Dựa Trên Một Câu Chuyện Có Thật

Lượt đọc: 1412 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 29

❊ ❊ ❊

Nhà xuất bản các tác phẩm kinh điển mà tôi đã viết lời tựa cho tiểu thuyết của Maupassant (thật ra là L. viết lời tựa và tôi ký) hằng năm thường tổ chức nhiều cuộc gặp với công chúng tại Nhà hát Odéon. Khi sách được tái bản, biên tập viên đã gọi cho tôi để chắc rằng tôi không quên cuộc hẹn mà chúng tôi đã ấn định ngay từ khi ký hợp đồng. Cuộc gặp dự kiến diễn ra tại hội trường nhỏ Roger Blin có khoảng một trăm chỗ. Nó sẽ kéo dài khoảng một giờ và, nếu tôi đồng ý, sẽ bắt đầu bằng cách tôi đọc cho độc giả nghe một trích đoạn của cuốn tiểu thuyết. Các câu hỏi phỏng vấn sau đó sẽ xoay quanh việc tôi đọc cuốn sách, niềm yêu mến mà tôi dành cho tác giả, ý tưởng khơi dậy trong mọi người mong muốn khám phá hoặc đọc lại cuốn tiểu thuyết ít được biết đến hơn này của Maupassant.

Khi tôi cúp máy, ý tưởng đầu tiên của tôi là gọi cho L. và đề nghị cô đi thay tôi. Tôi chỉ gặp hòm thư trả lời tự động. Đến phải tin rằng số điện thoại này là dành cho tôi và sẽ vẫn đóng chừng nào cô còn giận. Tôi không để lại lời nhắn.

Lại thêm một lần nữa, tôi đã hứa, chi tiết về cuộc gặp đã được thông báo trên các trang khác nhau, đã quá muộn để rút lui. Và khi nghĩ về chuyện đó, hoàn toàn không thể nghĩ đến chuyện nhờ L. thế vai tôi. Tôi biết nhiều người của nhà xuất bản và những độc giả tôi từng gặp ở hiệu sách có thể sẽ đến. Trong bối cảnh như vậy, L. sẽ không thể giữ được quá hai phút là bị vạch mặt.

Trước hôm diễn ra cuộc gặp, tôi đã đọc lại cuốn tiểu thuyết, và lời tựa mà L. viết. Suốt đêm tôi không tài nào chợp mắt được.

Buổi tối gặp mặt, tôi đến trước để trao đổi một chút với cố vấn văn học của nhà hát, ông đã sẵn sàng dẫn dắt cuộc trao đổi. Ông này, sau khi cố gắng trấn an tôi (tôi hẳn có vẻ rất căng thẳng), đã nhắc lại cho tôi một số quy tắc. Và rồi cũng đến lúc lên ngồi trên bục nhỏ, đối mặt với công chúng.

Hội trường chật kín người. Trong khoảng mười phút, tôi đọc to một trích đoạn tiểu thuyết. Khi ngước mắt lên, tôi thấy cô.

Cô ở đó, ngồi ở hàng thứ ba, ăn vận giống tôi. Không phải là cùng phong cách quần áo, không, cô mặc giống hệt tôi: cùng một mẫu quần jean, cùng một mẫu áo sơ mi, cùng mẫu áo khoác đen. Chỉ có đôi giày là khác, hơi sẫm màu hơn giày của tôi. Tôi muốn phá lên cười, L. đang đùa tôi, L. cải trang và quyết định chơi trò diễn viên đóng thế, như trong phim. L. khiến tôi hiểu rằng trong trường hợp có vấn đề, cô sẵn sàng nhảy lên sân khấu và thay thế tôi ngay lập tức. Cô kín đáo nháy mắt với tôi, dường như không ai khác ngoài tôi nhận thấy trò chơi nhỏ của cô.

Tôi giữ một hồi ức khá mơ hồ về đoạn giới thiệu cuốn sách. Những câu trả lời của tôi rất tầm thường, và thời gian càng trôi, tôi dường như càng dấn sâu vào một bài diễn văn tẻ nhạt và một sự trống rỗng khủng khiếp. Tôi nhìn L., giờ thì cô đang ngồi giữa khán phòng, và dù không muốn, tôi vẫn đưa mắt trở lại khuôn mặt chăm chú, bình thản của cô, nó khiến tôi nhớ đến màn bịp bợm mà tôi sa vào. Mặc cho cô cười, mặc cho cô gật đầu liên tục (như thể cô đang khích lệ một đứa trẻ ở buổi biểu diễn cuối năm học), tôi không thể không nghĩ rằng vị trí của cô là ở đây, trên sân khấu, và rằng những câu trả lời của cô hẳn là thích đáng hơn của tôi nhiều.

Kết thúc cuộc gặp, mọi người nán lại một lúc trước khi giải tán. Tôi đã ký tặng một vài cuốn sách, trao đổi vài lời. Từ xa, tôi thấy L. tham gia một nhóm nhỏ, rồi nói chuyện với biên tập viên đã đặt tôi viết lời tựa. Tôi rùng mình. Dường như không ai nhận ra điều đó. Dường như không ai nhận thấy rằng L. giống tôi hoặc bắt chước tôi. L. hòa vào bối cảnh, không gây sự ngạc nhiên hay nghi ngờ gì. Khi đó, đột nhiên tôi nhận ra rằng tất cả những điều này chỉ thuần túy là suy đoán của riêng tôi. Một ảo mộng nảy sinh từ thói tự mê. Một lối diễn giải hoang tưởng. L. không ăn vận giống tôi, cô mặc giống hầu hết phụ nữ ở độ tuổi chúng tôi. Tôi là ai, tôi cho mình là ai mà lại đi tưởng tượng rằng L. đã cố tình bắt chước tôi? Đây là điều tôi phải thừa nhận: tôi đã quá e sợ cô. L. là một người bạn hơi có phần tọc mạch, tuy nhiên, cô đã cố gắng giúp tôi, khuyên bảo tôi, và đổi lại, tôi chỉ dành cho cô sự ngờ vực và nghi ngại. Không ai ngoài tôi thấy cô kỳ lạ, và tôi là người duy nhất nhìn cô bằng ánh mắt lo lắng.

Sau đó, khi hội trường đã vắng tanh, tôi đi uống một ly với mọi người ở nhà xuất bản. Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn lớn trong quán cà phê gần nhà hát nhất. Tôi rất vui khi được ở đó, giữa những người hợp với mình, bầu không khí mộc mạc và nồng nhiệt, tôi cảm thấy thoải mái.

Sau khoảng mười phút, tôi thấy L. đi qua trước cửa kính quán cà phê, cổ buồn bã ra hiệu với tôi, rồi cô biến mất.

Hôm sau, tôi đã cố gắng liên lạc với L. nhiều lần, nhưng điện thoại của cô luôn ở chế độ trả lời tự động. Một tối, cô gửi cho tôi một tin nhắn để nói với tôi rằng cô đang nghĩ đến tôi, và rằng cô sẽ gọi cho tôi ngay khi cô thấy “mọi thứ rõ ràng hơn một chút”.

Chúng tôi đã sống cùng nhau trong nhiều tuần, chúng tôi đã dùng chung phòng tắm và hàng chục bữa ăn, chúng tôi đã cùng tạo nên tâm trạng của mỗi người, và sau đó L. ra đi. Không còn lại dấu vết nào của cô trong căn hộ, không một món quần áo hay đồ vật bị bỏ quên, không một mẩu giấy nhắc việc dán trên tủ lạnh. Cô đã lấy tất cả mọi thứ, đóng gói mọi thứ, không để lại gì sau cô.

Một hoặc hai tuần đã trôi qua như thế, mà tôi không giữ lại ký ức gì. Tôi không bật máy tính lấy một lần.

Và rồi François lại phải ra nước ngoài.

Lẽ ra tôi đã có thể gọi điện cho bạn bè, liên lạc lại, cho họ biết rằng tôi sẵn sàng kết nối và đang rảnh, nhưng tôi không đủ sức. Lẽ ra tôi đã có thể kể về L., giải thích tại sao cô đến ở nhà tôi, tại sao cô lại được dùng máy tính của tôi một cách không hạn chế, lẽ ra tôi phải thú nhận rằng tôi không thể viết nổi, rằng nỗi sợ của tôi không suy giảm. Hoặc lẽ ra tôi phải nói dối, và thừa nhận rằng chính tôi đã viết tin nhắn ngu ngốc kia, nó đã khiến mọi người xa lánh tôi.

Tôi thấy mình cô đơn, bị giam cầm bởi một lời nói dối không cho phép quay ngược trở lại.

Một buổi sáng tháng Mười, tôi tìm thấy trong hộp thư nhà mình một lá thư nặc danh mới. Vẫn kiểu phong bì ấy. Tôi chép lại nội dung dưới đây.

Delphine,

Từ khi còn nhỏ, cô đã khiến người ta sợ. Ở cô toát ra sự khó chịu. Mọi người đều thấy điều đó, đều nói về điều đó. Tất cả mọi người. Điều đó đã không được cải thiện. Mà thậm chí còn tồi tệ hơn. Bởi vì bây giờ quý cô đang viết văn.

Nhưng giờ đây không ai bị lừa nữa đâu. Thời khắc vinh quang của cô, những mảnh khóe của cô, những trò tệ hại của cô, kết thúc rồi. Cô không còn được ai thương hại nữa. Ngày nào tôi cũng phải chịu đựng những lời bình luận chẳng mấy dễ nghe về các tác phẩm của cô, ở khắp mọi nơi, giữa các chủ cửa hàng, trên đường phố, trong các bữa ăn tối. Ở đâu tôi cũng nghe thấy những lời chế giễu, cười nhạo, cô không còn phỉnh phờ được ai nữa. Và mọi người cũng chẳng thèm quan tâm. Tới những câu chuyện của cô và sự hóm hỉnh của cô, giờ chúng chỉ khiến mình cô cười. Tôi biết rằng thời thơ ấu và tuổi thiếu niên của cô ảnh hưởng rất nhiều đến tinh thần cô, thậm chí còn bệnh hoạn, cô kể lại những chuyện đó rất giỏi. Cuốn sách của cô đã làm nhiều người choáng váng. Nhưng đã kết thúc rồi.

Những trò bới phân kiểu của cô rồi cuối cùng sẽ luôn khiến cô phải cay đắng hối tiếc thôi. Cách hành xử của cô chỉ làm trạng thái tâm thần của cô trầm trọng thêm. Cô tưởng rằng cô chỉ cần rút khỏi truyền thông là đủ để khiến người ta quên rằng cô bán thân vì vụ lợi? Cô tiêu rồi. Và điều tồi tệ nhất là cô không nhận ra điều đó.

Tôi bỏ tờ giấy đánh máy vào phong bì rồi xếp bức thư vào cùng chỗ với những thư khác. Nỗi lo loang khắp căn hộ của tôi như một vũng máu.

Tôi không thể phủ nhận rằng những bức thư khiến tôi bị tổn thương, làm tôi bị vấy bẩn.

Tôi không nói gì với François hay bất cứ ai.

Tôi đã không nói về cảm giác đè nặng thường trực trên ngực này, cũng như về sự xâm lấn của một dòng axít trong bụng tôi, ngay từ lúc thức dậy, sau đó lan ra khắp cơ thể.

Vài ngày sau, trên tàu điện ngầm, hai thiếu niên vừa ra khỏi rạp chiếu phim ngồi trước mặt tôi. Một cậu giải thích với cậu kia rằng bộ phim họ vừa xem, theo những gì cậu đọc được trên AlloCiné, rất gần với thực tế: gần như mọi thứ đều là thật. Cậu bạn gật đầu rồi tỏ ra ngạc nhiên.

– Cậu có để ý số lượng phim phát hành dựa trên những câu chuyện có thật không? Đến phải tự hỏi liệu có phải là người ta thiếu cảm hứng hay không!

Cậu thứ nhất suy nghĩ một lúc rồi trả lời.

– Không đâu... Chủ yếu là bởi thực tế có gan đi xa hơn rất nhiều.

Chính câu ấy đã khiến tôi sững sờ, câu nói từ miệng một cậu nhóc mười lăm tuổi, đi đôi giày Nike dường như được sản xuất để đi trên một hành tinh khác, câu nói rất tầm thường trong câu chuyện của cậu, nhưng được diễn đạt một cách rất đặc biệt: thực tế có gan của nó. Thực tế có một ý chí, một động lực của riêng mình. Thực tế là thành quả của một thế lực vượt trội, nói cách khác là sáng tạo hơn, táo bạo hơn, giàu trí tưởng tượng hơn tất cả những gì chúng ta có thể phát minh ra. Thực tế là một cỗ máy lớn được điều khiển bởi một kẻ sáng tạo có sức mạnh vô song.

Một tối khác, khi đang về nhà, tôi ngửi thấy mùi nước hoa của L. ở lối vào tòa nhà. Tôi nghĩ đó là một sự ngẫu nhiên, hoặc có lẽ là ảo giác khứu giác.

Khi tôi mở cánh cửa căn hộ, ánh đèn thành phố chiếu sáng một phần phòng khách và hắt bóng của những món đồ nội thất xuống sàn. Tôi không bật đèn ngay lập tức, và chắc chắn là tôi đã cảm thấy mình đang bị quan sát vì tôi nhanh chóng nhìn ra cửa sổ. Ở lồng cầu thang của tòa nhà đối diện, dường như tôi thấy có bóng người. Khi mắt tôi dần quen với bóng tối và cố giải mã nó, cảm giác ấy chuyển thành sự chắc chắn. Ai đó đang đứng đó, hoàn toàn bất động, bóng đèn tự động trong cầu thang đã tắt và hẳn người này nghĩ rằng mình không thể bị nhìn thấy. Từ khoảng cách này, không thể thấy rõ khuôn mặt, cũng không thể biết được đó là đàn ông hay phụ nữ.

Tôi đứng yên như thế một chốc, nhìn chăm chăm vào bóng tối, tìm cách đoán định qua một dấu hiệu, một món quần áo, một dáng người. Và rồi hình bóng đó lùi dần cho đến khi biến mất hoàn toàn.

Tôi kéo rèm lại, vẫn còn bất động một lúc sau tấm vải chắn sáng, rình chờ qua một khe hở bé xíu sự trở lại của cái bóng. Nhưng nó không xuất hiện lại.

Sáng hôm sau, khi nhìn qua cửa sổ trong ánh sáng ban ngày, tôi tự hỏi liệu mình có mơ không. Mọi thứ dường như hết sức bình thường.

Một hoặc hai giờ sau, khi rời nhà để ra chợ ở đại lộ Richard-Lenoir, tôi bị ngã trong cầu thang. Thật khó mô tả lại cú ngã ấy. Tôi chỉ cho rằng tôi đã quên mất mình đang xuống cầu thang. Trong một tích tắc (một khoảnh khắc mất kết nối), tôi đặt một chân trước chân kia như thể đang bước trên một mặt phẳng. Tôi hạ cánh cách đó hàng chục bậc, ở tầng dưới, với một tiếng động trầm đục. Sau vài phút, tôi nhận ra rằng mình không thể đứng dậy. Một cô hàng xóm đã gọi cứu thương. Họ đỗ xe trước tòa nhà tôi ở và nài nỉ để tôi chịu nằm lên cáng. Họ đưa tôi vào trong xe, một đám nhỏ những người tò mò đã tụ tập quanh chiếc xe, một nhân viên cứu thương làm nhiệm vụ giữ cho đám người ấy đứng tách ra. Khi cánh cửa đóng lại, tôi thấy L. xuất hiện giữa đám người, có vẻ hoảng hốt. Các nhân viên cứu thương cho cô biết rằng họ đưa tôi đến bệnh viện Saint-Louis, cô hét lên với tôi rằng cô đi lấy xe và sẽ đến tìm tôi ở đó.

Khi đó, tôi không tự hỏi sao cô lại ngẫu nhiên xuất hiện ở đó, vào đúng lúc như vậy. Tôi rất vui khi được trông thấy một khuôn mặt thân thuộc, một người mà tôi không cần gọi giúp đỡ, một người xuất hiện kịp thời, từ hư không hiện ra như thể có phép mầu.

Nửa tiếng sau, L. gặp lại tôi trong phòng cấp cứu. Thông thường, người thân không được phép vào khu vực điều trị, nhưng L. chẳng mất mấy thời gian đã thuyết phục được người ta cho cô qua cánh cửa chống lửa để ở bên tôi. Cô cũng nhanh chóng tìm được một cái ghế và ngồi cạnh cáng nơi tôi đang nằm. Tôi hỏi cô làm thế nào mà vào được, cô nói với tôi rằng cô đã giải thích với bác sĩ trực là tôi đang bị trầm cảm nặng và tốt hơn là nên để cô ở bên cạnh trấn an tôi. Tôi không biết đó là do cô hài hước hay cô nghĩ vậy thật. Dù sao thì tôi cũng đã được biết tài thuyết phục của cô rồi.

Bàn chân tôi rất đau nhưng phần còn lại trên cơ thể, ngoại trừ một vài vết bầm tím, dường như đều ổn. Cũng không phải là một trường hợp cần cấp cứu ngay lập tức nên tôi đã phải đợi khá lâu trước khi được đưa đi chụp. Trong suốt thời gian đó, L. ở bên tôi. Tôi đã không gặp cô suốt nhiều tuần liền và phải nói rằng tôi vui khi được gặp lại cô. Những tranh cãi gần đây nhất giữa chúng tôi đã lùi xa và tôi cũng không thể giận cô được nữa. Tôi nghĩ rằng khi ấy, tôi đã thực sự chấp nhận việc L. là người lạ lùng, bất thường, thái quá, khó đoán, nhưng tôi không lường được mức độ nguy hiểm. Những người lạ lùng, bất thường, khó đoán, thái quá, tôi biết nhiều người như thế, và hẳn là bản thân tôi cũng lạ lùng, bất thường, khó đoán và thái quá. Hơn nữa, những nghi ngờ của tôi đối với cô có lẽ là không có cơ sở. Phải, với hy vọng giúp tôi tập trung hơn, cô đã cho phép mình gửi email cho bạn bè tôi. Có thể cô không nhận ra tầm quan trọng trong hành vi của mình. Nhưng tôi không chắc là mình muốn giận cô mãi vì chuyện đó. Bởi còn biết bao chuyện khác. Những gì cô đã làm cho tôi. Trong vòng nhiều tuần, L. đã dành cho tôi sự giúp đỡ, sự hiện diện và sự an ủi của cô.

Và cả lần này nữa, ngồi bên cạnh tôi, cô cho thấy cô có khả năng thấu hiểu, trấn an, tìm ra từ ngữ thích hợp. Trong vài phút, chúng tôi đã tìm lại được sự đồng lõa từng gắn kết chúng tôi.

Chính trong quãng thời gian chờ đợi ấy, L. bắt đầu thổ lộ tâm tình với tôi lần đầu tiên.

Tôi cũng không nhớ điều gì đã dẫn dắt chúng tôi tới cuộc trò chuyện ấy, hẳn là chúng tôi đã nói về bệnh viện, về cuộc sống trong bệnh viện, và đầu tiên L. ám chỉ rằng cô đã trải qua vài tháng trong một bệnh viện tâm thần. Tôi đặt câu hỏi. Lúc đầu cô còn tỏ ra mập mờ, sau đó thì cô kể với tôi. Sau đám tang chồng cô, cô không còn nói được nữa. Cứ tự nhiên như thế, chỉ từ hôm trước sang hôm sau. Không có dấu hiệu báo trước nào. Một đêm, cô thức dậy, xương đau nhức và hơi thở gấp gáp. Cô lên cơn sốt. Dưới chăn, cô cảm thấy hơi nóng tỏa ra từ chính cơ thể mình. Cô nghĩ mình đã bị cúm hoặc nhiễm một loại virus nào đó, cô nằm dài trên giường chờ ngày lên. Qua cửa sổ, cô nhìn ánh đèn sáng lên trong các tòa nhà xung quanh và bầu trời dần chuyển từ đen sang xám. Khi đồng hồ báo thức đổ chuông, cô dậy pha trà. Và thế là, một mình trong bếp, cô thử cất lời. Như thể, bằng trực giác, cô đã hiểu chuyện gì xảy ra với mình. Không có âm thanh nào phát ra từ miệng cô. Trong phòng tắm, cô nhìn mình trong gương. Cô đánh răng. Cô kiểm tra bên trong vòm họng, sờ nắn những hạch bạch huyết ở cổ. Cố ho. Không có gì, thậm chí không một tiếng thì thầm. Cổ họng cô không bị viêm, hạch bạch huyết không sưng. Cô ở nhà cả ngày, không đi ra ngoài. Nhiều lần cô đã cố nói mà không thể phát ra âm thanh nào.

Sau vài ngày, mọi người trong gia đình cô lo lắng vì không có tin tức gì. Ai đó đã đưa cô tới bệnh viện, cô không nhớ là ai.

Cô ở đó sáu tháng. Khi ấy cô hai mươi lăm tuổi. Cô hết sức tránh nuốt những viên thuốc người ta đưa cho cô. Cô khép mình trong im lặng: hẳn là một miếng bông dày bị mắc kẹt trong họng cô và nó nở ra rồi bao phủ toàn bộ họng cô. Một chất liệu mềm mại và nén chặt bảo vệ nó.

Một hôm, cô nhận ra rằng cô không thể cứ thế câm lặng suốt cuộc đời. Rằng cô cần phải lội ngược chiều con đường này và lấy lại khả năng sử dụng lời nói. Rằng cô sẽ phải đối mặt với điều này. Trong suốt nhiều ngày, cô tập nói một mình vào ban đêm, trong chăn. Cô thì thầm, uốn lưỡi rì rầm những từ ngắn, hai tay bịt lấy miệng để không ai nghe thấy.

Xin chào.

Có ai đó không?

Vâng.

Tôi.

L.

Còn sống.

Có thể nói.

Hơi thở nóng hổi của cô trong đôi bàn tay cô. Những từ góp nhặt được, từng từ một, một cách hết sức nhẹ nhàng. Khi ấy, cô biết mình sẽ lấy lại được khả năng sử dụng lời nói và cô sẽ không bao giờ ngừng nói nữa. Cô phát âm những từ mới.

Lần đầu tiên cô nói rơi đúng vào thứ Ba. Cô y tá vào phòng với bữa ăn sáng. Mặt trời soi bóng những thanh cửa sổ lên bức tường cạnh giường cô. Người phụ nữ trẻ nói với cô bằng giọng điệu vui tươi mà người ta thường nghe thấy ở bệnh viện, phòng khám hoặc nhà dưỡng lão, bất cứ nơi nào mà những người khỏe mạnh chăm sóc cho những người đã giã từ vũ khí. Cô y tá đặt khay lên chiếc bàn có bánh xe.

L. nhìn cô y tá làm. Cô muốn nói gì đó. Ký ức về một bài thơ cô đã học bỗng nhiên trở lại với cô.

– Anh mơ đến em nhiều đến nỗi đôi cánh tay anh khi ôm bóng hình em vốn quen khoanh trước ngực có thể sẽ không uốn lượn được theo đường cong cơ thể em.

Thế là cô y tá dừng lại và nói với cô cũng bằng giọng như vậy: tuyệt vời quá, cô đã tìm lại được giọng nói của mình rồi. Cô những muốn mỉm cười với cô y tá, nhưng cô bắt đầu khóc. Không phải là tiếng khóc nức nở mà chỉ là những giọt nước mắt lặng lẽ, không chủ tâm, lăn trên má cô.

Jean đã chết, nhưng cô vẫn còn sống.

L. đã kể xong câu chuyện. Cô xúc động thấy rõ.

Cô đã trải qua sáu tháng của cuộc đời mình mà không nói một từ, trong một sự câm lặng tuyệt đối. Tôi cảm nhận được ký ức ấy còn đau đớn đến mức nào.

Tôi cho rằng chính vào lúc ấy ý tưởng đã nảy ra trong đầu tôi, lần đầu tiên.

Do câu chuyện này, lời tâm tình đầu tiên này. Khi xung quanh chúng ta liên tục có những người bị thương, tàn phế, kinh hoàng, những người phải chịu đau đớn, cuộc sống bị đảo lộn, lần đầu tiên, tôi nghĩ đến việc viết về L.

Đó là một dự án thực sự. Một cuộc phiêu lưu. Tôi cần phải tiến hành điều tra, và việc này sẽ không dễ dàng. L. sẽ không dễ dàng chia sẻ. Cô biết cách giữ bí mật của mình.

Nhưng đột nhiên mọi thứ sáng rõ. Mọi thứ đều có ý nghĩa. Cuộc gặp gỡ lạ lùng của chúng tôi, việc cô nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng trong cuộc đời tôi, và thậm chí là cả cú ngã cầu thang này nữa. Đột nhiên mọi thứ được sắp xếp đâu vào đấy, tìm ra lý do để tồn tại.

Đột nhiên, tôi chỉ còn nghĩ đến điều đó: một cuốn tiểu thuyết về L. Những gì tôi biết về cô. Những gì cô thích, những gì cô ghét. Cuộc sống của cô. Hiển nhiên là thế. Không thể tránh khỏi. Cô có lý. Giờ không còn là lúc tạo ra các nhân vật hoàn toàn hư cấu và khua khoắng tay chân họ trong khoảng trống, những con rối tội nghiệp đã cũ mòn. Đã đến lúc kể về cuộc sống thực. Và cuộc sống của cô có vẻ là một cuốn tiểu thuyết hơn là cuộc sống của tôi.

L. đã quay lại phòng chờ trong lúc tôi chụp phim. Các tấm phim chụp cho thấy một chỗ gãy không di lệch ở xương bàn chân thứ năm.

Một lát sau, tôi ra khỏi phòng cấp cứu, bàn chân được cố định bởi một thanh nẹp dài lên tận đầu gối.

L. đánh xe của cô lại gần lối ra. Chúng tôi đã từ chối dùng xe cứu thương mà đáng ra chúng tôi phải đợi ít nhất một giờ nữa.

Cô cẩn thận giúp tôi ngồi vào ghế trước. Chúng tôi dừng lại ở hiệu thuốc để mua thuốc giảm đau và nạng chống kiểu Anh theo chỉ dẫn của bệnh viện.

Theo các bác sĩ, tôi phải giữ nẹp trong ít nhất bốn tuần mà không được đặt bàn chân xuống đất.

Khi đã yên vị trong xe để đưa tôi về nhà, L. vẫn im lặng. Một lúc sau, cô lưu ý tôi rằng cuộc sống của tôi có thể sẽ thực sự phức tạp, với sáu tầng nhà không thang máy nếu không có François ở bên. Trước mắt, sẽ không dễ gì mà leo được lên trên đó, khi chỉ dựa vào một chân. Nhưng khi đã lên đến nơi rồi thì đừng nói đến chuyện trèo xuống nữa. Đối với tôi, người vốn không thể ở yên trong nhà cả ngày, điều đó có vẻ sẽ khó khăn.

Tôi không nhớ làm sao cô lại nảy ra ý tưởng đi Courseilles, nhưng tôi chắc chắn rằng ý tưởng đó là của cô, không phải của tôi. Đối với tôi, Courseilles trước hết là lãnh thổ của François. Ngay cả khi suốt những năm trước đó, anh không ngừng để tâm chú ý sao cho tôi thấy thoải mái khi ở đó (quả vậy, một căn phòng đặc biệt dễ chịu, ở tầng trệt, đã trở thành phòng làm việc của tôi), tôi tiếp tục cho rằng nơi này là của anh, nó rung động với năng lượng của chính anh. Tôi không bao giờ tới đó mà không có anh.

Đây hẳn là một trong những lý do tại sao khi tôi gọi điện để kể cho anh về vụ tai nạn và hỏi anh liệu tôi có thể đến Courseilles ở một thời gian không, khi đã hết lo lắng François ngay lập tức tỏ ra hào hứng. Đúng rồi, đó là một ý tưởng tuyệt vời, nhất là khi tôi không ở một mình. Ngôi nhà được thiết kế trên một mặt bằng và tôi có một nơi để làm việc. Thật không may là anh không thể quay về sớm hơn (anh đã đi với một nhóm bốn người, các chuyến bay, kế hoạch quay phim, các cuộc hẹn với các nhà văn đã được ấn định từ lâu), nhưng anh sẽ yên tâm hơn khi biết tôi ở đó với một cô bạn, thay vì ở nhà tôi một mình, ẩn dật trên tận tầng sáu. Vì tôi có chìa khóa, chúng tôi chỉ việc lên đường. Trong lúc nói chuyện, François nhiều lần hỏi về việc tôi bị ngã, lo lắng: làm sao tôi có thể làm thế với bản thân? Tôi nghĩ rằng tôi đã không làm bất cứ điều gì, không gì hết. Nhưng bây giờ tôi đã có một dự án. Một dự án tầm cỡ. Vì ý tưởng viết về L. đã không rời bỏ tôi. Và trong viễn cảnh này, cùng cô đi về vùng nông thôn, có cô trong tầm tay, khiến tôi vui mừng.

Khi cuộc trò chuyện sắp kết thúc, một lần nữa François hỏi tôi sẽ đi với ai, và khi tôi phát âm lần thứ hai tên của L., một khoảng im lặng ngắn diễn ra sau đó. Anh bảo tôi phải thận trọng, tôi cho rằng anh chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài quãng đường mà chúng tôi phải vượt qua và cái chân bất động của tôi.

Khi tôi cúp máy, L. thả tôi vào một quán cà phê dưới chân tòa nhà tôi để tôi được ấm một chút, trong khi cô chuẩn bị chuyến đi của chúng tôi. Cô đề xuất với tôi là chính cô sẽ lên căn hộ của tôi để lấy vài vật dụng. Tôi đồng ý. Tôi đã kiệt sức vì cú ngã của mình, những giờ phút nằm trong phòng cấp cứu ấy, cơn đau bắt đầu xuất hiện theo từng đợt. Tôi không đủ sức leo lên sáu tầng nhà.

Cô nói với tôi rằng cô sẽ tranh thủ tưới cây và giảm nhiệt độ hệ thống sưởi. Sau đó cô đi lấy đồ của mình ở khách sạn.

Tôi ngồi hơn một giờ trong quán cà phê, có lẽ lâu hơn một chút. Tôi bồn chồn. Tôi nhớ mình đã vài lần nhìn đồng hồ.

Và rồi tôi thấy xe của L. lại dừng trước cửa kính quán cà phê. Cô ra hiệu cho tôi rằng cô sẽ vào trong đón tôi.

Mọi thứ đã sẵn sàng. Chúng tôi lên đường ngay.

Cửa ngõ Paris khá đông xe. Khi chúng tôi chạy được khoảng 20 phút mà tôi không hỏi một câu nào, L. kể cho tôi nghe cô đã gặp chồng cô như thế nào, vào một tối ngành vận tải đình công, cả thành phố tê liệt. Trong đám kẹt xe, một người đàn ông tới gõ vào cửa kính xe cô. Theo phản xạ ngờ vực hơi phi lý, cô chốt cửa xe rồi tiến đến tận chỗ đèn đỏ. Người đàn ông quay lại ngang tầm cô, cô chợt nghĩ anh ta sẽ lại bắt đầu, nhưng cô thấy anh ta lên một chiếc xe khác. Rồi anh ta nở nụ cười mỉa mai và cô thấy xấu hổ vì phản ứng của mình. Đây hẳn là lý do tại sao, xa hơn một chút, cô đã chấp nhận cho một người khác đi quá giang. Cao hơn, già hơn những gì cô tưởng ban đầu. Anh ta luồn vào ghế cạnh cô, rồi anh ta quan sát cô. Cô ngay lập tức bị choáng vì mùi nước hoa của người đàn ông này, mùi thuốc lá và mùi da trộn lẫn với nhau. Họ chạy xe một lúc mà không nói gì. Sau đó, họ đậu xe ở một con phố nhỏ, họ cùng nhau lên một khách sạn ở Paris với những căn phòng gần như trống rỗng hoàn toàn. L. đã muốn Jean. Đúng vào giây phút anh ngồi lên xe của cô, đúng vào giây phút cô ngửi thấy mùi của anh. Cô biết, từ những giờ đầu tiên trong ngày, rằng cô sẽ ở bên anh. Bởi vì mọi thứ diễn ra trước đó đột nhiên dường như chưa từng tồn tại. Cô mười chín tuổi, anh hai mươi tám.

Cô dừng lại giữa câu chuyện của mình. Tôi nhớ rằng tôi đã cho cô biết đó là một cuộc gặp gỡ lãng mạn, đậm chất điện ảnh. Khi ấy, tôi chắc chắn rằng mình không nghĩ đến điều gì đặc biệt.

Trong khi chiếc xe lao đi trên quốc lộ và tôi trông chừng đồng hồ tốc độ dù không muốn, tôi tiếp tục hỏi cô. Lần đầu tiên, L. trả lời. Tôi biết được rằng cô đã sống với Jean sáu năm. Và rồi anh qua đời. Khi cô gặp anh, Jean là một nha sĩ. Anh cộng tác với hai bác sĩ khác mở một phòng khám. Vài tháng trước khi cưới, họ đã mua chung một căn hộ. Và rồi sau một hoặc hai năm, Jean đã thôi không còn làm nghề nữa. Anh đã học sáu hay bảy năm nhưng nghề nha sĩ không còn khiến anh hứng thú. Trong khi L. bắt đầu làm việc như một tác giả viết thuê, Jean làm chân chạy việc vặt rồi làm nhân viên pha chế. Anh nói đến việc mở một cửa hàng bán gia vị, hoặc một cửa hàng bán đồ cũ trong khu phố nhà họ. Và sau đó lại nói đến việc ra nước ngoài sống. Và sau đó thì không còn nói đến bất kỳ việc gì nữa. Dần dà, bên cạnh cô, Jean chìm vào một nỗi buồn câm lặng mà cô không lường hết được nguy cơ của nó.

Chúng tôi chạy xe chừng mười phút trong im lặng. Và rồi L. kể cho tôi nghe về cái chết của chồng cô. Tôi cho rằng cô chọn thời điểm đó bởi chúng tôi không thể đối diện với nhau được nữa. Tôi đã nhận ra điều tương tự với Louise và Paul khi chúng còn nhỏ, chúng nói với tôi khi chúng tôi đi bộ trên đường, khi chúng tôi ngồi cạnh nhau trên tàu điện ngầm, trên tàu hoặc trong lúc tôi nấu ăn. Suốt thời niên thiếu của chúng, những cuộc trao đổi căng thẳng nhất giữa chúng tôi đã diễn ra như vậy, khi chúng tôi ít nhiều bận rộn với một việc khác.

Đó là những gì tôi nghĩ đến, khi chúng tôi chạy chiếc N12 và L. bắt đầu câu chuyện mà cô luôn né tránh này: đó là vì chúng tôi đang không đối mặt với nhau, vì tôi chỉ có thể thấy khuôn mặt nhìn nghiêng của cô, chỉ khi ấy cô mới có thể kể tôi nghe về cái chết của chồng cô.

L. thích núi. Cách biệt, đối đầu với các yếu tố. Cô và Jean thường cùng nhau đến đó. Lâu nay, cô vẫn có dự định đi ở ẩn vài tuần giữa dãy núi Alpes, tách biệt với mọi thứ. Khi họ vừa kỷ niệm ba năm ngày cưới, cô đề nghị Jean đi cùng cô. Anh không muốn, cô nài nỉ. Cô nghĩ rằng việc đó có thể kéo anh ra khỏi tình trạng đờ đẫn của bản thân, rằng việc đó sẽ cho họ cơ hội tìm lại nhau. Cuối cùng anh đã chấp nhận. Jean miệt mài chuẩn bị, tự mình tìm kiếm xem phải mang theo những gì. Họ đã gom đủ để sống tự cung tự cấp hoàn toàn, quần áo, túi ngủ, bếp gas du lịch, đồ khô, đồ hộp các loại. Từ ngôi làng cuối cùng, phải đi bộ một ngày mới đến nơi ở ẩn. Jean muốn mang theo một khẩu súng trường phòng khi bị thú hoang tấn công. Một vị khách của quán bar đã cho anh mượn món vũ khí.

Họ lên núi vào một ngày trời trong đầy nắng. Căn nhà gỗ gồm một phòng lớn, có bếp và cửa sổ, và một phòng ngủ nhỏ không mở ra bên ngoài.

Khắp nơi xung quanh đều là tuyết. Và bầu không khí im lặng vốn chỉ bị phá vỡ bởi những tiếng động mà họ đã dần học được cách nhận biết. Họ chỉ có một mình, cách xa mọi thứ. Thời gian kéo dài, chẳng còn giống với bất cứ thứ gì họ từng biết.

Sau một tuần, Jean muốn trở về. Anh cảm thấy không khỏe, ngột ngạt. Anh cần thấy lại thành phố, tiếng xe cộ, tiếng còi xe, những giọng nói. Nhưng L. không muốn từ bỏ chút nào. Họ đã hứa với nhau sẽ ở lại chừng nào còn thực phẩm. Cô muốn tiếp tục trải nghiệm đến cùng.

Jean muốn đi. Cô bảo anh cứ xuống núi mà không có cô, cô đã thử thách lòng trung thành của anh. Cô đã phê phán hơi có phần chua chát (vào thời điểm L. nói đến chi tiết này, giọng cô bắt đầu run run), cô không chắc lắm về những lời lẽ mình đã dùng, nhưng từ ngữ thì nặng nề, và cô đã trách móc anh, một lần nữa, vì anh lẩn tránh.

Jean đã ở lại.

Mỗi ngày, họ ra ngoài đi dạo với những chiếc vợt. Họ đọc rất nhiều. Họ không còn làm tình nữa. Vào buổi tối, họ cùng ngủ thiếp đi, kiệt sức vì lạnh. Dù có bếp lò nhưng họ vẫn phải chống chọi với cái lạnh trong từng khoảnh khắc. Một cuộc chống chọi khiến thời gian như dài ra. Cuối cùng cô đã quên mất rằng Jean cảm thấy không khỏe, bởi vì Jean không có vẻ yếu lắm.

Một tối, anh thậm chí còn bảo mình thấy hạnh phúc.

Trong vài ngày, cơn bão dữ dội đến mức họ không thể ra ngoài được. Họ ở lại trong nhà, lớp hơi nước bám trên cửa kính ngày càng dày. Trong vài ngày, họ không nghe thấy gì ngoài tiếng gió rít và âm thanh giọng nói của chính họ. Khi đó, một ý tưởng khủng khiếp đã xuất hiện trong đầu cô và không rời cô nữa. Người đàn ông cô từng yêu này, cô không còn yêu anh nữa.

Ngày thứ tư, khi cơn bão cuối cùng đã dịu xuống, L. ra ngoài hít thở không khí trong lành. Cô để lại Jean trong căn nhà gỗ, co quắp dưới những tấm chăn. Khi cô một mình đi về phía rừng thì bỗng nhiên, sau lưng cô, một tiếng nổ vang lên. Tiếng súng vang lên trong im lặng và thế rồi, vài giây sau, không còn gì cả. Không một tiếng vọng lại. Cô tự hỏi liệu có phải mình mơ không.

Trở lại nơi ở ẩn, cô phát hiện ra thi thể của Jean. Đó không hẳn là Jean nữa vì thiếu mất đầu anh. Đầu anh đã bị bứt ra và máu ở khắp mọi nơi. L. nhìn xuống chân rồi lùi lại khi nhận ra mình giẫm vào một mảnh sọ của chồng. Tóc đen dính máu.

Cô hét lên nhưng không ai nghe thấy cô.

L. kết thúc câu chuyện của mình và tôi không thể cất lời trong suốt nhiều phút. Tôi muốn tìm ra những lời chia sẻ, an ủi, xứng tầm với chuyện cô vừa thổ lộ với tôi. Nhưng không gì có thể khiến tôi thấy phù hợp. Cuối cùng tôi nói:

– Hẳn cậu đã rất đau đớn.

L. mỉm cười với tôi.

– Cách đây lâu lắm rồi.

Chúng tôi lái xe trong im lặng, màn đêm buông xuống.

Khi chúng tôi đến nơi, tôi để L. xuống xe ra mở cổng. Trong ánh đèn pha, tôi quan sát cô khi cô kéo từng cánh cửa, với một cử chỉ mạnh mẽ, đầy sức sống, chính cô là người giữ chìa khóa, tôi nghĩ, một câu chợt xuất hiện từ sâu trong ý thức tôi hoặc từ một tiểu thuyết trinh thám, mà tôi không phải không nhận ra nghĩa bóng của nó. Khi mở xong cổng, cô quay về phía tôi, vẻ đắc thắng, mái tóc cô được ánh đèn chiếu vào tạo thành một vầng hào quang lấp lánh quanh khuôn mặt. Và rồi cô trở lại xe.

L. lại cầm lái đưa xe vào đậu trước nhà và lưu ý tôi rằng khu vườn là một bãi mìn. Quả vậy, ở nhiều chỗ thuộc phần vườn chạy dọc theo đường phố, người ta đã cho đào những hố sâu để lắp đặt hệ thống thoát nước. Việc sửa chữa được tiến hành trong phạm vi cả làng, ở chỗ này hay chỗ kia, những rào chắn màu đỏ và trắng cho thấy sự hiện diện của công trường.

L. mở cửa vào nhà rồi đặt hành lý của tôi và của cô vào trong. Tôi đưa cô đi thăm tầng trệt nhưng để mặc cô lên lầu, tôi dùng nạng chưa đủ khéo để đi theo cô.

Chúng tôi quyết định ở trong hai phòng ngủ dành cho khách ở tầng dưới. Cầu thang dẫn đến căn phòng nơi tôi thường ngủ với François dường như quá nguy hiểm với tôi.

Trong tủ đựng thực phẩm, chúng tôi tìm thấy những viên xúp và mì ống. Tôi đi ngủ ngay sau bữa tối, cảm thấy kiệt sức.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 1 năm 2026