Gió Bão Chiến Tranh (1939–1941)

Lượt đọc: 200 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 44

❊ ❊ ❊

Barbarossa (Trích từ "Đế quốc thế giới đã mất")

Lời người dịch tiếng Anh: Hai mươi lăm năm đã trôi qua, người dân khắp thế giới vẫn tự hỏi tại sao Adolf Hitler lại chuyển hướng sang phía Đông vào tháng 6 năm 1941. Vào thời điểm đó, nước Anh vì đại bại ở châu Phi và bán đảo Balkan, cộng thêm những tổn thất do tàu ngầm Đức gây ra, đã rơi vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Trong khi đó, nước Mỹ lại không đủ sức ngăn cản đòn giáng hủy diệt này. Lúc bấy giờ, dường như Hitler chắc chắn sẽ giành chiến thắng trong Thế chiến thứ hai. Chỉ cần đánh bại nước Anh, sau khi tiêu hóa xong những thành quả kinh ngạc, ông ta hoàn toàn có thể bắt tay vào đối đầu với Liên Xô trên một mặt trận duy nhất. Thế nhưng trái lại, ông ta lại gạt nước Anh sang một bên, chuyển hướng sang phía Đông, khơi mào một cuộc huyết chiến có quy mô lớn nhất và thời gian dài nhất trong lịch sử, để lại sơ hở ở phía sau lưng cho cuộc đổ bộ Normandy, tự hủy hoại bản thân và cũng hủy hoại nước Đức. Tại sao?

Về vấn đề này, tôi cho rằng Tướng von Roon đã đưa ra lời giải thích khá rõ ràng từ phía bên kia ngọn núi. Do độc giả Mỹ quan tâm nhiều hơn đến chiến sự ở mặt trận phía Tây, nên tôi đã lược bớt khá nhiều những tài liệu này. Tuy nhiên, tôi luôn cố gắng giữ lại mạch phân tích chính của von Roon.

Chuyển hướng sang phía Đông

Cuộc xâm lược Liên Xô của Hitler thường được coi là sai lầm lớn nhất của ông ta, có lẽ cũng là sai lầm lớn nhất trong lịch sử thế giới. Có hai lý do dẫn đến quan điểm này. Thứ nhất, mọi người vẫn chưa thể hiểu rõ tính cách đáng sợ đầy bí ẩn của Adolf Hitler. Thứ hai, cũng là lý do quan trọng nhất, những người ngoại đạo (và nhiều quân nhân cũng vậy) khi phán đoán một tình thế quân sự, rất ít người chịu bỏ công sức để nắm bắt sự thật. Những phán đoán như vậy thường bắt đầu bằng việc nhìn vào một tấm bản đồ. Người ta thường thấy đau đầu mỗi khi nhìn bản đồ. Tuy nhiên, mấu chốt khiến Hitler chuyển hướng sang phía Đông vào tháng 6 năm 1941 lại nằm ở phương pháp vẽ bản đồ.

Bạn cần phải xem một tấm bản đồ châu Âu, tốt nhất là một tấm bản đồ địa hình hiển thị rõ ràng các khu vực sông ngòi và núi non.

Bạn cũng cần ghi nhớ một số sự thật đơn giản bất biến về chiến tranh. Chiến tranh là sự xung đột dữ dội của các loại sức mạnh. Sức mạnh này có ba loại, đó là: sức mạnh động vật, sức mạnh cơ giới và sức mạnh hóa học. Cho đến thế kỷ 17, mặc dù các loại máy móc như máy bắn đá và nỏ đã được sử dụng, sức mạnh động vật của ngựa và con người vẫn đóng vai trò quyết định. Với sức mạnh hóa học từ thuốc súng, một yếu tố mới đã được bổ sung. Cuộc Nội chiến Mỹ là sự phản ánh đầu tiên của cuộc cách mạng công nghiệp, chủ yếu tận dụng sức mạnh hóa học của nhiên liệu khoáng (than đá), thông qua đường sắt làm tăng đáng kể tính cơ động của quân đội. Ngoài ra, nhờ sự tiến bộ trong luyện kim và thiết kế, súng pháo đã đạt được tầm bắn và độ chính xác mới.

