Dựa Trên Một Câu Chuyện Có Thật

Lượt đọc: 1417 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 33

❊ ❊ ❊

Khi trở về nhà mình, ở Paris, sau ba ngày theo dõi tại bệnh viện, tôi bật máy tính. Trực giác của tôi đã đúng: L. đã xóa tất cả những tin nhắn chúng tôi từng trao đổi vào những tháng đầu khi chúng tôi mới quen biết. Tất cả. Không tin nào thoát khỏi tay cô.

Căn cứ vào khoảng thời gian cô dùng máy tính của tôi mỗi ngày, hồi còn sống ở nhà tôi, cô thừa thời gian để lựa chọn, xóa thùng rác, hòng không để lại dấu vết nào.

Tôi không còn gì nữa: không một dấu vết nào. Trái lại, cô để lại tất cả những thư điện tử mà cô viết thay tôi: chúng được ký tên tôi và không gì chứng minh (ngoài lời tôi nói) rằng tôi không phải là tác giả của chúng.

Nhờ vậy, tôi phát hiện ra nhiều tin nhắn động viên, ủng hộ, những câu châm ngôn ngọt ngào, mà bạn bè đã gửi cho tôi sau khi nhận được thư của L. trong đó tôi (cô) yêu cầu họ không liên lạc nữa. Rõ ràng, L. đã tránh không báo với tôi về chúng.

Tôi đã ở nhà nhiều ngày mà không ra ngoài. Tôi rất sợ ra ngoài. Và ở một mình trong căn hộ, tôi cũng sợ.

Bạn bè biết tôi bị bệnh và đến thăm tôi. Họ rất vui khi gặp lại tôi sau cả quãng thời gian như vậy. Và tôi cũng thế. Mọi người nói chuyện với tôi hết sức nhẹ nhàng.

Một đêm, tôi mơ thấy L. Cô lết trên sàn bếp ở Courseilles, nửa bên đầu hõm xuống, mắt nhòa máu. Cô cố tìm đến cửa ra vào và gọi Ziggy. Tôi nhìn cô, không thể đến giúp cô.

Tôi tỉnh dậy nhễ nhại mồ hôi, ngồi trên giường. Nỗi kinh hãi không rời tôi cho đến tận sáng.

Sau khoảng một đến hai tuần, dần dần, tôi bắt đầu ra ngoài.

Ngay khi có ai đó đi sau lưng tôi hoặc đi theo tôi hơi gần quá, tôi liền sang phía vỉa hè bên kia. Có nhiều khi tôi thoáng thấy một sự hiện diện phía sau mình (khăn quàng của tôi cọ vào lớp da áo khoác, tiếng lách cách của khóa thắt lưng) và tôi đột ngột quay lại mà chỉ thấy trống không. Tôi cảm thấy mình bị rình mò, theo dõi, vấy bẩn. Tôi giật bắn mình trước tiếng động nhỏ nhất, tôi cảm thấy từng cơ bắp của mình căng ra đến cực độ. Toàn thân tôi cảnh giác. Tôi chắc chắn một mối nguy hiểm sắp xảy đến, mà không biết nó sẽ đến dưới hình thức nào, không biết liệu mối nguy hiểm đó đang rình rập bên trong hay bên ngoài tôi.

Tôi luôn mở cửa căn hộ của mình với nỗi sợ hãi trong lòng, bất kể giờ giấc, chắc chắn rằng sẽ có ngày tôi thấy ai đó đang đợi mình, ngồi trên ghế bành hoặc nấp dưới giường, đến để thanh toán nợ nần với tôi.

Louise và Paul rất hay về nhà thăm tôi. François quyết định ở lại Paris, tôi hoãn mọi dự án viết lách lại.

Tôi quay trở lại bệnh viện Saint-Louis để chụp phim kiểm tra. Người ta đã gỡ cái ủng nhựa ra cho tôi. Lúc đầu, tôi không dám đặt chân xuống đất. Sau hai ba buổi luyện tập, tôi đã bắt đầu đi lại bình thường được.

Trong suốt vài tuần, tôi tiếp tục nghe thấy tiếng cót két hoặc tiếng động lạ ngoài hành lang. Tiếp tục kiểm tra lỗ cửa, nhiều lần mỗi ngày, xem có ai đang nghe trước cửa nhà mình không. Tôi tiếp tục kéo rèm cửa, ngày cũng như đêm, ngay khi trở về nhà. Tôi thậm chí còn cho rằng L. có thể đã giấu máy quay và máy ghi âm trong căn hộ nhà tôi. Tôi lùa tay vào khắp mọi nơi, dưới bàn, dưới gối dựa, bên trong đèn và khắp các ngóc ngách. Để kiểm tra.

Người ta có thể coi những biểu hiện khác nhau này như là hậu quả của một chấn thương tâm lý hoặc là giai đoạn trầm trọng thêm của một xu hướng hoang tưởng có sẵn. Tôi không có ý kiến gì về vấn đề này.

Tuy nhiên, dần dần, tôi lấy lại được cái mà người ta gọi là một cuộc sống bình thường.

Tôi vẫn nghĩ về L., tất nhiên. Tôi nghĩ về chuyện ấy như về một giấc mơ dữ hay một kỷ niệm khá xấu hổ, mà người ta không muốn nán lại. Giai đoạn này càng lùi xa, ký ức về L. càng như được bao phủ bởi một lớp màng mờ đục. Tôi tự hỏi liệu đó có phải là để giữ nó nguyên vẹn, tránh khỏi ánh sáng, để ngăn nó phai lạt, với ý tưởng, có lẽ, là một ngày nào đó sẽ viết, hoặc trái lại làm cho nó biến mất. Giờ đây tôi đã biết câu trả lời.

Tháng Tư, tôi nhận lời mời dự ngày hội văn học ở Chalon-sur-Saône. Dự kiến tôi sẽ gặp, trước một lượng khán giả lớn hơn, một nhóm độc giả đã đọc tất cả các tác phẩm của tôi trong suốt cả năm. Tôi nhận lời mời này bởi người lên chương trình lễ hội là chỗ quen biết với tôi từ lâu, anh ấy cũng là nhà văn.

Và rồi hẳn là tôi muốn thử thách bản thân, để chứng minh với bản thân rằng tôi có thể làm điều đó một mình.

Khi xuống tàu, tôi để đồ ở khách sạn. Tôi nằm dài trên giường nửa tiếng đồng hồ. Đó là khoảnh khắc mà tôi thích, thấy mình như bị dịch chuyển đến một căn phòng mà tôi không biết, trong một thành phố xa lạ, quãng thời gian “tranh thủ” được trước khi buổi nói chuyện diễn ra. Một lát sau, tôi đi bộ đến nhà hát. Tôi trao đổi vài lời với các thành viên của nhóm đọc sách, trong khi, dần dần, khán giả lục tục vào chỗ ngồi. Tôi đưa mắt nhìn khắp lượt cả căn phòng rộng, như một chiếc ra đa lặng lẽ quét qua đám đông mà không nán lại trên khuôn mặt nào. Khi ánh mắt trở về trung tâm, tôi hiểu mình đang làm gì. Tôi đang tìm L. Hay đúng hơn, tôi đang kiểm tra xem L. có trong khán phòng không. Khi đã yên tâm, tôi cảm thấy đầy hứng thú và cuộc trao đổi bắt đầu.

Các câu hỏi của nhóm tập trung vào tất cả các tác phẩm của tôi và vào mối liên kết giữa chúng. Bầu không khí thật ấm áp. Cởi mở. Tôi rất vui khi được ở đó. Tôi nhớ rằng mình rất thích gặp gỡ độc giả, học hỏi từ việc họ đọc, nói về công việc của mình. Rằng tôi thích tìm kiếm hình ảnh, cảm xúc, ý nghĩ lóe lên vốn là nguồn gốc những cuốn sách của tôi, tự vấn về việc viết lách, và cố gắng tìm ra những câu trả lời mà mình thấy có vẻ đúng nhất, bằng cách nói to lên thành lời.

Và sau đó đến các câu hỏi khác, do công chúng đặt ra. Chúng chủ yếu liên quan đến cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi. Không có câu hỏi nào trong số đó hoàn toàn mới lạ với tôi. Nhưng đã từ lâu tôi không trả lời những câu hỏi đó. Và khoảng thời gian ấy đã thay đổi mối quan hệ của tôi với tác phẩm. Những dòng chữ của tôi đã xê dịch, còn tôi đã lùi lại một bước. Đã xa rồi cái ngày mà, đối mặt với khoảng hai chục nhà sách, trong khi tôi đang giới thiệu cuốn tiểu thuyết của mình lần đầu tiên, tôi bắt đầu khóc. Sau đó thì tôi xấu hổ vì đã không thể kìm được nước mắt. Vì đã làm trò cười cho thiên hạ.

Nhưng tối hôm đó ở Chalon, cuối cùng, dường như tôi thấy mình đã giữ đúng khoảng cách.

Sau vài trao đổi, một phụ nữ ngồi ở hàng ghế đầu đã phát biểu thay cho một cô gái, Léa, không dám phát biểu nhưng có mặt trong phòng. Cầm micro trong tay, người phụ nữ đứng dậy. Giọng cô ta có gì đó thật nghiêm trọng.

– Thật ra Léa muốn biết chị có chân thành không. Đôi lúc, khi đọc sách của chị, con bé nghi ngờ, con bé tự hỏi liệu có gì được bịa ra không. Những gì chị kể có phải là sự thật không? Có phải mọi thứ đều là thật không?

Trong một khoảnh khắc, tôi muốn trả lời Léa là cô bé đã nhắm đúng chỗ. Bởi vì không, tất nhiên là không, tất cả chỉ là hư cấu, chẳng có gì trong những điều tôi kể đã xảy ra cả, không có gì cả, vả lại, Léa thân mến, vào thời điểm cô nói chuyện với cháu đây, mẹ cô đang lăn trên bãi cỏ ở một nơi nào đó tại Creuse, bà chưa chết, hoàn toàn chưa, bà đi ủng dài vào mùa hè cũng như mùa đông, mặc váy xa tanh vàng, sống với một tay cao bồi già trông giống Ronald Reagan yêu bà phát điên, bà luôn đẹp, kỳ cục và khó tính như vậy, bà chứa hàng chục người nhập cư bất hợp pháp từ khắp nơi trên thế giới trong ngôi nhà rộng đầy cây cối và lộn xộn của bà, bà đọc Baudelaire và xem The Voice trên ti vi.

Thay vào đó, tôi tìm cách giải thích rằng tôi đã cố gắng chân thành đến mức nào theo nghĩa đen của từ ấy, phải, càng nhiều càng tốt, và hẳn là điều đó đã gây hại cho cuốn sách, bởi giờ đây chợt đập vào mắt tôi những chi tiết vô dụng, những tình tiết phi lý, những cái tên mà lẽ ra tôi nên thay đổi, những sự trung thực ký sinh, đây chính là món nợ mà tôi nghĩ mình phải trả cho thực tế và lẽ ra tôi đã thoát khỏi. Và sau đó tôi định nói, như tôi đã làm nhiều lần trong những cuộc gặp gỡ kiểu này, rằng tôi thấy khó có thể tiếp cận thực tế đến mức nào. Tôi cố gắng giải thích ý tưởng mà tôi không ngừng trở đi trở lại này, theo đó, cho dù có viết gì đi chăng nữa thì ta vẫn cứ đang hư cấu:

– Ngay cả khi điều đó đã diễn ra, ngay cả khi điều gì đó đã xảy ra giống như vậy, ngay cả khi các sự việc được xác nhận, thì thứ mà chúng ta kể cho nhau nghe vẫn là một câu chuyện. Chúng ta làm ra vẻ quan trọng để đánh lừa người khác. Và suy cho cùng, điều quan trọng, có lẽ là thứ ấy. Tất cả những điều nhỏ bé vốn không gắn với thực tế ấy, chúng biến đổi thực tế. Những nơi mà tờ giấy than không tới được ấy, ở các rìa, các góc. Bởi vì người ta có làm gì cũng vô ích, nó cong lên, nó quăn lại, nó gian lận. Và có lẽ đó là lý do cuốn sách khiến bạn cảm động. Tất cả chúng ta đều là những kẻ ưa nhìn trộm, tôi thừa nhận với các bạn như vậy, nhưng suy cho cùng, điều khiến chúng ta quan tâm, mê hoặc chúng ta, có lẽ không phải là thực tế lẫn cách thức mà nó được biến đổi bởi những người cố gắng chỉ cho chúng ta hoặc kể cho chúng ta thực tế ấy. Thứ khiến chúng ta quan tâm, mê hoặc chúng ta chính là bộ lọc đặt trên ống kính. Dù sao đi chăng nữa, việc cuốn tiểu thuyết được bảo đảm bởi thực tế không làm cho nó hay hơn. Đó là điều tôi tin.

Một người đàn ông lên tiếng. Giọng anh ta sang sảng, anh ta không cần micro.

– Chị sai rồi. Không phải thế. Chúng tôi, những gì làm chúng tôi thích trong cuốn sách của chị, đó là dấu ấn của sự thật. Người ta cảm thấy nó, người ta nhận ra nó. Không thể lý giải được dấu ấn của sự thật. Chị có nói thế nào cũng vô ích, đó chính là thứ tạo nên sức mạnh của những gì chị đã viết.

Người đàn ông theo dõi thái độ của tôi. Tôi có thể trả lời gì đây? Tôi là người ở vị thế không phù hợp nhất để xác định điều gì khiến độc giả thích hay không thích trong cuốn sách của tôi. Nhưng tôi muốn chấm dứt với dấu ấn của sự thật.

– Tôi không tin vào dấu ấn của sự thật, thưa anh. Tôi không tin chút nào. Tôi gần như chắc chắn rằng anh, chúng tôi, các độc giả, tất cả chúng ta đều có thể bị lừa bởi một cuốn sách được cho là sự thật nhưng chỉ là sự bịa đặt, xuyên tạc, tưởng tượng. Tôi nghĩ rằng bất kỳ tác giả nào hơi khéo léo một chút đều có thể làm được điều đó. Nhân lên những hiệu ứng thực tế để khiến người ta tin rằng những gì anh ta kể đã xảy ra thật. Và tôi thách chúng ta – anh, tôi, hay bất cứ ai – phân biệt được đâu là thật đâu là giả. Vả lại, đây có thể là một dự án văn học, viết một cuốn sách hoàn chỉnh sẽ được coi như là một câu chuyện có thật , một cuốn sách được cho là lấy cảm hứng từ các sự việc có thật, nhưng tất cả mọi thứ, hoặc gần như tất cả mọi thứ, đều được bịa ra.

Tôi càng nói, giọng tôi càng không còn chắc chắn nữa, nó lại bắt đầu run lên. Trong một khoảnh khắc, tôi tin chắc rằng L. sắp hiện ra ở cuối khán phòng. Nhưng tôi vẫn tiếp tục.

– Cuốn sách ấy liệu có kém chân thành hơn cuốn sách khác không, tôi không chắc. Trái lại, có thể nó rất chân thành.

Một tiếng xì xào lan khắp khán phòng.

Người đàn ông lại lên tiếng.

– Chị đang nói với tôi về một trò lừa đảo. Nhưng độc giả không thích bị lừa. Những gì họ muốn, đó là quy tắc chơi phải rõ ràng. Chúng tôi muốn biết mình đang đọc cái gì. Thật hay không thật, chỉ vậy thôi. Đó là một cuốn tự truyện hay đó là hư cấu thuần túy. Đó là một hợp đồng giữa chị và chúng tôi. Nhưng nếu chị lừa độc giả, họ sẽ oán giận chị.

Hương nước hoa của L. phảng phất trong không khí, cách tôi không xa, mùi hương tiến lại gần, lỏng bảng quanh tôi. Tôi dò xét những khuôn mặt đang đối diện với mình, tôi không thể tập trung vào cuộc nói chuyện nữa.

Tôi không trả lời. Một tiếng xì xào thất vọng lan khắp phòng trong lúc tôi uống một hơi hết ly nước.

Buổi tối, khi đi ngủ, tôi lại nghĩ đến cụm từ hư cấu thuần túy mà người đàn ông đã sử dụng và tôi cũng từng sử dụng. Hư cấu thế nào là thuần túy? Nó được cho là miễn khỏi điều gì? Chẳng phải là, trong hư cấu, luôn có một phần của chính chúng ta, của ký ức chúng ta, của những gì sâu thẳm bên trong chúng ta? Người ta nói về hư cấu thuần túy , chứ không bao giờ mới về tự truyện thuần túy. Vì vậy, người ta không hoàn toàn bị lừa. Nhưng suy cho cùng, có lẽ là cả hai đều không tồn tại.

Khi ấy một hình ảnh quay trở lại với tôi: trong bếp tại căn nhà ở Pierremont, đôi bàn tay trẻ con của tôi, vụng về, đập trứng trên một cái bát, để tách lòng trắng khỏi lòng đỏ. Động tác tinh tế, chính xác ấy, mà bà Liane, bà của tôi, đã chỉ cho tôi nhiều lần, động tác chuyển lòng đỏ từ nửa vỏ trứng này sang nửa kia, để lòng trắng chảy xuống bát mà không bị lẫn màu. Vì cần phải có lòng trắng thuần để đánh bông lên. Nhưng thường thì một chút lòng đỏ, hay một mảnh vỏ nhỏ, vẫn rơi ra. Một khi đã rơi vào bát, lẫn trong lòng trắng mờ, cái mảnh nhỏ ấy lẩn dưới ngón tay, thoát khỏi cái muỗng, không thể tóm lại được.

Tôi nhắm mắt lại và nghe thấy giọng nói của bà mình, giọng nói như hát mà tôi vẫn kính cẩn lưu giữ trong ký ức, hỏi tôi:

– Nữ hoàng nhỏ bé của bà, điều nói dối này có thật không?

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 1 năm 2026