Henry nói. Tillet cắn tẩu thuốc, mắt nhìn đường. "Ông ta là người tâm thần phân liệt. Một nửa thời gian, ông ta là một chính trị gia lý trí, thông minh, nhưng sâu thẳm trong lòng lại bí ẩn, ngạo mạn và ngu ngốc. Ông ta từng nói với tôi, eo biển Anh chẳng qua chỉ là một chướng ngại vật sông ngòi, nếu ông ta muốn cưỡng chế vượt qua, không quân Đức chỉ cần đóng vai trò pháo binh, hải quân đóng vai trò công binh là được. Thật ngây thơ. Nói chung, tôi vẫn khá thích con người này. Trên người ông ta có một điểm đặc biệt cảm động. Ông ta trông chân thành và cô độc. Tất nhiên, bây giờ chỉ có thể tiêu diệt ông ta, không còn cách nào khác. À, chúng ta suýt quên rẽ rồi. Chúng ta đến xem sân bay này đi."

Đây là lần đầu tiên Pug nhìn thấy cảnh tượng tương tự như Ba Lan và Pháp bại trận ở Anh. Những chiếc máy bay bị ném bom trong nhà chứa máy bay treo lơ lửng những khung dầm cong vẹo, ám khói. Trên mặt đất đỗ những hàng xác máy bay đen kịt, bị thiêu rụi, xe lu gầm rú xung quanh đống phế liệu và đường băng bị ném bom tan nát. Tillet hào hứng nói: "Nhân lúc chúng ta không đề phòng, bọn Đức đã làm đủ trò xấu ở đây!" Sân bay đầy rẫy vết thương, nằm trên cánh đồng cỏ xanh mướt, hoa dại nở rộ, đàn bò đang gặm cỏ, kêu rống lên. Ngoài những ngôi nhà bị thiêu rụi, không khí lại trong lành như trong vườn hoa. Tillet lái xe rời đi nói: "Goering đến giờ mới hiểu ra, mục tiêu hướng vào sân bay và nhà máy máy bay. Ông ta lãng phí cả tháng trời ném bom đẫm máu vào các bến cảng, đuổi theo các hạm đội hộ tống. Tên ngốc này đến phân thu mới hiểu ra. Eo biển Anh qua ngày 15 tháng 9 là không qua được nữa rồi. Nhiệm vụ của ông ta là nắm quyền làm chủ bầu trời. Không phải đi phong tỏa. Hãy làm rõ nhiệm vụ của anh đi!" Ông ấy giận dữ quát Victor Henry như một giáo viên: "Hãy làm rõ nhiệm vụ của anh đi! Đừng lơ là!"

Tillet dẫn chứng trận Waterloo, nói rằng chiến dịch này thất bại là vì một sĩ quan quên mất nhiệm vụ của mình, không mang theo vài cái đinh sắt và một tá búa sắt. Ông nói, kỵ binh của Thống chế Ney không chuẩn bị kỹ lưỡng đã đột kích vào trung tâm của Wellington, các bệ pháo Anh trở tay không kịp, quả nhiên bị chiếm đóng. Thế là họ có cơ hội tuyệt vời để bịt lỗ pháo. Nhưng không ai nghĩ đến việc mang theo búa và đinh sắt. "Nếu họ bịt lỗ pháo lại," Tillet nghiến răng nghiến lợi nói, giận dữ rít hơi thuốc trong chiếc tẩu nắm chặt trong tay, một tay xoay vô lăng, tinh thần phấn chấn, gương mặt đỏ bừng. "Chỉ cần Thống chế Ney nhớ rõ nhiệm vụ của mình rốt cuộc là gì, trong năm ngàn binh lính Pháp chỉ cần một người nghĩ đến nhiệm vụ của mình, chúng ta sẽ sống trong một thế giới hoàn toàn khác. Nếu đại bác của chúng ta không nổ, một đội kỵ binh khác sẽ đột kích đánh tan trung tâm của Wellington. Khi đó nước Pháp có thể thống trị châu Âu thêm một trăm năm mươi năm nữa. Đức cũng sẽ không hoành hành ngang ngược trong trạng thái chân không này. Chúng ta đánh nhau với Hoàng đế Đức vào năm 1914, bây giờ lại đánh với Adolf, đều là vì tên ngốc Ney này ở Waterloo đã quên mất sứ mệnh của mình - nếu ông ta biết sứ mệnh của mình là gì."

"Vì thiếu đinh sắt, kết quả khiến quốc gia diệt vong," Pug nói.

"Không sai chút nào!"

"Tôi không biết nhiều về trận Waterloo, nhưng tôi chưa bao giờ nghe nói đến cách giải thích đó. Tôi chỉ nhớ rằng Blücher đã chỉ huy quân Phổ đến vào lúc hoàng hôn và xoay chuyển tình thế."