Chiến tranh công nghiệp đã phát triển đầy đủ trong giai đoạn 1914 - 1918. Người Đức, với một hệ thống cơ sở vật chất công nghiệp được thiết kế và xây dựng để phục vụ chiến tranh, đã thực hiện các chiến dịch quân sự nội tuyến trên mạng lưới đường sắt được Tướng Moltke lên kế hoạch tỉ mỉ nhằm điều động quân đội nhanh như con thoi, dễ dàng đánh bại các lực lượng liên minh bao gồm gần như toàn thế giới. Đến năm 1918, những chiếc xe tăng Anh tại Amiens, cùng với các cuộc không chiến giữa những chiếc máy bay trinh sát mong manh, đã hé lộ những khả năng cách mạng mới của sức mạnh nhiên liệu từ động cơ dầu mỏ. Một số ít quân nhân đã nắm bắt được khả năng này, nhưng chỉ có một chính trị gia thời hậu chiến thực sự hiểu được nó, đó chính là người lính bộ binh giải ngũ vô danh Adolf Hitler.

Hitler nhìn thấy những kẻ được gọi là người chiến thắng như Anh và Pháp đã kiệt quệ, đế quốc thế giới đã mở cửa chào đón những người kế thừa của họ. Ngay cả một quốc gia nhỏ, chỉ cần mạnh dạn sử dụng động cơ dầu mỏ trên quy mô lớn, đặc biệt là sự phối hợp tác chiến giữa mặt đất và trên không, cũng có thể xưng bá thế giới.

Tình thế trên bản đồ

Điểm yếu của ngựa trong chiến tranh là chúng cần phải ăn cỏ khô; Napoleon chần chừ ở Borodino ít nhiều cũng do thiếu thức ăn cho ngựa. Tương tự, một động cơ dầu mỏ cũng nhất thiết phải có dầu mỏ làm nhiên liệu. Adolf Hitler tuyệt đối không thể quên sự thật đơn giản này, mặc dù không ít những nhà chiến lược thích khoác lác và những nhà báo tự cho mình là thông minh đã sớm quên sạch nó.

Người Đức chiến đấu dũng mãnh trên lục địa châu Âu, nhưng thứ duy nhất có thể có trong tay chỉ là một trạm xăng, đó chính là dầu mỏ dưới lòng đất của Romania. Chúng ta không thể lấy dầu mỏ từ trên biển. Do đó, tất cả các hoạt động quân sự và chiến dịch của Hitler ở bán đảo Balkan từ năm 1940 đến 1941 đều xoay quanh các mỏ dầu tại Ploiești. Chiến tranh không thể thắng ở bán đảo Balkan, ngược lại, nước Đức hoàn toàn có thể thất bại tại đây.

Nhìn vào bản đồ là thấy rõ, Ploiești trên vùng bình nguyên lưu vực sông Danube nằm nguy hiểm gần biên giới Liên Xô. Từ sông Prut đến Ploiești là một vùng bình nguyên rộng lớn, chưa đầy một trăm dặm. Thế nhưng từ Đức đến đó lại cách tới sáu trăm dặm, ở giữa còn ngăn cách bởi dãy núi Carpathian.

Vì lý do này, vào tháng 7 năm 1940, khi giữa Hungary và Romania có nguy cơ bùng nổ chiến tranh, Hitler đã nhanh chóng cưỡng ép hòa giải. Liên Xô không thích điều này. Người Nga, dù là thời Sa hoàng hay thời Cộng sản, luôn vươn những chiếc vuốt gấu của họ về phía bán đảo Balkan; lúc đó, người Nga đang gửi tới Romania những bản ghi nhớ với nội dung mơ hồ và đầy đe dọa. Tuy nhiên, chừng nào còn liên quan đến nguồn cung cấp dầu mỏ, Hitler sẽ không bao giờ lo lắng về việc người Nga có nhạy cảm hay không. Không có dầu mỏ, toàn bộ cỗ máy chiến tranh của nước Đức chỉ là một đống sắt vụn.

