Dựa Trên Một Câu Chuyện Có Thật

Lượt đọc: 1443 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 11

❊ ❊ ❊

Khi Louise và Paul chào đời, tôi đã ngừng viết nhật ký, công việc mà tôi đã duy trì từ nhiều năm trước.

Vài tháng sau, việc viết lách bị đuổi ra ngoài qua cửa chính lại quay trở vào qua cửa sổ, và tôi bắt đầu viết một cuốn tiểu thuyết. Tôi không biết mong muốn này đã đến như thế nào và giờ đây tôi không thể nói sự cố nào, sự kiện nào, cuộc gặp nào đã khiến tôi chuyển sang hành động. Trong nhiều năm, một lối viết thầm kín, không có bộ lọc, gần như diễn ra hằng ngày, đã giúp tôi nhận ra tôi, xây dựng tôi. Nó chẳng liên quan gì tới văn học. Và giờ đây khi học cách sống không có nó, tôi nhận thấy rằng mình có thể viết một cái gì đó khác, mà không thực sự biết đó là cái gì, cũng như hình dạng của nó ra sao.

Vì vậy, ngay khi tôi có hai giờ rảnh rỗi trước mặt, tôi đã viết câu chuyện ấy.

Một hôm, tôi gửi qua đường bưu điện bản thảo lấy cảm hứng từ vài tháng tôi đã trải qua trong bệnh viện vào thời điểm bước sang tuổi trưởng thành. Một cuốn tiểu thuyết tự truyện, được viết ở ngôi thứ ba, trong đó tôi tuyên bố có một phần hư cấu.

Một người phụ trách nhà xuất bản ở Paris đã tiếp tôi trong văn phòng của ông ta, rõ ràng là không hài lòng: câu chuyện, theo ông ta, thiếu hiệu ứng thực tế.

Nhưng tôi biết hiệu ứng thực tế là gì hay sao?

Trước khi tôi kịp trả lời, ông ta tự cho phép mình nhắc nhở tôi: Roland Barthes đã định nghĩa rồi, đó là một yếu tố chỉ rõ cho độc giả rằng văn bản gắn với việc mô tả thế giới thực, một yếu tố có chức năng khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa văn bản và thực tế.

Vậy nhưng, ông tiếp tục, thế chưa phải là hết. Không có gì phải hoảng, tính chất tự truyện của những trang viết này rất rõ ràng, vậy thì tại sao lại phải lẩn tránh thực tế? Cuốn sách này là một lời chứng, cần phải thêm vài chi tiết không đánh lừa, trấn an độc giả về sản phẩm, chịu trách nhiệm hoàn toàn về câu chuyện này, ở ngôi thứ nhất, và đến gặp Jean-Luc Delarue để nói về nó. Ngoài ra, chứng chán ăn đã trở thành mốt. Giọng nói run rẩy và khăn giấy trong tầm tay, tôi trả lời ông ta rằng nếu ông ta nghĩ câu chuyện không có gì khác hơn, không có gì thú vị hơn, thì không nên xuất bản. Tôi nói thêm (giọng tôi càng lúc càng đanh hơn dù không muốn) rằng một trong những người bạn thân nhất của tôi làm việc từ mười năm nay với Jean-Luc Delarue. Và nếu chỉ cần như vậy: ra làm chứng ở một trường quay truyền hình, thì tôi không cần phải viết một cuốn sách. Tôi suýt phát khóc, chỉ thiếu chút nữa thôi. Tôi chưa bao giờ đặt chân vào một nhà xuất bản, tôi đã nghỉ làm một buổi chiều để đến cuộc gặp này, tôi đã phải suy nghĩ mất hai hay ba ngày xem phải ăn mặc thế nào trong tình huống như vậy, thậm chí có thể tôi đã mua một cái váy hoặc áo sơ mi cho dịp đó. Trong một giây, tôi nghĩ rằng mình có thể chạy đi, nhưng không. Tôi là người được dạy dỗ quá tốt.

Phía trên cầu thang, chúng tôi chào nhau một cách thận trọng.

Tôi không có gì chống lại các hiệu ứng thực tế, tôi rất thích các hiệu ứng thực tế, tôi đam mê các hiệu ứng thực tế, nhưng chủ nhà xuất bản đã nói với tôi về một cái gì đó khác. Ông ta muốn tôi khắc ghi câu chuyện vào trong Sự thật. Ông ta muốn tôi nói với độc giả rằng, thưa các ông các bà, hãy chú ý, tất cả những gì tôi kể với quý vị đều xác thực, đây là một cuốn sách có mùi Sống, một cuốn tự truyện trăm phần trăm, đây là Sự thật Thật sự, đây là Cuộc sống ở trong trạng thái thô mộc, đảm bảo không có chất phụ gia, thực tế không chịu bất cứ sự biến đổi nào, đặc biệt là không bị biến đổi về mặt văn học.

Đó là những gì tôi nghĩ khi thả bộ về nhà, trong trạng thái ngà ngà say, sau khi chia tay L. trước quầy bar nơi chúng tôi đã uống ly thứ ba. Chúng tôi đã cười, cô và tôi, nơi cuối phòng, vì cuối cùng cuộc trò chuyện đã chuyển hướng sang những đam mê thời niên thiếu của chúng tôi, trước thời của Barthes và cả phe của ông, vào thời chúng tôi còn treo những tấm poster trong phòng riêng.

Tôi đã kể cho L. về quãng thời gian hai năm, hồi tôi khoảng mười sáu tuổi, tôi đã thích rồi mê mẩn Ivan Lendl, một tay chơi quần vợt người Tiệp Khắc có bề ngoài khó coi nhưng tôi lại cảm nhận được vẻ đẹp khó hiểu và thu hút, đến mức tôi đã đặt mua Tennis Magazine (trong đời, tôi chưa bao giờ chạm vào cây vợt) và đã dành hàng giờ trước các buổi phát lại trên truyền hình giải đấu Roland Garros sau đó là giải Wimbledon thay vì ôn thi tốt nghiệp trung học phổ thông. L. sững sờ. Cô cũng từng rất tôn thờ anh ta! Đó là lần đầu tiên tôi gặp một người thích Ivan Lendl, một trong những tay chơi bị ghét nhất trong lịch sử quần vợt, chắc chắn là do khuôn mặt khắc khổ không gì có thể làm cho tươi vui lên của anh ta, và lối phát bóng từ cuối sân của anh ta, có phương pháp và đáng sợ. Có vẻ như cũng chính vì những lý do này, bởi vì anh ta quá cao lớn, gầy gò và không được thấu hiểu, mà tôi rất thích anh ta. Cùng thời đó, vâng, chính xác như thế, L. đã theo dõi tất cả các trận đấu của Ivan Lendl, cô nhớ rất rõ, nhất là trận chung kết giải Roland Garros nổi tiếng mà anh ta đấu với John McEnroe, trận đó Lendl đã thắng sau một cuộc chiến căng thẳng kịch tính hiếm có. Những hình ảnh khi ấy cho thấy anh ta hoan hỉ, biến dạng vì kiệt sức và lần đầu tiên cả thế giới nhìn thấy nụ cười của anh ta. Hỏi gì L. cũng trả lời được, cô nhớ mọi chi tiết về cuộc đời và sự nghiệp của Ivan Lendl mà tôi đã quên mất một phần. Hơn hai mươi năm sau, thật khó mà tưởng tượng được cả hai chúng tôi từng bị thôi miên trước ti vi, cô ở vùng ngoại ô Paris còn tôi ở một ngôi làng vùng Normandie, cả hai đều khát khao, mong mỏi người đàn ông đến từ Đông Âu này đăng quang. L. cũng biết Ivan Lendl đã trở thành người như thế nào, cô đã theo dõi rất sát sao, sự nghiệp cũng như cuộc sống riêng của anh ta. Ivan Lendl đã kết hôn và làm cha của bốn đứa con, sống ở Hoa Kỳ, huấn luyện các tay vợt trẻ và đã làm lại răng. L. phàn nàn về điểm cuối cùng này, sự biến mất của nụ cười Tiệp Khắc (những chiếc răng mọc không đều mà người ta có thể đoán được là chúng chồng chéo lên nhau) để nhường chỗ cho nụ cười Mỹ (răng giả xếp thẳng tắp, trắng bóng), theo cô, vì thế mà anh ta đã mất hết vẻ quyến rũ, tôi chỉ việc kiểm tra trên Internet nếu không tin cô.

Đó là một sự trùng hợp kỳ lạ. Một điểm chung trong số những điểm chung khác, khiến chúng tôi xích lại gần nhau.

Nhưng một điều khác đã trở lại trong tâm trí tôi.

Khi tới Paris để bắt đầu việc học, tôi đã đăng ký vào một hãng ở Paris chuyên tuyển dụng nhân viên lễ tân cho các triển lãm hoặc các sự kiện khác nhau. Nhưng chẳng bao lâu, hóa ra tôi không phù hợp với công việc, tôi không có một thứ gì đó, bị khuyết thiếu, và mỗi tuần, trong khi các cô gái khác được điều đến cung Hội nghị hay Triển lãm Ô tô, hãng đề nghị với tôi, cũng như với những người khác, làm nhiệm vụ tại siêu thị ở vùng ngoại ô xa xôi ít nhiều có thể đến được bằng tàu nhanh địa phương. Đứng trước kệ ngang hoặc dãy dọc, tôi là người giới thiệu các nhãn hiệu nước hoa, bít tết băm hay nước rửa bát, tôi cho người ta nếm thử bánh kếp rút nước, bánh quy khai vị và các mẩu pho mát mềm mà tôi cẩn thận cắt nhỏ, tôi trượt patin phát tờ rơi, đeo tạp dề ren để gợi vẻ đồng quê, đeo khăn quàng cổ hoặc mặc áo phông quảng cáo, tôi nhắc đi nhắc lại, đến mức đêm ngủ cũng nằm mơ, những khẩu hiệu vui vẻ trước Ngày của Mẹ hoặc vào cuối tuần Phục sinh. Sau nhiều tháng chăm chỉ, nếu được nhận xét tốt trong những lần kiểm tra đột xuất, chúng tôi có thể hy vọng được điều đến một cửa hàng sát ngoại ô, thậm chí ở nội thành Paris.

Vì vậy, trong năm học dự bị, tôi được phân công làm nhiệm vụ hai ngày ở cửa hàng Bon Marché. Đó là một dấu hiệu thể hiện sự công nhận ngoài mong đợi, một bước thăng tiến chưa từng thấy. Không phải đi tàu nhanh địa phương vào lúc bình minh, không phải ăn ở quán có những bức tường màu cam và những bóng đèn neon lúc sáng lúc tối. Tôi phải đứng ở đầu thang cuốn và cả ngày phát phiếu giảm giá cho một dòng sản phẩm chăm sóc tóc mới mà một thương hiệu mỹ phẩm đang tìm cách tung ra các siêu thị lớn. Tôi mặc một bộ vest được hãng cấp, chất vải nhàu nát của nó không thể khiến người ta quên được những đường cắt thiếu chính xác. Nhưng sự lố bịch chủ yếu đến từ chiếc khăn vải viscose mà chúng tôi phải buộc quanh cổ, một bản sao thảm hại chiếc khăn vuông của hãng Hermès, trên đó logo của thương hiệu chính là họa tiết. Sắp đến 5 giờ chiều và tôi cảm thấy chân mình sưng lên (một cô bạn đã cho tôi mượn một đôi giày quá nhỏ) thì thấy chúng túm tụm đi lên, bất động giữa thang cuốn. Đây là điều tôi đã không dự tính trước: khả năng cao có thể gặp vào một thứ Bảy nào đó, ở ngay trung tâm quận bảy, đám bạn cùng trường. Tôi không còn thực sự nhớ mặt chúng, cũng chẳng biết tên chúng, tôi không biết chúng học cùng lớp mình hay lớp khác nữa. Chúng vừa đi qua tôi vừa huých nhau, chúng khá đông, một số dừng bước, quay lại, tôi nghe thấy tiếng cười, mấy đứa con gái khúc khích còn bọn con trai nói tếu, một đứa trong số chúng vồ lấy cái phiếu giảm giá tôi đang phân phát mà chẳng nhìn tôi. Nó bắt đầu to tiếng chế giễu nội dung trên phiếu, bọn con gái cười to hơn nữa. Tôi nhớ là chúng rất xinh, còn tôi, lôi thôi lếch thếch trong bộ váy hạng hai không phải là không gợi lên hình ảnh một tiếp viên hàng không. Tôi giả vờ không nhận thấy rằng chúng ở ngay sau lưng mình, đang rúc rích khi nghe tôi liên tục lặp lại những câu giống hệt nhau, xin-chào-bà-cầm-lấy-này-đừng-ngần-ngại-đây-là-phiếu-giảm-giá-cho-dầu-gội-đầu-của-chúng-tôi-dầu-dưỡng-tóc-của-chúng-tôi-mặt-nạ-dưỡng-tóc-của-chúng-tôi-một-dòng-sản-phẩm-chăm-sóc-tóc-mới-rất-đặc-biệt-đừng-ngần-ngại-nhanh-lên-nào-hãy-xem-các-mặt-hàng-giảm-giá-chào-hàng-của-chúng-tôi, ngay đây thôi, vâng, gian hàng đầu tiên bên phải. Một người phụ nữ hỏi tôi liệu cô ấy có thể xin hai phiếu không, tôi đưa cho cô ấy một phiếu khác. Cô ấy muốn biết liệu các sản phẩm có chống gàu hay không, tôi thấy dường như những tiếng cười vang lên sau lưng mình, và rồi đột nhiên tôi nghe thấy một giọng con gái, phát ra từ nhóm của chúng, một giọng nói đầy phẫn nộ và khinh bỉ:

– Chúng mày thực sự quá ngu. Tinh hoa của đất nước là thế đấy hả, lũ ranh con bẩn thỉu chưa bao giờ làm bất cứ điều gì ngoài dọn giường của mình, chúng chế giễu một cô gái dành ngày thứ Bảy của mình để làm việc. Chúng mày tự nhìn lại mình đi!

Tôi tiếp tục chìa ra những tấm phiếu giảm giá, phía đầu thang cuốn, như một người máy mà không gì có thể làm gián đoạn cử chỉ, tôi khó nhọc thở, toàn thân tôi căng ra về phía đám bạn, tôi rình chờ chúng rời đi mà không nhìn chúng, tôi muốn chúng bỏ đi, cả đám, biến mất. Tôi nghe thấy những giọng nói xa dần, tôi đợi thêm một chút nữa rồi mới quay lại. Tôi nhìn thấy chúng từ phía sau, chúng huých nhau, tôi không thể xác định được cô gái đã chấm dứt nhục hình của tôi.

Phải, tối hôm ấy, khi ra khỏi quán cà phê và đi bộ một mình trên phố, sống lại cảnh mà tôi đã không nghĩ đến trong nhiều năm đó, tôi đã nghe thấy chính giọng nói của L..

Trong sự chồng chéo này, và sự hiển nhiên của nó, tôi chắc chắn rằng L. là cô gái đã lôi đám bạn kia đi và tôi đã không thể nhìn thấy.

Trong tháng Chín, tôi lại đi để giúp các con ổn định cuộc sống. Paul đã nhận được một phòng ở ký túc xá trường nó còn Louise thì thuê chung nhà với hai người bạn cũng tới đó để học như nó. Các chuyến đi đi lại lại cửa hàng Ikea và Castorama, vài ngày ở Tournai và sau đó ở Lyon, đã chiếm những tuần đầu tiên của mùa ra sách mới mà vấn đề viết lách chưa được đặt lại. Tôi sung sướng tranh thủ những khoảnh khắc này cùng các con. Sung sướng trì hoãn khoảnh khắc chia tay.

Tâm trí tôi chưa sẵn sàng để bắt đầu, đó là những gì tôi đã giải thích với L. khi một tối cô gọi điện hỏi tôi về tiến độ dự án của tôi. Bằng giọng nói êm dịu và lối nói để mọi thứ ở thể phủ định, cô hỏi tôi liệu có phải tất cả những điều đó (những chuyến đi đi lại lại, việc sắp xếp chỗ ở cho các con tôi, những thứ giấy tờ cần điền, những đồ cần mua) không cung cấp cho tôi một cái cớ phù hợp để không thấy rằng tôi đang bất lực trong việc ngồi xuống và viết, một sự bất lực liên quan đến chính dự án chứ không liên quan đến hoàn cảnh. Phải chăng vào thời trước, tôi cũng không thể tìm thấy không gian và thời gian cần thiết, trong khi phải làm việc bốn ngày một tuần ở một vùng ngoại ô xa xôi? Theo cô, tôi không chịu thừa nhận rằng ý tưởng của tôi không hay và rằng từ nhiều tháng nay tôi đã dấn thân vào một lãnh địa không phải của mình, thậm chí nó còn đi ngược lại chiều hướng phát triển của công việc của tôi. Chẳng phải sự gián đoạn này, mà tôi đeo bám một cách vô ích, đã ngăn tôi viết hay sao? Cô chỉ cho tôi hướng này để tôi suy nghĩ về nó. Một câu hỏi dường như là cốt yếu đối với cô, mà cô cho phép mình chia sẻ với tôi, khi bây giờ chúng tôi đã là bạn bè. Cô không có gì chắc chắn, chỉ là một trực giác.

Tôi không tìm ra lý lẽ để phản bác cô.

Phải, vào những lúc thời gian eo hẹp hơn, tôi vẫn tìm ra thời gian để viết.

Nhưng tôi không còn trẻ nữa và tôi không còn cảm hứng, thế thôi.

Với L., người rất quan tâm đến cách tôi làm việc (trước cô không ai như thế), tôi đã cho xem những cuốn sổ tôi đang viết, ba hoặc bốn cuốn cùng kích thước, với bìa nhẵn và mềm, mà François đã mua tặng tôi khi ra khỏi triển lãm Edward Hopper. Bìa mỗi cuốn là bản sao một trong những bức tranh của họa sĩ.

Tôi ghi chép vào những cuốn sổ nhỏ. Tôi thích chúng mỏng và nhẹ, bìa mềm, có đường kẻ. Tôi mang chúng trong túi xách, tới bất cứ nơi nào tôi đi, theo tôi đi du lịch, đi nghỉ, và buổi tối tôi luôn đặt một cuốn lên bàn đầu giường. Tôi ghi vào đó các ý tưởng hoặc những câu văn liên quan đến công việc đang làm, và cả những thứ khác nữa, nhan đề của những cuốn sách trong tương lai, phần mở đầu cho những câu chuyện. Đôi khi tôi quyết định tổ chức lại: trong vài tuần, cuốn này đón nhận các ý tưởng liên quan đến cuốn sách đang viết, trong khi một cuốn khác dành cho các dự án bị hoãn. Vào những giai đoạn sôi sục, tôi từng có năm hoặc sáu cuốn viết dở , mỗi cuốn tương ứng với một dự án khác nhau; rồi thì cuối cùng tôi luôn trộn lẫn mọi thứ vào nhau.

Với biên tập viên của mình, tôi để cô ấy tin rằng mọi thứ đều ổn, tôi sử dụng các cách nói hơi mơ hồ để không phải dối trá: tôi đang thực hiện một vài nghiên cứu bổ sung, tôi chuẩn bị mặt bằng, tôi củng cố nền móng...

Không có lý do gì phải lo lắng.

Tôi chuẩn bị quay lại với nó .

Trên thực tế, tôi chần chừ, bị phân tán, đẩy lui từ ngày này sang ngày khác, từ tuần này sang tuần khác thời điểm mà tôi cần phải thừa nhận rằng một cái gì đó đã đứt gãy, đã biến mất, không còn hoạt động.

Trên thực tế, ngay khi tôi bật máy tính, ngay khi tôi bắt đầu suy nghĩ, giọng nói kiểm duyệt liền vang lên. Một kiểu siêu ngã mỉa mai cay độc và không khoan dung đã chiếm lấy tâm trí tôi. Nó khúc khích, ra mặt chế nhạo, cười khẩy. Nó vây dồn cái câu nói yếu ớt ấy, ngay cả trước khi câu nói kịp thành hình, câu nói mà khi bị tách ra khỏi bối cảnh hẳn sẽ khiến người ta cười phá lên. Trên trán tôi, một con mắt thứ ba được ghép lên phía trên hai mắt kia. Dù cho tôi định viết gì thì nó cũng đi guốc trong bụng tôi. Con mắt thứ ba đang đợi tôi ở ngã rẽ, dập tắt mọi toan tính bắt đầu, vạch trần điều phỉnh phờ.

Tôi vừa mới hiểu ra một điều đáng sợ, khiến người ta choáng váng: từ giờ trở đi tôi là kẻ thù tồi tệ nhất của chính tôi. Bạo chúa của chính tôi.

Đôi khi một ý nghĩ u ám, không thể chịu nổi, xâm chiếm tôi: L. có lý. L. cảnh báo tôi vì cô ấy thấy thảm họa mà tôi đang hướng đến.

Tôi đã nhầm đường.

L. tìm cách cảnh báo tôi còn tôi thì giả vờ điếc.

Louise và Paul bắt đầu năm học, và chỉ còn mình tôi ở nhà. Tôi đã không tưởng tượng ra điều đó và, theo một cách nào đấy, tôi đã không chuẩn bị cho điều đó. Ý tôi là không thể cảm thấy từ trước sự im lặng này, và sự bất động đáng ngờ mà căn hộ bỗng đóng băng lại trong đó.

Tuy nhiên, trước khi chúng ra đi, tôi đã cố gắng lường trước sự hiện diện đơn độc của mình trong không gian hoang vắng. Tôi đã cố gắng hình dung ra sự trống rỗng, và cuộc sống mới đi cùng với nó. Nhưng những gì tôi nghĩ khác xa so với thực tế. Giờ đây đó không còn là một ý tưởng cần phải xem xét mà là một thực tế cần chấp nhận. Tôi lang thang từ phòng này sang phòng khác, tìm kiếm thứ gì đó đã biến mất. Một giai đoạn của cuộc đời tôi vừa kết thúc, nó diễn ra một cách tự nhiên và vui vẻ, không đụng độ, nó tuân theo trật tự của mọi thứ, tuy nhiên nó làm bụng tôi đau nhói. Trong những căn phòng trống, giường chiếu dọn gọn gàng, sách vở xếp thẳng hàng, tủ tường đóng im ỉm. Một hai món đồ nằm không đúng chỗ, một chiếc áo vắt trên lưng ghế, tôi quan sát sự lộn xộn giả tạo này, nó không khác gì những thứ ta vẫn thấy trên các catalog đồ nội thất hoặc các tạp chí trang trí, nó chỉ giống với chính nó: một trò vờ vịt lố bịch, một cách thể hiện cuộc sống đầy giả tạo. Tôi muốn khóc.

L. gọi điện cho tôi thường xuyên, lo lắng về tinh thần của tôi.

L. dường như rất quan tâm đến điều đó, thông cảm, và trong mắt tôi dần trở nên giống như người duy nhất có thể hiểu những gì tôi cảm thấy: căn hộ đầy ắp kỷ niệm này mà bây giờ tôi phải ở một mình, thời gian dành cho việc nhà mà giờ tôi không biết phải làm gì.

Tuy nhiên, tôi có một cuốn sách cần viết và đã đến lúc tôi phải bắt tay vào việc.

Mỗi ngày, tôi bật máy tính, tôi điều chỉnh ghế ngồi. Màn hình ngang tầm mắt, tôi mở tập tin Word mà tôi đã bắt đầu và bắt đầu lại từ nhiều tuần nay phần mở đầu chưa bao giờ vượt quá hai trang. Tôi tìm một nhan đề. Đôi khi một nhan đề cũng khơi dậy ham muốn. Nhưng không có gì xảy ra ngoài sự nhiệt tình ngắn ngủi ấy, theo sau là trạng thái đờ đẫn toàn thân, cảm giác mệt mỏi vô tận cuối cùng luôn buộc tôi phải rời bàn làm việc, vì sợ ngã ra khỏi ghế hoặc bất chợt cứ thế ngủ thiếp đi, đầu đập vào bàn phím (khi đó hình ảnh của Paul lúc được tám hoặc mười tháng tuổi quay trở lại tâm trí tôi: một hôm chúng tôi từ công viên về nhà muộn và đã quá giờ ngủ trưa, ngồi trên chiếc ghế cao của nó, thằng bé ngã chúi mũi vào đĩa khoai tây nghiền).

Hoặc là nụ cười khẩy chế giễu ấy từ xa quay về.

Tuy nhiên, mỗi ngày tôi đều tái tạo các điều kiện của nghi lễ, như thể không có gì cản trở tôi, không có gì làm tôi khiếp sợ.

Có lúc không có gì cản đường, không gian cần thiết đã được giải phóng, mọi thứ được đặt đúng chỗ, đúng trật tự, được sắp xếp, sao chép lại. Sự im lặng quả là đã trở lại, chiếc gối dựa được đặt đúng chỗ trên ghế, bàn phím máy tính chỉ còn chờ những ngón tay gõ lên.

Có lúc cần phải lao vào, lấy lại nhịp độ, nhiệt tình, lòng quyết tâm. Nhưng điều đó không đến.

Có lúc người ta tự nhủ rằng đó là vấn đề kỷ luật, rằng chỉ cần một cú đá mạnh vào mông là người ta sẽ bắt đầu trò chơi, người ta đánh thức con thú vào một giờ cố định lúc sáng sớm, người ta ngồi vào bàn của mình, người ta ở đó, người ta ở nguyên đó, người ta ở lại đó. Nhưng không có gì xảy ra cả.

Có lúc người ta tự nhủ rằng điều đó không nên xảy ra như thế, rằng không có gì quá đau đớn, hoặc nếu có như thế, nỗi đau này chứa đựng một phần của lạc thú, nhưng không, đó chỉ là một thất bại. Ánh mắt tôi trống rỗng trước máy tính.

Sau đó một lúc thì đến thời điểm không có bất cứ lý do gì, không có bất cứ cái cớ nào nữa. Mọi thứ đã sẵn sàng nhưng không gì được viết ra.

Tôi sợ. Tôi không thể làm điều đó nữa.

Các nhân vật tôi từng mô tả cho L. đã trống rỗng, họ đã rời xa mà tôi không nhận ra và cuối cùng thì tôi không thấy họ đâu nữa. Ý tưởng về cuốn tiểu thuyết nói chung đã xì hơi, đã lại xẹp xuống như chiếc ống thổi.

Nghe có vẻ giả dối.

Câu chuyện, tình huống, ngay cả ý tưởng về cuốn sách, ngay cả ý tưởng về ý tưởng.

Không gì còn ý nghĩa nữa.

Một buổi tối tháng Mười, tôi thông báo với biên tập viên của mình rằng tôi từ bỏ dự án mà tôi đã nói với cô ấy. Nó không hoạt động, có gì đó không ổn. Cô ấy yêu cầu tôi gửi cho cô ấy những gì tôi đã viết, dẫu có dở dang, đang ở trạng thái thô mộc, cô ấy biết cách tìm thấy ở đó những ý tưởng được ẩn giấu, dù chỉ là phần mở đầu, thậm chí một vài trang. Tôi trả lời rằng tôi đã không viết gì hết, không một dòng, rồi gác máy.

Tôi không thể giải thích nổi cảm giác không lối thoát mà tôi đang mắc trong đó, nỗi chán ngán mà tất cả những điều này khơi dậy trong tôi, cảm giác đã mất đi tất cả.

Không một lúc nào tôi nghĩ rằng những trao đổi giữa tôi với L. có thể có liên quan đến việc tôi bỏ cuộc. Cho đến nay không một quan điểm, không một diễn văn, không một lời khích lệ nào từng ảnh hưởng đến bản chất công việc của tôi. Tôi buộc phải công nhận giá trị của sách vở, đó là điều không cần bàn cãi, thương lượng, đó không phải là một sự lựa chọn, đó là một con đường và không có con đường nào khác.

Làm sao tôi có thể tưởng tượng được rằng một hoặc hai cuộc trò chuyện có thể đủ làm tôi ngừng thở?

Vào ban đêm, tôi mở to mắt. Tôi chẳng thấy gì hết: không một ánh lấp lánh, không một tia sáng.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 1 năm 2026