"Nếu Ney nhớ mang theo búa và đinh, thì bọn họ chẳng giành được gì cả. Đến lúc hoàng hôn, Wellington đã đại bại hoàn toàn rồi. Ba ngày trước đó, Napoleon đã đánh tan tác Blücher. Việc ông ta đánh bại Blücher thêm lần nữa là chuyện dễ như trở bàn tay."

Chiếc xe leo lên đỉnh một ngọn đồi nhỏ. Phía trước là một đồng cỏ xanh mướt, eo biển Manche xanh thẳm trải dài dưới ánh mặt trời, đường bờ biển nước Pháp mỏng tựa sợi tóc, kéo dài dọc theo đường chân trời. Họ xuống xe, đứng giữa đám cỏ dại cao vút và những bông hoa anh túc đỏ rực đang nở rộ trong làn gió biển mát lạnh. Chỉ có tiếng chim hót phá vỡ sự tĩnh lặng khó quên này. Một lát sau, Tillett nói: "Nhìn kìa! Giờ thì ông đang thấy nước Pháp của Hitler rồi đấy."

Họ thay phiên nhau dùng chiếc ống nhòm mà Tillett lấy ra từ trong xe để quan sát kỹ bờ biển đối diện. Ở phía xa, thấp thoáng có thể thấy những ngôi nhà và tàu thuyền nhỏ xíu.

"Quân Đức đã ở rất gần rồi," Tillett nói. "Gần đến mức không thể tin nổi."

"Cách đây không lâu, người Đức đã đưa tất cả tùy viên quân sự của các nước trung lập đến Pháp một chuyến tham quan," Pug nói. "Họ đưa chúng tôi đến tận bờ biển. Bên đó cũng có hoa anh túc. Chúng tôi đã thấy những vách đá dựng đứng của các anh và những khẩu pháo Maginot chĩa vào các anh. Giờ thì tôi lại thấy phía bên kia của những khẩu pháo đó."

Tillett nói: "Chúng chẳng có gì ghê gớm cả. Chúng chỉ bắn vài phát đạn để hù dọa người ta, nhưng đều rơi hết ra ngoài đồng ruộng. Chẳng ai bị dọa sợ cả."

Họ lái xe dọc theo bờ biển về phía tây, đi qua những ngôi làng tĩnh mịch bị bao vây bởi hàng rào thép gai dày đặc, nhà nào nhà nấy cửa nẻo đều bị đóng kín. Gần các ngọn đồi và thị trấn, những lô cốt ngụy trang mọc lên san sát. Pug nhìn thấy chiếc vòng quay ngựa gỗ dành cho trẻ em, bên dưới bệ đỡ của những con ngựa màu mè lộ ra họng pháo. Trên bãi đá bằng phẳng, những thanh sắt quấn dây thép gai được cắm chặt xuống. Những ống sắt hình thù kỳ quái nhấp nhô theo sóng biển, lộ ra khỏi mặt nước. Pug nói: "À, các anh không phải là không có sự chuẩn bị đâu nhỉ."

"Phải. Adolf cũng đủ lịch sự để cho chúng tôi chút thời gian thở dốc, và chúng tôi đã tận dụng triệt để điều đó. Những ống sắt nhô lên khỏi mặt nước kia chính là kế hỏa công thời Hy Lạp cổ đại. Chúng tôi dùng xăng để đốt cháy mặt biển, chiên chín những gã lính Đức mà chúng tôi không dìm chết." Nhiều quả khí cầu chặn đạn xuất hiện trong tầm mắt, trôi dạt qua những ngọn đồi về phía tây. "À, cuối cùng chúng ta cũng đến nơi rồi." Tillett phanh xe dưới một gốc cổ thụ tán lá sum suê.

"Portsmouth có hai nhà hàng tử tế. Nhưng thành phố này đã bị ném bom. Có lẽ họ chẳng còn lấy một cái chén cái đĩa nào nữa đâu. Tôi có mang theo vài chiếc bánh mì kẹp và cà phê trong xe."

"Tuyệt quá."

Pug đi dạo trên đường để tìm lại cảm giác cho đôi chân tê dại và nặng nề, sau đó ngồi xuống bên cạnh Tillett dưới gốc cây lớn. Họ lặng lẽ ăn trưa cùng nhau. Có vẻ như Tillett không muốn nói gì nhiều. Pug cũng chẳng bận tâm, thực ra bản thân anh cũng khá thích sự tĩnh lặng này. "Nhìn đằng kia kìa," Tillett cầm miếng bánh mì kẹp cuối cùng, ra hiệu nói. Trên bầu trời xanh thẳm của thành phố xuất hiện một đóa hoa màu vàng khô, một quả khí cầu chặn đạn đang bốc cháy. "Hôm nay bọn chúng cuối cùng cũng rút lui rồi. Ông dùng thêm cà phê không?"

"Không, cảm ơn ông."

"Tên ngốc đó lại đến ném bom cảng Portsmouth tội nghiệp này làm gì cơ chứ? Hắn ta đi vào nội địa hôm qua, đó mới là nơi hắn nên đến." Tillett nhanh nhẹn thu dọn bộ đồ ăn, cầm lấy ống nhòm. Tiếng pháo cao xạ đùng đoàng và tiếng máy bay o o vang vọng khắp bầu trời.

"Chúng ta đi xuống thôi chứ? Tôi đoán đây chỉ là phô trương thanh thế thôi. Không giống như sắp có một trận đánh lớn."

"Đúng vậy."

Pug vừa định lên xe thì dừng lại, chăm chú nhìn bầu trời phía đông. "Nhìn kìa, tướng quân."

Tillett nheo mắt nhìn bầu trời, không thấy gì cả, bèn dùng ống nhòm nhìn theo. Ông mở to mắt. "Phải, có vẻ đúng là như vậy." Ông đưa ống nhòm cho Victor Henry. Qua ống nhòm, họ nhìn thấy rõ ràng những chấm xám di động kia đúng là một đội hình máy bay đang bay về phía bắc. Máy bay xếp thành đội hình chữ V ngay ngắn bay qua bầu trời xanh trong vắt.

"Máy bay ném bom Heinkel, rất nhiều chiếc 109, và một số chiếc 110," Pug nói, "có hơn một trăm chiếc."

"Không có máy bay ném bom Stuka sao? Chúng chỉ là lũ chim non đang ấp trứng thôi. Phi công của chúng tôi nói rằng đuổi theo chúng chẳng có gì thú vị cả."

"Tôi không thấy chiếc nào có cánh cong cả. Nhưng chúng bay rất xa."

"Ông có muốn tham gia đội quan sát của chúng tôi không, Đại tá Henry?" Tillett nói với anh, giọng điệu thân thiện hơn lúc trước một chút.

Trên bầu trời Portsmouth, thêm nhiều quả khí cầu chặn đạn bốc cháy, cuộn mình rơi xuống trong làn khói đen kịt. Bến cảng bốc cháy, những dải khói trắng cuồn cuộn vắt ngang bầu trời xanh. Xe của họ đi ngang qua một chiếc máy bay đen sì, đầu chúc xuống đất, đang bốc cháy trên bãi cỏ, phù hiệu trên máy bay bị ngọn lửa dữ dội che khuất. Khi họ đến Portsmouth, những người lính cứu hỏa đang phun nước, rất nhiều người đứng trên đường phố với vẻ mặt ngẩn ngơ. Nhiều ngôi nhà đổ sập, đang bốc cháy, đống đổ nát phong tỏa nhiều con phố, nhưng thành phố này không hề giống Rotterdam, thậm chí cũng chẳng giống vài thị trấn bị ném bom ở Pháp.

"Ông có muốn đi thị sát tình hình bị ném bom không? Rất hoan nghênh ông, nhưng cảnh tượng rất thê thảm. Tôi nghĩ, chi bằng chúng ta cứ lái xe thẳng đến trạm radar. Bọn Đức hôm nay có thể sẽ đến đó, có lẽ ông sẽ thấy hứng thú đấy."

"Được thôi."

Trên phà chỉ có hai người họ. Con tàu gỗ cũ kỹ chòng chành đưa họ đến đảo Wight, khiến họ chóng mặt buồn nôn.

"Mọi người cứ quên mất eo biển Manche này sóng gió hiểm ác đến mức nào," Tillett ôm lấy một cột gỗ nói. Ông lớn tiếng, át cả tiếng gió rít và tiếng gầm rú của động cơ. "Nếu bọn Đức thực sự vượt biển, chúng sẽ say sóng đến mức không thể chiến đấu được. Đây cũng là một nhân tố đấy."

Một chiếc xe quân sự màu ô liu đang đợi họ trên bờ. Xe của họ chạy trên hòn đảo mang đậm vẻ thôn dã, đi qua những tòa nhà cao tầng vắng lặng, xung quanh cỏ dại mọc um tùm, hoa dại nở rộ. Xe của họ chạy thẳng đến chỗ những ngôi nhà sắt và nhà gỗ nhỏ tập trung quanh một tháp sắt, dọc đường không hề nhìn thấy chiếc xe nào khác. Tại đây, vài tòa tháp sắt đứng sừng sững giữa trời, trở thành vết nhơ xấu xí trên hòn đảo xanh tươi. Đại tá Không quân phụ trách trạm radar là một người vóc dáng thấp đậm, gương mặt đỏ gay. Ông mời họ vào văn phòng nhỏ của mình uống trà, vừa nói chuyện về đợt không kích Portsmouth lần này. Ông còn đắc ý nhắc đến con cá vược lớn mà ông kéo lên từ biển vào lúc bình minh. "Ừm, chúng ta đi xem tình hình thế nào nhé? Tôi biết đợt không kích hôm nay khá dữ dội."

Victor Henry lần đầu tiên nhìn thấy màn hình radar của Anh trong một căn phòng nhỏ chật chội, mù mịt khói thuốc và chỉ được chiếu sáng bởi một chiếc đèn đỏ ở Ventnor. Điều này khiến anh vô cùng kinh ngạc. Anh chăm chú lắng nghe vị khoa học gia tên là Tiến sĩ Cantwell, một người có gương mặt nhợt nhạt, vóc dáng nhỏ bé, mặc bộ đồ vải tweed xám, vừa quan sát những màn hình radar này cùng ông. Chỉ riêng những chấm xanh mạnh mẽ đó thôi đã đủ mới lạ rồi. Anh quốc vượt xa Mỹ. Theo các chuyên gia Mỹ nói với anh, công nghệ mà Anh nắm giữ, Mỹ phải mất hai mươi năm nữa mới đạt được.

Máy đo của Không quân Hoàng gia Anh xác định khoảng cách và phương hướng của tàu thuyền với sai số không quá một trăm thước, và có thể nhìn thấy kết quả đo bằng mắt thường trên màn hình. Họ cũng có thể đo tương tự đối với những chiếc máy bay đơn lẻ xâm nhập, đếm số lượng của một đội máy bay và đo độ cao của chúng. So với những thiết bị mà anh đã thấy thử nghiệm trên tàu USS New York năm ngoái và được hải quân đặt hàng số lượng lớn, những cỗ máy này thực sự là một kỳ tích. Trong đầu Pug Henry lập tức nảy ra hai ý nghĩ: Hải quân Mỹ nhất định phải có loại trang bị này; và sự chuẩn bị của Anh cho chiến tranh tốt hơn nhiều so với những gì thế giới biết. Sự im lặng đầy kịch tính của Thiếu tướng Tillett để lại ấn tượng sâu sắc, khiến anh vô cùng khâm phục. Màn trình diễn của ông rất thành công. Nhưng tất cả đều dựa vào việc họ sở hữu loại radar quý giá này. Trên hòn đảo vốn bị những kẻ giàu có bỏ hoang làm sân chơi, đối diện với những họng pháo của phòng tuyến Maginot đang quay ngược lại, hai nước Anh-Mỹ dưới cái cớ là chuyến thăm tình cờ, trong bầu không khí không chút gò bó, trong căn phòng tối tăm nồng nặc mùi thiết bị điện này, đã thực hiện một cuộc so tài trong chớp mắt.

"Chúng tôi vẫn chưa có loại thiết bị này," anh nói.

"Vậy sao?" Tiến sĩ Cantwell nói, châm một điếu thuốc. "Thật vậy sao? Theo những gì chúng tôi biết, Viện Công nghệ Massachusetts từ lâu đã nghiên cứu rất kỹ về lĩnh vực này rồi."

"Tôi biết chúng tôi có những gì," dưới ánh đèn đỏ, Pug nhìn thấy trên mặt Tướng Tillett lộ ra vẻ đắc ý như vừa nắm trong tay một bộ bài đẹp, những nếp nhăn trên mặt sâu thêm, đôi mắt sáng rực. "Làm sao các ông có thể tạo ra chùm tia tập trung như vậy? Tôi đã bảo những người trẻ tuổi của chúng tôi tìm cách. Họ trả lời rằng, mấu chốt nằm ở việc cố gắng rút ngắn bước sóng. Tuy nhiên, họ nói rằng, vượt quá một giới hạn nhất định thì không được, không thể phát xung đến khoảng cách cần thiết."

Nhà khoa học gật đầu, đôi mắt gần như nhắm nghiền, trên mặt cố gắng không lộ ra chút biểu cảm nào. Pug nghĩ, ông ta cũng là một người thú vị.

"Ừm, đó đúng là một vấn đề, phải không?" ông lẩm bẩm. "Nhưng họ nhất định sẽ tìm ra câu trả lời thôi. Điều này liên quan đến thiết kế ống chân không, mạch điện toàn máy, v.v. Magnetron hốc cộng hưởng của chúng tôi đã phát huy tác dụng rất tốt trong lĩnh vực này, chúng tôi khá hài lòng về nó."

"Magnetron hốc cộng hưởng?"

"Đúng vậy. Magnetron hốc cộng hưởng. Ông biết đấy, chúng tôi không cần lưới điều khiển trong ống chân không. Chúng tôi dùng từ trường ngoài để kiểm soát dòng điện. Như vậy có thể khiến sóng xung lớn hơn đi qua. Điều này cần chút tư duy thiết kế, những người của ông ở giai đoạn thích hợp sẽ giải quyết tốt thôi."

"Tất nhiên rồi. Các ông có bán magnetron hốc cộng hưởng không?"

Tillett và Tiến sĩ Cantwell cùng cười lớn, ngay cả những người lính bên cạnh màn hình cũng quay đầu lại cười theo.

Đại tá Không quân mặt đỏ gay đang chăm chú nhìn màn hình, bên cạnh có một nhân viên trực tổng đài giọng trẻ con đang nói vào ống nghe: "Alo, dường như lại có một đội máy bay bay về hướng chúng ta rồi. Lại xếp đội hình trên bầu trời Le Havre. Ý anh là có hơn hai mươi chiếc, Stebbins?"

"Ba mươi bảy chiếc, thưa ông."

Báo cáo từ vài màn hình khiến không khí trong căn phòng tối này lập tức trở nên căng thẳng. Một sĩ quan trực ban trẻ tuổi đeo tai nghe đi từ màn hình này sang màn hình khác, viết ghi chú vào một tấm bảng, vừa nói chuyện với các nhân viên tổng đài. Trong mắt Pug Henry, những gì đang diễn ra ở đây là một công việc thành thạo, chuyên nghiệp, giống như công việc căng thẳng, bận rộn trong tháp chỉ huy tàu ngầm trong một cuộc tấn công vậy.

Tướng Tillett nói: "Tôi nghĩ chắc hẳn ông cho rằng magnetron hốc cộng hưởng của chúng tôi rất tốt nhỉ?"

"Đây là một bước đột phá vô cùng quan trọng, thưa Tướng quân."

"Ừm, đúng vậy. Thật kỳ lạ phải không? Chiến tranh đã phát triển đến mức phải sử dụng những thứ phức tạp mà chỉ một số ít học giả nghèo mới có thể chế tạo, mới có thể hiểu được để phòng thủ."

"Thứ này có ích lắm," Pug nói, chăm chú nhìn vị sĩ quan trực ban ghi lại khoảng cách và phương hướng do nhân viên radar báo cáo. "Không cần lộ diện mà vẫn có được thông tin chính xác về vị trí và hoạt động của kẻ địch."

"Tất nhiên rồi. Chúng tôi rất biết ơn các nhà hàng không học của mình. Khi các chính trị gia của chúng tôi hoàn toàn gạt bỏ thế cân bằng trên không cũng như các tình hình quân sự khác sang một bên, thì có một vài người Anh thực sự có đầu óc tỉnh táo. Tốt, ông đã xem xong rồi, ông có muốn về London ngay không? Tôi từng nghĩ chúng ta có thể ở lại đây một hai ngày mới thấy được trận đánh, nhưng bọn Đức lại rất nhiệt tình giúp đỡ. Chúng ta có thể tìm một khách sạn tốt trên đường để nghỉ đêm, rồi đến London. Ở đó có vài người muốn nói chuyện với ông."

Bên ngoài số 10 phố Downing, chỉ có một cảnh sát đội mũ bảo hiểm đi đi lại lại dưới ánh nắng ban mai, vài du khách trên vỉa hè đối diện đang nhìn anh. Nhớ lại cảnh tượng cảnh sát mật canh phòng nghiêm ngặt trước Phủ Thủ tướng bằng đá cẩm thạch của Hitler, Victor Henry mỉm cười với người cảnh sát Anh không tấc sắt trong tay đang canh giữ dãy nhà cổ kính của Phủ Thủ tướng Anh này. Tillett đưa anh vào, giới thiệu anh với một thư ký nam mặc lễ phục, rồi rời đi. Người thư ký dẫn anh lên chiếc cầu thang rộng lớn treo đầy những bức chân dung – Pug nhận ra là Disraeli, Gladstone và MacDonald – mời anh chờ trong một căn phòng lớn bày biện đồ cổ tinh xảo và những bức tranh sơn dầu tuyệt đẹp, rồi tự mình rời đi. Pug ngồi một mình trên ghế sofa nghỉ ngơi, chờ thư ký quay lại dẫn anh đi gặp. Anh đợi rất lâu, tinh thần có vẻ hơi căng thẳng.

Trong một căn phòng nhỏ bừa bộn và ngột ngạt nồng nặc mùi sách cũ và tàn xì gà, vị Thủ tướng già vóc dáng đẫy đà đứng bên cửa sổ, một tay chống hông, cúi nhìn những bức ảnh trải trên bàn làm việc. Dáng người ông thấp đậm, lưng gù rõ rệt, nhưng tay chân lại rất nhỏ. Ông to ở giữa, nhỏ ở hai đầu, trông giống hệt một con quay. Khi ông quay người bước về phía Victor Henry, bước chân chậm chạp và nặng nề. Ông bắt tay, chào mừng Pug và mời anh ngồi xuống. Người thư ký rời đi. Churchill ngồi trên chiếc ghế bành, đặt một tay lên thành ghế, ngả người ra sau, dùng ánh mắt mờ mịt quan sát vị Đại tá Hải quân Mỹ này. Gương mặt đỏ gay của ông, vì tuổi tác mà đầy những tàn nhang và nốt ruồi đen, trông nghiêm nghị và đầy nghi hoặc. Ông rít một hơi xì gà, chậm rãi nói bằng giọng trầm thấp: "Chúng ta sẽ chiến thắng, ông biết đấy."

"Tôi bắt đầu tin chắc vào điều đó rồi, thưa Thủ tướng." Victor Henry nói, cố gắng kiểm soát cổ họng đang thắt chặt để giọng điệu được tự nhiên.

Churchill đeo cặp kính nửa vầng trăng, cầm một tờ giấy lên xem, rồi nhìn Henry qua vành kính. "Ông giữ chức vụ tùy viên hải quân tại Berlin. Tổng thống của ông cử ông đến đây để xem thiết bị dò tìm vô tuyến của chúng tôi. Ông có kiến thức chuyên môn về cái này. Ông ấy rất tin tưởng vào sự phán đoán của ông."

Khi Churchill nói, giọng điệu hơi mang chút châm biếm, ám chỉ ông hiểu Pug là một tai mắt khác do Roosevelt cử đến, đặc biệt đến để quan sát cách Anh đối phó với các cuộc không kích của Đức; đồng thời ông cũng tỏ ý không hề bận tâm đến việc quan sát này.

"Vâng, thưa ông, chúng tôi gọi nó là radar."

"Ông thấy thứ này thế nào, giờ ông đã xem xong rồi."

"Mỹ rất có thể tận dụng nó."

Churchill vui vẻ nói: "Thật sao? Mặc dù đã có không ít người Mỹ xuất chúng đến tham quan trạm radar của chúng tôi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nghe một người Mỹ nói những lời như vậy."

"Có lẽ họ không biết tình hình của chúng tôi, nhưng tôi thì biết."

"Ồ, vậy thì tôi đề nghị ông báo cáo với Tổng thống của ông rằng, những người Anh đơn giản như chúng tôi, cuối cùng cũng nắm giữ được vài thứ mà ông ấy có thể tận dụng."

"Tôi đã làm như vậy rồi."

"Tốt lắm, hãy xem những thứ này."

Thủ tướng rút vài biểu đồ từ dưới đống ảnh đang trải ra, đưa cho người Mỹ xem. Ông ném tàn thuốc vào một chiếc bình đồng sáng loáng đựng đầy cát, rồi châm một điếu xì gà khác. Điếu xì gà này rung rung trong miệng ông.

Biểu đồ này hiển thị con số tổn thất của tàu khu trục và tàu buôn bằng những đường cong và cột dọc màu sắc, tốc độ tăng trưởng của tàu mới đóng, sự mở rộng của đường bờ biển bị phát xít chiếm đóng ở châu Âu, cũng như sự gia tăng số lượng tàu ngầm bị đánh chìm, đây là một biểu đồ đáng kinh ngạc. Churchill vừa nhả làn khói xanh xám, vừa nói rằng ông chỉ yêu cầu Tổng thống cung cấp năm mươi chiếc tàu khu trục cũ. Tàu mới của Anh phải đến tháng Ba năm sau mới có thể sử dụng. Vấn đề then chốt trong tám tháng tới là đảm bảo thông suốt tuyến đường vận tải để đẩy lùi cuộc xâm lược.

Ông nói, nguy hiểm ngày càng tăng, nhưng đàm phán lại tiến triển chậm chạp. Roosevelt muốn thuê các căn cứ hải quân trên các hòn đảo của Anh ở vùng biển Caribbean để đổi lấy số tàu khu trục này. Nhưng việc dùng lãnh thổ Anh để đổi lấy tàu thuyền khiến Nghị viện cảm thấy khó xử. Hơn nữa, Tổng thống còn muốn một văn bản bảo đảm rằng, một khi phát xít xâm lược và giành chiến thắng, hạm đội Anh không được đầu hàng hoặc bỏ chạy sang Đức, mà phải chạy về các cảng của Mỹ. "Điểm này tôi hoàn toàn không thể cân nhắc, chưa nói đến việc viết thành công văn." Churchill giận dữ nói. "Tàu chiến Đức có kinh nghiệm thực tế rất phong phú trong việc bỏ chạy và đầu hàng. Chúng tôi thì không."

Churchill cười để lộ hàm răng một cách tinh quái, khiến Pug cảm thấy hơi giống Franklin Roosevelt. Ông tiếp tục nói, khi đang giao chiến mà cung cấp năm mươi chiến hạm cho một bên, chính là biểu hiện không mấy thân thiện với bên kia. Vài cố vấn của Tổng thống lo lắng Hitler sẽ tuyên chiến với Mỹ. Đây là một khó khăn khác.

"Nguy hiểm kiểu này không lớn lắm đâu," Victor Henry nói.

"Phải, khả năng này không lớn," Churchill nói. "Tôi cũng hoàn toàn đồng ý." Đôi mắt dưới hàng lông mày cau chặt của ông tinh quái như một diễn viên hài. Victor Henry cảm thấy rất vui, vì Thủ tướng thông qua một nụ cười thông minh đã tiết lộ toàn bộ kế hoạch tác chiến cho anh.

"Đây đều là hạm đội mà tên khốn đó dùng để xâm lược. Bộ phận tàu đổ bộ," Churchill tiếp tục, vừa tìm ra một xấp ảnh đưa cho anh. Trong ảnh là những con tàu có hình thù kỳ quái, có chiếc là hạm đội chụp từ trên không, có chiếc chụp ở cự ly gần. "Đó là đống sắt vụn mà hắn gom góp được. Phần lớn là những chiếc thuyền đáy bằng mà chúng dùng trên các tuyến đường thủy nội địa. Loại thuyền nhẹ này rất dễ khiến người Đức chết đuối, chúng tôi đang hy vọng dìm chết một số lượng lớn quân Đức đây. Tôi muốn nhờ ông nhắn với Tổng thống của ông rằng, bây giờ chính là thời điểm tốt để chế tạo tàu đổ bộ. Tương lai chúng tôi còn phải trở lại Pháp, sẽ cần số lượng lớn tàu đổ bộ. Dựa trên thiết kế của tôi vào năm 1917, chúng tôi đã chế tạo ra vài loại tàu rất tiên tiến. Trong lúc ông ở đây, ông có thể đi xem thử. Chúng tôi cần tinh thần của Henry Ford."

Victor Henry không khỏi kinh ngạc nhìn ông lão tinh thần suy sụp, bị bao vây bởi làn khói mù mịt, đang vuốt ve chiếc dây chuyền vàng nặng trĩu trên cái bụng bự mặc quần đen. Ông chỉ có ba, bốn sư đoàn chiến đấu, trong trận Dunkirk, lại mất gần hết pháo và xe tăng. Đối mặt với một trăm hai mươi sư đoàn hung hăng của Hitler, ông ấy lại dám bàn đến chuyện tấn công lục địa châu Âu.

Churchill bĩu đôi môi dưới dày, nhìn lại anh. "Ừm, tôi nói cho ông biết, chúng tôi sẽ làm như vậy. Bộ tư lệnh máy bay ném bom đang tăng cường rất nhanh. Có một ngày chúng tôi sẽ ném bom khiến chúng gà bay chó sủa, và một cuộc tấn công sẽ kết liễu hắn. Nhưng chúng tôi sẽ cần tàu đổ bộ." Ông dừng lại một chút, quay đầu nhìn Henry. "Thực ra, nếu hắn dám ném bom London, chúng tôi chuẩn bị ném bom Berlin ngay lập tức. Nếu lúc đó ông vẫn còn ở London, nếu ông không cho rằng đây là chuyện ngu xuẩn. Ông có thể cùng đi xem tình hình." Thần sắc hiếu chiến trên mặt ông biến mất, đôi mắt đầy nếp nhăn dưới cặp kính vui vẻ chớp động. Ông nói rất chậm, hơi ngọng, rất hài hước. "Nghe này, tôi không bảo ông nhảy dù về nơi làm việc của ông đâu. Làm vậy tất nhiên tiết kiệm thời gian, nhưng bọn Đức sẽ cho rằng rất không đẹp mắt, chúng là những kẻ chú trọng hình thức nhất." Pug tuy cho rằng đây toàn là chuyện vô căn cứ, nhưng anh vẫn lập tức trả lời: "Tôi sẽ cảm thấy vô cùng vinh dự."