Thế nhưng hành động của Nga đã khiến ông ta phải dừng lại suy nghĩ. Hiệp ước mà ông ta ký với Stalin chỉ là một loại đình chiến. Bản thân ông ta nghĩ như vậy, và ông ta cũng phải giả định rằng một tên đồ tể tàn bạo như Stalin cũng nghĩ như vậy. Vấn đề là, nước Nga sẽ hành động vào lúc nào? Điểm này, Hitler chỉ có thể đoán từ các hoạt động của Nga. Mùa hè năm 1940, khi chúng ta hoàn thành chiến dịch huy hoàng ở Pháp, Liên Xô đã tiến vào Bessarabia ở bán đảo Balkan, tiến quân trung bình một trăm dặm dọc theo một chiến tuyến rộng lớn đối diện trực tiếp với nguồn dầu mỏ của chúng ta, như vậy Hồng quân đã tới bờ sông Prut. Cùng lúc đó, Bulgaria – quốc gia có biên giới cách Ploiești chỉ năm mươi dặm – cũng bắt đầu đưa ra các yêu sách lãnh thổ và thực hiện đe dọa quân sự. Từ những động thái này của Bulgaria đối với Romania, chúng ta nắm được tin tức xác thực rằng đó là âm mưu của Nga đang tác động.

Những hành động mang tính điềm báo này xảy ra trong lúc đang tiến hành cái gọi là "Trận chiến nước Anh". Báo chí và đài phát thanh phương Tây thực tế không chú ý tới. Các nhà sử học phương Tây cũng không chú ý. Chính trị ở bán đảo Balkan thường khiến người phương Tây, đặc biệt là người Mỹ, cảm thấy bối rối và phiền phức. Tuy nhiên, hành động căng thẳng nhưng không nổi bật xoay quanh dầu mỏ Romania này lại nghiêm trọng hơn nhiều so với tất cả những cuộc hỗn chiến trên không ở Anh đầy lãng mạn và lên trang nhất báo chí. Những tác giả nghiên cứu kỹ lưỡng về Trận chiến nước Anh luôn tự hỏi tại sao Adolf Hitler lại không quan tâm đến trận chiến đó đến vậy. Xem ra, không một ai trong số họ có đủ hiểu biết về niên biểu quân sự và bản đồ địa hình, do đó không thể đánh giá cao việc Quốc trưởng trong thời gian diễn ra cuộc không chiến vô kết quả này đã dồn sự chú ý vào vùng đất thấp sông Danube vốn vô cùng quan trọng.

Cuối tháng 7, khi Trận chiến nước Anh vừa bắt đầu, Hitler đã ra lệnh cho Tướng Jodl bắt đầu triển khai kế hoạch xâm lược Liên Xô, thời gian dự kiến vào cuối năm 1940 hoặc mùa xuân năm 1941. Các tác giả phương Tây thường lấy hành động này làm ví dụ, coi đó là bằng chứng xác thực về sự "bội tín" của nhà lãnh đạo Đức. Đây là kết quả của việc không nhìn bản đồ hoặc không nghiên cứu niên biểu. Nếu sau khi Nga gia tăng sức ép lên Ploiești mà Hitler không thực hiện biện pháp phòng ngừa này, thì ông ta đã phạm vào tội lơ là lợi ích quốc gia một cách tội lỗi.

Toàn cảnh chiến lược vĩ đại

Thế giới quan của Hitler là thế giới quan của Hegel. Hegel vĩ đại dạy chúng ta rằng quốc gia, đế quốc, văn hóa trong lịch sử đều có thời kỳ hưng thịnh của chúng. Chúng trỗi dậy, chúng biến mất. Không có cái nào là vĩnh cửu, nhưng mỗi thời đại đều có một kẻ thống trị, ra lệnh cho thời đại đó. Trong sự kế thừa quyền chủ quyền thế giới này, chúng ta nhận ra ý chí tiến hóa của chủ thể lịch sử – Tinh thần thế giới. Thế là, chủ thể lịch sử được thể hiện trong ý chí của những nhân vật lịch sử thế giới như Caesar, Alexander và Napoleon, tất cả đều dẫn dắt quốc gia của họ hướng tới đế quốc thế giới. Đạo đức thông thường không thể áp dụng cho hành vi của những người này, bởi vì chính họ là người tạo ra những hình thức và chủ đề đạo đức mới cho mỗi thời đại.

Thế giới quan Hegel này, tất nhiên, trái ngược hoàn toàn với quan điểm đạo đức của giai cấp tiểu tư sản, những kẻ hy vọng hành vi của các quốc gia vĩ đại giống như những cô gái trẻ có giáo dục trong các trường bồi dưỡng, và cho rằng, theo tiêu chuẩn đạo đức của họ, một dân tộc hùng mạnh được vũ trang không khác gì mấy nhân viên mặt trắng ở các cửa hàng giày. Các cường quốc tư sản lớn như Pháp, Anh và Mỹ đã thiết lập sức mạnh, mở rộng lãnh thổ thông qua những hành động không khác gì cướp bóc quân sự. Sau khi hoàn thành "sứ mệnh lịch sử" của mình, tất nhiên họ rất dễ dàng quay lại lên án nước Đức trẻ tuổi đầy triển vọng muốn tiếp tục đóng vai trò thế giới này. Tuy nhiên, Adolf Hitler không phải là người dễ dàng chấp nhận kiểu giáo điều đó. Trong kế hoạch của ông ta, tấn công Nga chính là cánh cửa để nước Đức tiến tới thống trị thế giới. Nga là Ấn Độ của chúng ta, nên chinh phục nó, khai thác nó theo cách của người Anh. Nước Đức có ý chí như vậy, sức mạnh như vậy, sứ mệnh như vậy. Nó chỉ thiếu lương thực, thiếu không gian sinh tồn, thiếu dầu mỏ. Những thứ này, nó đều phải giành lấy. Quan điểm của Hitler là một khi quyền thống trị lục địa châu Âu nằm chắc trong tay nước Đức, thì những thế lực hải quân Anglo-Saxon đó sẽ buộc phải thay đổi chính phủ, lựa chọn những chính trị gia có thể hòa hợp với Đế quốc Đức mới để thành lập nội các.

Trọng tâm

Clausewitz nói: "Chúng ta có thể... coi đó là một nguyên tắc, rằng nếu chúng ta muốn đánh bại tất cả kẻ thù bằng cách đánh bại một trong số chúng, thì nhất thiết phải lấy việc đánh bại kẻ thù này làm mục tiêu của chiến tranh, bởi vì ở kẻ thù này, chúng ta đang đánh vào trọng tâm chung của toàn bộ cuộc chiến."

Tấn công Nga, mục đích là kiểm soát vùng trung tâm rộng lớn với nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên vô hạn trên trái đất, đây là đòn đánh thực sự vào trọng tâm.

Nhiều lập luận ngụy biện cho rằng nước Anh mới là trọng tâm "thực sự", bởi vì nó có thể tổ chức một liên minh khác để chống lại Đức. Đây là những thứ do những kẻ đầu óc không thoát khỏi phép loại suy kiểu Napoleon viết ra. Mùa xuân năm 1941, nước Anh đang ở trạng thái trung lập, trên thực tế là đã rời khỏi cuộc chiến, cùng lắm là thực hiện một vài cuộc không kích quấy rối nhỏ. Nó không còn thống trị đại dương nữa. Nhật Bản và Mỹ đều đã vượt qua nó. Chúng vẫn chưa trở thành vấn đề cấp bách của Đức, tất nhiên tương lai sẽ có ngày Đức phải tính sổ với Mỹ.

Vì nước Anh về quân sự đã không còn khả thi, tại sao nó vẫn không đầu hàng? Rõ ràng, vì nó hy vọng Liên Xô, hoặc Mỹ, hoặc cả hai cùng lúc viện trợ cho nó. Mỹ cách rất xa, và gần như vẫn chưa được vũ trang. Còn Nga thì sao, đang nhanh chóng tái vũ trang, và ngay tại biên giới của chúng ta, công khai đe dọa tuyến đường sống của Đức tại Ploiești. Quả thực, nó dùng cái cách thô lỗ quen thuộc trong ngoại giao của người Nga để đưa cho chúng ta lúa mì và dầu mỏ, hòng xoa dịu chúng ta; nhưng thứ nó lấy lại được lại là máy móc, dùng để vũ trang cho chính nó chống lại chúng ta. Dựa dẫm vào một Stalin theo cách này trong thời gian dài là điều không thể chịu đựng nổi.

Yêu cầu của chúng ta về đế quốc thế giới luôn là một cuộc đua với thời gian. Nước Đức nhỏ hơn nhiều so với hai đối thủ của nó: Liên Xô và Mỹ. Ưu điểm của nó chỉ nằm ở mục tiêu thống nhất, kỷ luật nghiêm minh và sự lãnh đạo mạnh mẽ của Hitler. Đến năm 1941, rõ ràng là Franklin Roosevelt dự định đợi công nghiệp của ông ta chuyển sang chế độ chiến tranh rồi mới khai chiến, lừa dối những người dân miễn cưỡng của mình đi theo ông ta; cũng rõ ràng không kém, Stalin chỉ tìm một cách an toàn hèn nhát để cắt đứt cổ họng nước Đức tại Ploiești. Đêm trước ngày 22 tháng 6, trong một bức thư thẳng thắn và hùng hồn gửi Mussolini, Hitler đã nói rất rõ tình hình này: "Liên Xô và Anh, đều quan tâm đến châu Âu... bị đè bẹp bởi cuộc chiến tranh kéo dài... Đứng sau hai nước này là Mỹ, xúi giục chúng tiến lên... Vì vậy, sau khi suy nghĩ khổ sở một thời gian dài, cuối cùng tôi quyết định, cắt đứt sợi dây trước khi nó bị kéo căng." Barbarossa có đúng không? "Hitler nên đánh bại nước Anh trước." Lập luận này không có cơ sở thực tế.

Hitler quyết tâm chiếm lấy đất đai và tài nguyên mà quốc gia của ông ta cần ở bất cứ nơi nào, phương diện này rất giống Caesar. Mà ông ta lại có trí tưởng tượng phong phú về một trật tự thế giới mới hòa bình, điểm này ông ta lại giống Alexander. Nhưng chiến lược của ông ta lại mang tính Napoleon, bởi vì giống như Napoleon, vấn đề trung tâm của ông ta cũng là bị kẻ thù bao vây. Giải pháp của Napoleon là sử dụng tốc độ, sức mạnh, đột kích, tập trung binh lực cao độ tại điểm tấn công để tiêu diệt kẻ thù từng tên một. Hitler đã làm đúng như vậy. Ông ta có cái nhìn nhạy bén về chiến lược vĩ đại, tuy nhiên có chút mạo hiểm; nhưng việc ông ta can thiệp hoàn toàn như một kẻ ngoại đạo vào các hành động chiến thuật, cũng như sự thiếu hụt tài năng quân sự vào thời điểm quyết định, lại là điều mang tính hủy diệt.

Tháng 5 năm 1940, sau khi đánh bại Pháp, đuổi tàn quân Anh đã giải giáp ra khỏi lục địa châu Âu, ông ta chỉ điều động hai mươi bốn sư đoàn đến mặt trận phía Đông để đối phó với hơn hai trăm sư đoàn Hồng quân. Đây là một canh bạc kỳ lạ, nhưng cũng là một canh bạc có tầm nhìn. Stalin – người có khả năng chiếm Berlin – lại tỏ ra đặc biệt vui vẻ để Đức tiêu diệt Pháp, trong khi bản thân mình thì cướp đoạt đất đai ở biển Baltic và bán đảo Balkan.

Đến năm 1941, Liên Xô trở nên mạnh hơn. Nó tiến đến vị trí cách Ploiești một trăm dặm, giành được quyền kiểm soát biển Baltic. Nó tập trung hơn ba triệu binh sĩ tại biên giới đối diện trực tiếp với nước Đức và lãnh thổ Ba Lan bị Đức chinh phục. Nó yêu cầu tự do hành động ở eo biển Dardanelles, ở Bulgaria, ở Phần Lan. Những yêu cầu này, do Molotov đưa ra vào tháng 11 năm 1940, cuối cùng đã khiến Hitler không thể nhẫn nhịn thêm được nữa.

Hitler cảm thấy ông ta thực sự chỉ có ba lựa chọn. Hoặc là tự sát, để nhân dân Đức tự đi đàm phán đầu hàng; hoặc là vượt eo biển sang tấn công, thực hiện một nỗ lực không có kết quả nhằm khuất phục nước Anh, đồng thời để phía sau lưng mình chịu sự tấn công bội tín từ phía Đông; hoặc là gạt nước Anh vô dụng đã bị đánh bại sang một bên, nhân lúc sức mạnh của mình mạnh nhất, thực hiện một đòn giáng hủy diệt để hiện thực hóa toàn bộ mục tiêu lịch sử của mình. Barbarossa chính là phương pháp giải quyết: tức là một cú sốc kiểu Napoleon trên một mặt trận, thay vì triển khai một cuộc chiến tranh hai mặt trận thực sự.

Những nhà sử học tương lai không có định kiến chắc chắn sẽ không bao giờ trách Hitler vì đã chuyển hướng sang phía Đông. Ngay từ đầu, ông ta đã chơi một canh bạc tất tay. Do một loạt hành động sai lầm và sự kiện xui xẻo, do ngẫu nhiên của lịch sử, đối thủ mà ông ta gặp lúc đó là một thiên tài lạnh lùng, được tạo thành từ cùng một chất liệu, xảo quyệt như nhện – Franklin Roosevelt, cho nên canh bạc được lên kế hoạch tỉ mỉ của ông ta đã thất bại.

Vai trò của Roosevelt

Vấn đề chính của Roosevelt vào năm 1941 là thời gian. Ông ta đang ở thế bất lợi tạm thời, trong khi đối thủ của ông ta đang ở thời điểm mạnh nhất. Điểm yếu của vị Tổng thống Mỹ này nằm ở cả hai mặt trong và ngoài. Người Đức đoàn kết thống nhất sau lưng nhà lãnh đạo của họ, trong khi người Mỹ lại là một đám cát rời, bị sự kiêu ngạo và không đáng tin cậy của Roosevelt làm cho bối rối, hoang mang. Hitler nắm giữ lực lượng vũ trang mạnh nhất thế giới, đang ở đỉnh cao của sức mạnh và trạng thái chiến đấu; còn Roosevelt không có lục quân, cũng không có không quân, chỉ có hải quân phân tán thiếu huấn luyện. Vậy, vị Tổng thống Mỹ này làm sao có thể gánh vác trọng trách lên vai?

Thế nhưng ông ta lại gánh vác được. Ông ta giỏi nhất là thi triển mưu kế trong thế bất lợi, chức vụ Tổng thống của ông ta chính là giành được trên chiếc xe lăn.

Việc đầu tiên ông ta phải làm là tăng cường sức mạnh cho Churchill. Chỉ có Churchill, nhà mạo hiểm quân sự nghiệp dư mang mối thù không đội trời chung với Hitler này, mới có thể khiến nước Anh tiếp tục chiến đấu. Churchill, như ông ta đã viết trong hồi ký, vừa làm tướng lục quân, vừa làm tướng hải quân, làm rất xuất sắc. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của ông ta, đế quốc này lại ngày càng tồi tệ hơn. Thoát khỏi vị Thủ tướng nói khoác này, bầu ra một chính trị gia có trách nhiệm, giảng hòa với Đức, là một cơ hội tự cứu mình của nước Anh. Nếu chuyện đó xảy ra, không thể tưởng tượng được bản đồ thế giới hiện nay sẽ trông như thế nào.

Nhưng khu vực màu hồng của Đế quốc Anh vẫn bao phủ khắp trái đất. Mưu kế "Đạo luật Cho thuê - Cho mượn" của Roosevelt đã giúp Churchill duy trì được sức mạnh. Năm 1941, người Mỹ cho người Anh rất ít thứ. Thế nhưng "Đạo luật Cho thuê - Cho mượn" đã mang lại hy vọng cho dân tộc dũng cảm đã thất bại này, mà chiến tranh chính là dựa vào hy vọng để tiến hành.

Hy vọng cũng là vật phẩm chính mà Franklin Roosevelt gửi tới Liên Xô vào năm 1941, tất nhiên đến tháng 11, tháng 12 thì nguồn cung vật tư mới bắt đầu được vận chuyển dần dần. Stalin hiểu tiềm năng công nghiệp to lớn của Mỹ. Sự hiểu biết này, cùng với lời hứa viện trợ của Roosevelt, đã hỗ trợ ông ta chiến đấu. Ông ta hiểu rằng, vì Roosevelt quyết không để nhiều người Mỹ phải đổ máu hy sinh để cứu giúp Liên Xô, ông ta có thể sẽ đưa tất cả các loại vũ khí cho người Nga, lợi dụng sự dũng cảm và tinh thần hy sinh của người Slav để chiến đấu giành bá quyền thế giới cho người Mỹ.

Quyết định hộ tống

Bản năng gian trá khéo léo và đáng sợ của Roosevelt đối với các vấn đề thế giới chưa bao giờ được thể hiện rõ nét như trong cách ông ta làm với vấn đề hộ tống trên Đại Tây Dương.

Hầu hết người Mỹ vào tháng 5 năm 1941 đều thờ ơ với cuộc chiến tranh châu Âu. Những người điềm tĩnh nhất phản đối việc can thiệp. Roosevelt đã tìm cho họ một cái tên rất khó nghe: "Chủ nghĩa biệt lập". Tuy nhiên, xung quanh ông ta, những kẻ nịnh hót liên tục thúc giục ông ta bắt đầu hộ tống các tàu buôn Mỹ đi Anh. Quả thực, việc chất lương thực và vũ khí của Mỹ lên tàu Anh, rồi để chúng chìm xuống đáy biển thì chẳng có ý nghĩa gì cả.

Roosevelt kiên quyết từ chối thực hiện hộ tống. Ông ta đã nhận được tin tình báo, biết rằng Nga sắp bị tấn công. Trên thực tế, dường như cả thế giới trừ Stalin đều biết việc này, Roosevelt tất nhiên không muốn nhúng tay vào. Ông ta biết một lượng lớn người Đức không thể tránh khỏi việc bị giết. Viễn cảnh này khiến lòng ông ta vô cùng phấn khích.

Nhưng một cuộc chiến tranh bùng nổ trên Đại Tây Dương có thể khiến Barbarossa ngừng tiến hành. Cho đến bình minh ngày 22 tháng 6, Hitler vẫn có thể hủy bỏ lệnh. Bộ Tổng tham mưu Đức sẽ trút được gánh nặng khi thực hiện mệnh lệnh rút khỏi Barbarossa này.

Franklin Roosevelt hiểu một đạo lý mà nhiều chính trị gia thời đó không hiểu – đó là Hitler cuối cùng cũng phải dựa vào ý kiến của công chúng. Người Đức đoàn kết sau lưng ông ta, sẵn sàng hy sinh tất cả, nhưng họ không có ý định đi tự sát một cách tùy tiện. Tin tức về việc khai chiến với Mỹ sẽ khiến quân đội Đức mất tinh thần, không thể tiến quân vào Nga. Công chúng Đức không hiểu rõ điểm yếu quân sự của Mỹ. Mặc dù có sự tuyên truyền của Goebbels, nhưng họ vẫn nhớ rằng cuộc chiến tranh trước đó chính là do Mỹ tham chiến mới bị đánh bại.

Roosevelt chuẩn bị chiến đấu với Đức, ông ta khao khát muốn đánh, nhưng phải đợi cho đến khi chúng ta và đám đồ tể của Stalin vướng vào nhau không thể dứt ra được. Vì vậy, ông ta quyết tâm không nghe lời các cố vấn, quanh co né tránh sự dò hỏi của các nhà báo về vấn đề hộ tống. Việc chậm trễ đưa ra quyết định hộ tống là một cách để ông ta đảm bảo chiến tranh giữa Đức và Nga sẽ bùng nổ. Ông ta chính là đã làm như vậy. Ông ta khiến mọi người xung quanh đều cảm thấy bối rối và thất vọng, ngay cả vợ ông ta cũng không ngoại lệ. Nhưng vào ngày 22 tháng 6, khi Hitler chuyển hướng sang phía Đông, ông ta đã đạt được mục đích đáng sợ của mình.

Lời người dịch tiếng Anh: Lời bào chữa của von Roon cho Barbarossa là điều không bình thường; hầu hết các nhà văn quân sự Đức khác đều lên án đó là khởi đầu chí mạng cho cuộc chiến tranh hai mặt trận. Xem ra von Roon dường như đã tham gia vào việc lập kế hoạch cho hành động này, hoặc là kế hoạch do Bộ Tổng tham mưu trình lên tình cờ trùng khớp với nghiên cứu của ông ta tại Bộ Tổng tư lệnh tối cao. Ai cũng trân trọng tư tưởng của riêng mình, quân nhân lại càng như vậy.

Về lập luận mỏ dầu Ploiești đóng vai trò mấu chốt, trong nhiều lịch sử quân sự khác không được nhấn mạnh. Ngay từ tháng 7 năm 1940, Hitler đã lên kế hoạch tấn công Nga. Lúc đó hiệp ước không xâm lược mới ký được một năm, Stalin còn nghiêm túc vận chuyển lượng lớn vật tư chiến tranh, bao gồm dầu mỏ, đến Đức. Hành động của Hitler trông có vẻ như hơi thất tín, nếu giữa hai tên đại hung thủ này còn có chữ tín để nói. Trong các tác phẩm của Đức, cách giải thích thường dùng để tự thanh minh là việc triển khai quân đội của Liên Xô cho thấy ý đồ tấn công của Stalin, còn Hitler chẳng qua là ra tay trước ông ta mà thôi. Nhưng hầu hết các nhà sử học Đức hiện nay đều thừa nhận, Nga...

Sự bố trí của người Đức mang tính chất phòng ngự. Hitler luôn coi việc tấn công Nga để giành lấy "Lebensraum" (không gian sinh tồn) là chính sách chủ đạo của mình. Vì vậy, thật tự nhiên khi ông ta bắt đầu lên kế hoạch từ tháng 7 năm 1940, thời điểm mà lực lượng lục quân hùng mạnh của ông ta đang ở đỉnh cao, lại không còn nơi nào khác để tiến đánh. Đây chính là bức tranh toàn cảnh, vấn đề cung ứng dầu mỏ có lẽ chỉ là một chi tiết nhỏ. Tuy nhiên, dù sao đi nữa, những luận bàn của Long cũng đã làm rõ vấn đề mà Hitler phải đối mặt.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:2
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »