Một buổi sáng rất sớm, khi trở về nhà sau khi ngủ ở chỗ François, tôi gặp L. ở góc phố nhà mình. Không phải trước cửa nhà tôi, nhưng cách nhà vài trăm mét. Không có lý do gì để cô ở đó. Phố nhà tôi hẹp và không có bất kỳ cửa hàng nào, trời vừa rạng sáng còn các quán cà phê xung quanh vẫn đóng cửa. Đầu cúi xuống, tôi rảo bước vì trời lạnh. Tuy nhiên, ánh mắt tôi bị thu hút bởi một hình bóng cao lớn màu trắng, trên vỉa hè đối diện, hẳn là do sự bất động mà bóng hình ấy đóng băng trong đó. L. quấn mình trong chiếc áo choàng dài, cổ áo dựng lên. Cô không cử động, dường như cô không đến từ bất cứ đâu, thậm chí không chờ đợi ai. Sau vài giây, tôi thấy dường như thỉnh thoảng cô lại quan sát lối vào tòa nhà tôi ở. Khi cô thấy tôi, khuôn mặt cô sáng lên. Không có chút bối rối hay bất ngờ nào trong mắt cô, như thể việc cô ở đó, vào giữa mùa đông, lúc bảy giờ sáng, là hoàn toàn bình thường. Cô muốn gặp tôi và cô thấy cửa đóng. Đó là những gì cô nói với tôi. Cô đã không tìm cách bịa ra bất cứ điều gì, và sự mộc mạc ấy khiến tôi cảm động, bởi trong lời thú nhận này, L. đã sử dụng một lối diễn đạt trẻ con mà tôi chưa từng thấy ở cô.
Cô đi sau tôi, theo tôi vào căn hộ. Tôi đã hạ nhiệt lò sưởi trước khi rời đi, nhiệt độ phòng đã giảm trong đêm. Tôi đưa cho cô một chiếc khăn choàng nhưng cô từ chối. Cô cởi áo khoác, cô không mặc áo len mà là một loại áo cánh bằng xa tanh, chất vải trơn tuột làm hiện rõ đường nét bụng cô, hai vai cô, cánh tay cô. Đó là kiểu quần áo dành để dự dạ tiệc hoặc một bữa tối cần ăn mặc cầu kỳ một chút. Tôi tự hỏi không biết cô từ đâu về và cô đã ngủ chưa. Tôi đặt ấm đun cà phê lên bếp, chúng tôi ngồi trên đi văng. Tôi rét cóng. L. ở cạnh tôi, như có gì đó cháy bên trong cô, sưởi ấm cho cô, bảo vệ cô khỏi cái lạnh. Cơ thể cô có gì đó lả lơi một cách lạ thường. Thư giãn.
Chúng tôi im lặng vài phút và rồi cô tiến đến gần tôi. Tôi thấy giọng cô hơi run run, như sau một đêm hát hò hay hút thuốc.
– Cậu đã bao giờ không thể về nhà mình chưa?
– Có chứ, tất nhiên. Nhưng lâu nay thì không.
– Đêm qua, tớ đã làm tình với một người đàn ông trong phòng khách sạn. Khoảng 5 hoặc 6 giờ sáng, tớ mặc quần áo, tớ bắt một chiếc taxi thả tớ dưới chân tòa nhà tớ ở. Khi xuống đó, tớ không thể lên nhà được, tớ không muốn ngủ hay thậm chí là nằm dài ra. Như thể có gì đó trong tớ không chịu đầu hàng. Cậu có biết cảm giác đó không? Vì vậy, tớ đi lang thang. Đến tận đây.
Ấm đun cà phê bắt đầu rít lên, tôi đứng dậy tắt bếp. Với bất kỳ cô bạn nào, hẳn tôi cũng sẽ phục vụ cà phê rồi ngay lập tức trở lại đi văng, tôi sẽ không đợi thêm một giây nào nữa mà vừa cười vừa bắt đầu một cuộc thẩm vấn riết ráo: người đàn ông đó là ai, cô gặp anh ta từ khi nào, ở đâu, liệu cô có gặp lại anh ta nữa không?
Nhưng tôi đặt tách cà phê cùng với đường trước mặt cô rồi vẫn đứng.
Tôi không thể hỏi cô bất kỳ câu nào.
Tôi nhìn L., tôi nhận thấy cơn sốt ấy phập phồng dưới da cô, phải, từ nơi mình đứng, tôi nhận thấy điều đó rất rõ, máu trong huyết quản cô như chảy nhanh hơn.
Tôi đứng nguyên như vậy, xa cô, lưng tựa vào máy rửa chén. Lần đầu tiên tôi nghĩ rằng trong L. ẩn chứa một thứ gì đó mà tôi không nhận thấy, không hiểu được. Lần đầu tiên, tôi nghĩ rằng mình sợ mà không biết tại sao, lần đầu tiên tôi sợ mà nỗi sợ không hiện hữu trong một hình dạng hay một hình ảnh.
L. uống tách cà phê của mình rồi đứng dậy. Cô cảm ơn tôi.
Trời đã sáng hẳn và giờ cô cảm thấy sẵn sàng về nhà, cô đã kiệt sức.
Tôi những muốn có thể hiểu được con người L. dưới mọi khía cạnh, cho dù chúng có trái ngược nhau.
L. thể hiện mình dưới những góc độ khác nhau, khi thì nghiêm túc và trong tầm kiểm soát, khi thì bông lơn và không thể đoán trước. Đó chắc chắn là điều khiến sự thể hiện con người cô trở nên thật phức tạp, những điểm yếu bất ngờ trong việc kiểm soát bản thân cô, sự pha trộn giữa uy quyền và nghiêm túc đột nhiên lại đối nghịch với một cơn vui tính hay phóng túng, mà sự mãnh liệt của nó gợi cho tôi những luồng hơi bất ngờ làm ngọn lửa bùng lên khi các cửa sổ đùng đùng mở toang dưới áp lực của gió.
L. tiếp tục gây ấn tượng với tôi bằng khả năng nhanh chóng nắm bắt tâm trạng của người khác và thích nghi với chúng. Cô biết cách hóa giải thái độ khó chịu của một bồi bàn hay sự mệt mỏi của một cô bán bánh, như thể cô nhận ra tâm trạng họ ngay khi vừa bước qua ngưỡng cửa. Cô luôn đi trước một bước. Ở nơi công cộng, cô có thể bắt đầu trò chuyện với bất cứ ai và, trong chưa đầy ba phút, đã thu thập được những tiếng thở dài, khơi dậy những màn tâm sự. L. tỏ ra khoan dung và độ lượng, tạo cảm giác có thể thấu hiểu mọi thứ mà không phán xét.
L. biết tìm ra những lời an ủi và xoa dịu.
L. là một trong những người mà, theo bản năng, người ta hướng tới trên đường phố để hỏi đường hoặc thông tin.
Nhưng đôi khi bề mặt nhẵn mịn đột nhiên bị xé toạc và L. tiết lộ một khía cạnh đáng ngạc nhiên của chính cô. Thỉnh thoảng, với mong muốn rõ ràng là phủ định các đặc điểm bất biến của mình, L. nổi giận quá mức, phi lý, chẳng hạn, vì ai đó đã không tránh bước khi gặp phải cô trên vỉa hè (cô cho rằng khi hai người đi đến trước mặt nhau thì mỗi người đều phải bước tránh sang một bước, hoặc ít nhất là phác ra động tác đó, để thể hiện sự tôn trọng hoặc thiện chí). Trong số những lần đi tàu điện ngầm, tôi còn nhớ một hôm có một phụ nữ đã hét vào micro điện thoại di động của mình suốt hơn năm phút liền, L. đã thản nhiên đáp trả rất to mà người phụ nữ kia không nhận ra, khiến những hành khách xung quanh chúng tôi phá lên cười.
Một lần khác, khi tới gặp cô ở quảng trường Martin-Nadaud, tôi thấy cô đang đỏ mặt tía tai chửi rủa một gã hét to hơn cô nhưng vốn từ lại rất hạn chế so với cô. Với giọng nói trầm, chắc nịch, dứt khoát, L. đã giành phần thắng. Cuối cùng khi cũng đồng ý bỏ đi, cô giải thích với tôi rằng gã kia đã tỏ ra hung hãn và thô tục với hai cô gái rất trẻ mặc quần soóc đi qua trước mặt gã.
Chủ đề trò chuyện của L. rất phong phú. Sự bất lịch sự của dân Paris, những tay sếp quèn hống hách, những kẻ soi mói và những đao phủ đủ loại, các hình thức rối loạn bản thể khác nhau và mối liên hệ của chúng với thời đại chúng ta, viễn tải con người là một trong những chủ đề yêu thích của cô. Nếu chúng ta xuất phát từ nguyên tắc rằng chúng ta không là gì khác ngoài một tập hợp các nguyên tử được kết nối với nhau, thì không một định luật vật lý cơ bản nào ngăn cản chúng ta chung sống cùng nhau trong khi vẫn tôn trọng giới hạn của mỗi người. Cũng không có định luật vật lý cơ bản nào ngăn cản chúng ta, từ nay đến vài trăm hay hàng ngàn năm nữa, viễn tải từ điểm A đến điểm B, giống như ngay từ bây giờ chúng ta có thể làm để gửi một bức ảnh hoặc một bản nhạc gần như ngay lập tức đến đầu kia thế giới.
Trong số nhiều ý ngông khác, L. cho rằng những người thuận tay trái là những sinh vật khác biệt, họ ngay lập tức nhận ra nhau, kết nối với nhau và tạo thành một đẳng cấp vô hình, từ lâu đã bị loại bỏ, mà ưu thế kín đáo không còn cần được chứng minh nữa.
Chẳng bao lâu tôi đã phát hiện ra rằng L. cũng có những nỗi sợ: một hôm, hai chúng tôi ăn trưa tại một nhà hàng trong khu phố tôi ở, tôi thấy một con chuột bò dọc theo đường cong của quầy bar, ngay sau lưng cô. Chuyện thấy chuột trong các nhà hàng ở Paris, kể cả những nhà hàng sang trọng nhất, không phải là hiếm, nhưng tôi phải nói rằng giữa lúc đông khách vào buổi trưa thì việc ấy không thường gặp lắm. Nhất là con vật lại thong dong thả bộ. Cảnh tượng đáng để làm gián đoạn cuộc trò chuyện giữa chúng tôi.
L. sững người, không thể quay đầu lại.
– Một con chuột thật á? Cậu không đùa đấy chứ?
Tôi lắc đầu, thích thú.
Và sau đó tôi nhận ra rằng L. đã không nói thêm bất kỳ điều gì, cô tái mét, một lớp mồ hôi mỏng xuất hiện trên trán cô. Đó là lần đầu tiên tôi thấy cô xanh xao đến thế.
Tôi cố trấn an cô: con chuột đã biến mất, không cần phải lo lắng, không có lý do gì để nó quay lại. L. không muốn biết gì cả. Cô không ăn thêm một miếng xa lát nào dù chỉ mới vừa bắt đầu, cô gọi thanh toán và chúng tôi ra về.
Sau này, tôi phát hiện ra L. không chịu được bất kỳ loài gặm nhấm nào và cô thú nhận với tôi rằng cô không thể đọc đến cuối truyện ngắn mà tôi viết về chuột bạch.
Dần dần, qua nhiều cuộc trò chuyện khác nhau, tôi biết được rằng L. đã đọc tất cả những gì tôi từng viết và xuất bản, tiểu thuyết của tôi, truyện ngắn của tôi, phần đóng góp của tôi cho các tác phẩm tập thể, tất cả , trừ câu chuyện mà cô không thể đọc hết này.
Hơn nữa, L. thừa nhận là cô có một vài thói gàn dở và rất quan tâm đến những thói ấy ở người khác. Cô có một lý thuyết về vấn đề này. Không ai có thể sống sót trong xã hội của chúng ta mà không phát triển một số nghi thức và không phải lúc nào họ cũng nhận thức được về chúng. L. đưa ra ví dụ là tất cả chúng ta đều có những chu kỳ ăn uống. Tôi có hiểu những gì cô đang nói không? Nếu nghĩ về chuyện này, chẳng lẽ tôi không nhận ra rằng theo dòng thời gian chế độ ăn uống của tôi đã thay đổi và qua các giai đoạn khác nhau, các chu kỳ khác nhau, tương ứng với các độ tuổi và ảnh hưởng khác nhau, thấy một số thực phẩm biến mất trong khi ngược lại, những thực phẩm khác, vốn bị bỏ rơi cho đến lúc đó, đột nhiên trở thành không thể thiếu đối với tôi? Cô bảo tôi, chẳng hạn, hãy suy nghĩ về bữa sáng của mình. Nó có luôn như nhau không? Tôi công nhận là quả thật mình đã nhiều lần điều chỉnh thành phần thông thường. Tôi từng có một giai đoạn bánh mì lát + sữa chua, một giai đoạn ngũ cốc + bánh mì lát, một giai đoạn ngũ cốc + sữa chua, một giai đoạn chỉ ăn bánh xốp... Lúc hai mươi tôi uống trà, ba mươi cà phê, bốn mươi nước ấm. Điều đó khiến cô mỉm cười. L. thú nhận với tôi rằng khi mới bước vào tuổi trưởng thành, cô đã trải qua những giai đoạn gọi là màu sắc: một giai đoạn màu cam, khi đó cô chỉ ăn những thực phẩm có màu này (cam, mơ, cà rốt, pho mát Hà Lan, bí ngô, dưa lưới, tôm chín), và ít lâu sau, một giai đoạn xanh (rau chân vịt, quả đậu, dưa chuột, súp lơ xanh...) mà cô đã chấm dứt khi kết hôn.
Tương tự, L. quan sát thấy rằng một số cử chỉ nhất định trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta được thực hiện theo một trật tự bất biến mà không cần một quyết định hay suy nghĩ gì. Những cảnh này, theo cô, chịu ảnh hưởng từ những chiến lược mà chúng ta triển khai một cách ít nhiều có ý thức để sống sót. Tương tự như vậy, những thói quen ngôn ngữ của chúng ta, hoàn toàn không ngẫu nhiên, tiết lộ rõ hơn bất kỳ diễn văn nào cách thức mà chúng ta có thể, tại một thời điểm nhất định, thích nghi với những ràng buộc chủ yếu của môi trường quanh chúng ta (hoặc kháng cự lại chúng). Theo L., những cách diễn đạt thông thường mà chúng ta nhất trí sử dụng phản ánh sự xáo trộn mãnh liệt nhất trong chúng ta tốt hơn bất kỳ phân tích chuyên sâu nào về cuộc sống hoặc thời gian biểu của chúng ta. Vì vậy, vào một thời kỳ dường như không có gì là ổn, khi mà toàn bộ xã hội dường như đóng băng, treo lửng, mọi người liên tục lặp đi lặp lại câu ổn cả . Tương tự, những buổi dạ hội, những bộ phim, con người không còn rất nữa – rất dễ thương, rất chán, rất nhanh, rất chậm -, mọi thứ đã trở nên quá – quá dễ thương, quá chán, quá nhanh, quá chậm -, có thể là bởi kiểu sống này, quả thực, đã nhấn chìm chúng ta.
Về chiến lược, L. có một chiến lược, rất hiệu quả, để đảm bảo không gian sống của cô hoặc đảm bảo cho các cuộc trò chuyện của cô được kín đáo. Khi cô đến một quán cà phê vào giờ ăn trưa, cô luôn yêu cầu một bàn cho ba người trong khi chúng tôi chỉ có hai người. Mẹo này cho phép cô có được một chiếc bàn lớn (hoặc ghép hai bàn một chân với nhau) trong khi xung quanh chúng tôi, mọi người đều ngồi sát vào nhau. Sau hai mươi phút, cô làm ra vẻ chán nản và báo với người phục vụ rằng chúng tôi sẽ gọi món mà không đợi người thứ ba, nhưng chúng tôi vẫn giữ nguyên chỗ cho người đó để phòng khi. Gần cuối bữa ăn, khi nhà hàng đã vắng hẳn, L. xin lỗi người phục vụ: cô lấy làm tiếc, người bạn kia đã cho chúng tôi leo cây.
Tôi phải nói rằng với cô, tôi không bao giờ chán.
L. nói to thành tiếng đủ các kiểu câu hỏi hoặc đúng hơn là nói to những câu hỏi mà có lẽ nhiều phụ nữ tự đặt ra cho mình (ít ra là tôi): Có thể mặc quần jean bó đến bao nhiêu tuổi? Thế còn một chiếc váy ngắn? Một cái áo hở vai? Có thể tự nhận ra rằng đã quá muộn, rằng điều đó thật lố bịch, hay là phải nhờ người thân (trong khi vẫn còn thời gian) báo cho chúng ta biết khi thời điểm đó tới? Có phải đã quá muộn và chúng ta đã vượt qua đường ranh giới màu đỏ mà không nhận ra?
Tôi không thể tin được: L., người mà tôi thấy dường như rất tự tin vào bản thân khi tôi gặp cô, rất chắc chắn về lựa chọn của mình, rất ý thức được hào quang của mình, bày tỏ – một cách hài hước hơn – những mối bận lòng giống như của tôi.
Điều đó nhanh chóng trở thành một trong những chủ đề yêu thích của chúng tôi: nỗ lực thích nghi cần có để chúng tôi có thể nhìn nhận mình như bản thân mình vốn có – một sự hiệu chỉnh, giống như một thuật ngữ được dùng trong nhiếp ảnh – mà chúng tôi phải thường xuyên chấp nhận để tự xác định độ tuổi của mình, để biết rõ về bản thân.
Việc phát hiện ra một nếp nhăn mới, một giai đoạn mới trong cơn suy sụp toàn diện, những quầng thâm không thể khắc phục, tất cả những điều này có thể được chia sẻ, từ nay chúng là chủ đề phân tích nghiêm túc... và hài hước.
L. tâm sự với tôi rằng cô không thể gặp ai đó ngoài ba mươi tuổi mà thoạt tiên không tự hỏi về tuổi của người đó. Từ nhiều năm nay, tuổi tác là câu hỏi đầu tiên cô đặt ra về bất cứ ai cô vô tình gặp hoặc có hẹn gặp, dù là đàn ông hay phụ nữ, như thể đó là dữ liệu đầu tiên, không thể tránh khỏi, để đánh giá tương quan lực lượng, mối tương đồng về độ quyến rũ và sự đồng lõa. Về phần mình, khi càng có tuổi, tôi nhận thấy rằng những người trẻ tuổi lại thường có vẻ trẻ hơn tuổi của họ. Theo cô, đó chỉ là một dấu hiệu của tuổi tác, không còn có thể phân biệt giữa một người hai mươi tuổi và một người ba mươi nữa, trong khi giữa họ với nhau, họ hoàn toàn có khả năng nhận ra và phân biệt mình với người kia.
Điều khiển tôi mê mẩn ở L., đó là chẳng hề có một nghi vấn nội tâm nào trong số đó lộ ra qua cách sống của cô. Không có gì trong ngoại hình cũng như trong hành vi của cô để lộ một sự lo lắng hoặc không chắc chắn nào đó về chính bản thân cô. Trái lại, tôi thấy dường như cách ăn mặc, di chuyển, cười nói của cô là bằng chứng rõ ràng cho thấy cô hoàn toàn làm chủ con người mình.
Chắc chắn là tất cả những điều ấy, sức hấp dẫn mạnh mẽ của L. đã tác động đến tôi: có lẽ tôi ngưỡng mộ cô không chỉ vì sự sáng suốt của cô đối với thế giới và đối với chính bản thân cô, mà còn cả vì khả năng đánh lạc hướng , khả năng chơi đúng luật của cô.
Một tối, khi chúng tôi đi cạnh nhau trên phần nền nhô cao ở đại lộ Richard-Lenoir, L. kể tôi nghe rằng vào đầu những năm chín mươi, cô đã xem một bộ phim của Pascale Bailly mang tên Mọi người làm thế nào . Với cô, dường như nhan đề phim tự nó đã thâu tóm tâm trạng của cô, câu hỏi thường trực về những người khác mà cô không tài nào thoát khỏi này: họ làm thế nào, phải, với tốc độ nào, với nghị lực nào, bằng niềm tin nào? Làm thế nào mà mọi người vẫn trụ vững? Bởi vì vào thời kỳ đó, khi quan sát họ, cô thấy dường như mọi người xoay xở tốt hơn cô rất nhiều. Tôi đã xem bộ phim này chưa? Vì tôi không trả lời, L. tiếp tục đà nói chuyện, cô nhắc tới một bộ phim khác, ít nhiều cùng thời kỳ đó, do Laurence Ferreira Barbosa làm đạo diễn và có nhan đề Những người bình thường không có gì đặc biệt , không hề kém cạnh so với phim đầu tiên. Kịch bản phim chủ yếu diễn ra ở một bệnh viện tâm thần và cô rất thích nó.
Tôi dừng bước.
Tôi không nói nên lời trong vài giây, tôi nhìn chăm chăm vào mặt cô tìm kiếm một dấu hiệu.
L. nhìn tôi, bàng hoàng. Đêm vừa buông, ánh đèn sáng lên trên các ô cửa sổ, từng cơn gió mạnh cuốn tung những chiếc lá rụng trong tiếng xào xạc.
Tôi cho rằng lúc đó mình đã cảm thấy chóng mặt nhưng không thể nói nó là do vui thích hay sợ hãi.
Đó không phải là lần đầu tiên.
Vâng, tôi đã xem hai bộ phim này và, vì những lý do khá riêng tư, chúng nằm trong số những bộ phim cá nhân tôi tôn thờ. Việc L. nói với tôi chính xác về hai bộ phim ấy, khi đó vẫn còn khá bí mật, việc cô kết nối chúng với nhau, đó là một sự trùng hợp gây bối rối, thậm chí đáng kinh ngạc, đến mức tôi nghĩ rằng cô đã đọc hoặc nghe ở đâu đó ký ức quý giá mà tôi lưu giữ về hai bộ phim này. Nhưng chúng tôi không có người quen nào chung và tôi cũng không nhớ đã từng nói về nó trên báo chí.
Vâng, tôi cũng vậy, tôi vẫn thường tự hỏi: mọi người làm thế nào? Và thật ra, dẫu những câu hỏi này có biến đổi nhưng chúng chưa bao giờ ngừng được đặt ra: mọi người làm thế nào, để viết, yêu, ngủ liền một mạch, để thay đổi thực đơn cho con cái họ, để chấp nhận việc chúng lớn lên, để chấp nhận để chúng ra đi mà không bám lấy chúng, để mỗi năm đến khám nha sĩ một lần, để chơi thể thao, để chung thủy, để không hút thuốc lại, để đọc sách + truyện tranh + tạp chí + một tờ nhật báo, để không hoàn toàn bị lỗi thời về âm nhạc, để học cách thở, để không phơi mình dưới nắng mà không có biện pháp bảo vệ da, để đi mua sắm mỗi tuần một lần mà không quên thứ gì?
Lần này, tôi phải biết được rõ ràng đích xác. Tôi nhìn thẳng vào mắt cô và hỏi L. tại sao cô lại nói với tôi về những bộ phim này. Phải chăng tôi đã từng đề cập đến chúng? Cô có vẻ ngạc nhiên. Cô nhắc đến chúng bởi những bộ phim đó gây ấn tượng với cô. Và bởi vì, thật ra mà nói, cô vẫn đang tự hỏi mình những câu như vậy. Thế thôi. Đó là lý do tại sao cô nghĩ tới chúng.
Chúng tôi tiếp tục bước đi trong im lặng.
Liệu có phải cô cũng thế, cô cũng cảm thấy mối nghi ngờ thường trực về cách mình tiến triển trên đời, khi thì do dự, khi thì cực đoan? Nỗi sợ hãi không đúng nhịp, không đúng giọng điệu ấy? Cảm giác quá gắn bó với mọi thứ, không biết cách duy trì khoảng cách an toàn cho chính mình ấy.
Hay là L. đã nhận lấy những mối bận tâm của tôi giống như cô khoác lên mình một bộ đồ hóa trang, để chìa cho tôi tấm gương mà khi soi vào đó tôi có thể nhận ra chính mình?
Khi tự đặt ra cho mình những câu hỏi này, cuối cùng tôi tự nhủ rằng chẳng có lý do gì để nghi ngờ những điểm tương đồng giữa chúng tôi và từ bỏ niềm an ủi mà chúng mang lại cho tôi.
L. quan sát những người khác.
Trên đường phố, trong công viên, trên tàu điện ngầm.
L. không ngần ngại coi mình như một chủ đề nghiên cứu và đóng vai với một độ thính nhạy khiến tôi thích thú.
L. không bằng lòng với việc chỉ đưa ra câu hỏi, cô đề xuất cả câu trả lời.
L. không thiếu tính tự giễu.
L. có lý thuyết về mọi thứ: sự phù hợp giữa quần áo và tuổi tác, sự hồi sinh sắp tới của báo chí, sự trở lại của các loại rau củ, cách tốt nhất để hết nấc, thần giao cách cảm, chỉnh tông da, sự lên ngôi của robot làm việc nhà, sự phát triển của ngôn ngữ và vai trò của từ điển, tác động của các trang web hẹn hò đến các mối quan hệ yêu đương.
Một buổi sáng, khi chuẩn bị rời căn hộ của mình, tôi nghe thấy giọng Gilles Deleuze trên radio. Tôi viết lại ra đây những câu mà tôi đã thuộc lòng, vài giây sau khi đoạn băng ngắn kia được phát:
Nếu không nắm bắt được cơn điên rồ chợt đến ở một ai đó, bạn không thể yêu người ấy. Nếu không nắm bắt được điểm điên rồ của anh ta, bạn sẽ bỏ lỡ anh ta. Điểm điên rồ của ai đó chính là nguồn gốc sự quyến rũ ở họ.
Tôi nghĩ ngay đến L.
Tôi nghĩ rằng L. đã nhận thấy điểm điên rồ của tôi và ngược lại.
Vả lại có lẽ luôn là như vậy, trong một cuộc gặp gỡ, dù là giữa hai người yêu nhau hay hai người bạn, hai sự điên rồ nhận ra nhau và hút nhau.