"Ừm, ừm, có lẽ chỉ là nói suông thôi. Nhưng đi một chuyến như vậy cũng thú vị mà, đúng không?" Churchill khó nhọc đứng dậy khỏi ghế. Pug cũng vội vàng đứng lên. "Tôi nghĩ Tướng Tillett chăm sóc ông cũng khá chu đáo nhỉ? Dù tốt dù xấu, ông muốn xem gì thì cứ xem đi."

"Ông ấy chăm sóc tôi rất chu đáo, thưa ông."

"Tillett khá tốt. Quan điểm của ông ấy về Gallipoli không ổn lắm, ông ấy coi tôi như một Cyrano, một kẻ ngốc và hèn nhát." Ông đưa tay ra.

"Tôi nghĩ chắc ông đã gặp Hitler vài lần rồi. Ông thấy hắn ta thế nào?"

"Rất không may, hắn ta cực kỳ có năng lực."

"Hắn ta xấu xa tột cùng. Nước Đức rất thiếu truyền thống và uy quyền, nếu không thì gã tiểu nhân mặt mày ủ rũ này cũng không thể nổi lên được. Nếu năm 1919 chúng ta khôi phục vương triều Hohenzollern, thì Hitler vẫn sẽ là một kẻ du mục bần cùng, chỉ có thể tự nói chuyện một mình trong những quán trọ tồi tàn ở Vienna mà thôi. Nhưng bây giờ, muốn tiêu diệt hắn không dễ đâu. Chúng ta bắt buộc phải tiêu diệt hắn." Churchill bắt tay Pug bên cạnh bàn. "Ông từng ở bộ phận kế hoạch tác chiến, có lẽ ông sẽ quay lại đó. Tôi đề nghị ông mang theo toàn bộ tài liệu về tàu đổ bộ mới nhất của chúng tôi. Cứ đòi Tillett là được."

"Vâng, thưa ông."

"Chúng ta sẽ cần một lượng lớn tàu đổ bộ. Một lượng lớn..." Churchill dang rộng hai tay, Victor Henry dường như nhìn thấy hàng ngàn hàng vạn con tàu đổ bộ đang chậm rãi tiến về phía bãi biển trong một buổi bình minh xám xịt.

"Cảm ơn ông, thưa Thủ tướng."

Thiếu tướng Tillett đang đợi trong xe hơi của mình. Họ đi đến một căn phòng tại Bộ Hải quân, trên tường treo những bản đồ khổ lớn biểu thị vị trí của hạm đội. Trên mặt biển xanh thẳm của Địa Trung Hải, Vịnh Ba Tư và Ấn Độ Dương, những chiếc đinh ghim nhỏ nhiều màu sắc thưa thớt, nhưng xung quanh quần đảo Anh lại dày đặc. Những chiếc đinh ghim nối thành một đường mảnh vạch ra các tuyến đường vận tải vượt Đại Tây Dương. Tillett dùng tẩu thuốc chỉ vào đường mảnh này và nói: "Chìa khóa nằm ở đây. Chúng ta sống sót nhờ con đường này. Nếu chẳng may bị quân Đức cắt đứt, chúng ta coi như xong đời. Chúng ta rất có thể tận dụng những chiếc tàu khu trục mà các ông còn dư lại từ cuộc đại chiến lần trước."

"Phải, Thủ tướng cũng nói như vậy. Tuy nhiên, ở đây có một vấn đề chính sách, thưa Tướng quân. Nếu Hitler đe dọa nước Mỹ, thì chúng ta cần tất cả những gì mình có, thậm chí còn không đủ; nếu hắn không đe dọa chúng ta, thì chúng ta có lý do gì để để các ông sở hữu một phần hạm đội của chúng ta mà đi đánh chúng? Tôi đang đưa ra cho ông lập luận của phái biệt lập đấy."

"Ồ, không tệ. Tất nhiên chúng tôi hy vọng các ông sẽ cân nhắc truyền thống chung và những điều liên quan của chúng ta, cân nhắc đến lợi ích của việc để chúng tôi tiếp tục tồn tại, và nếu chẳng may Đức và Nhật chiếm đóng cả hai châu lục Âu - Á cùng vài đại dương lớn, thì tương lai chúng ta sẽ gặp phải những bất hạnh chưa từng có. Bây giờ tôi còn muốn cho ông xem tàu đổ bộ chúng tôi đóng ở Bristol và Bộ tư lệnh tác chiến ở Stanmore."

"Nếu được, tôi còn muốn xem Sở chỉ huy tác chiến của Không đoàn tiêm kích số 11."

Tillett nháy mắt với ông. "Không đoàn số 11? Tuyệt vời. Cần phải sắp xếp một chút, nhưng tôi nghĩ có thể sắp xếp được."

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »