Vào một ngày nghỉ họa hoằn lắm mới có được, tôi bắt đầu dọn dẹp phòng mình vì không chịu đựng nổi sự bẩn thỉu khủng khiếp của nó nữa. Dọn dẹp cũng tốt thôi, nhưng đang lau dọn giữa chừng, tôi đâm ra hăng hái quá đà và đánh rơi chiếc đồng hồ treo tường xuống mặt sàn.
Tôi luống cuống nhặt nó lên nhưng mấy cây kim đã đứng lại. Tôi tưởng do pin bị lỏng nên đã tháo ra lắp lại cẩn thận, vậy mà chúng vẫn chẳng buồn nhúc nhích. Hình như chiếc đồng hồ đã hỏng vì cú rơi vừa rồi. Tiền nào của nấy, thôi đành vậy.
Tôi đang tính sẽ sống tiếp những ngày tháng không có đồng hồ treo tường, nhưng rồi sực nhớ ra hiệu đồng hồ Mitani. Chắc mình nên đến đó sắm một cái mới, nghĩ bụng, tôi rời khỏi căn hộ của mình.
Bầu trời tháng Mười hai xanh lơ, nắng chan hòa. Tôi rảo bước trong tâm trạng khoan khoái dù chẳng có lý do nào đặc biệt.
Tôi băng qua cây cầu Kosen của ga Koikawa rồi bước ra từ cửa phía Đông và tiến vào khu phố mua sắm Koikawa bằng lối nằm giữa ngân hàng tín dụng cùng một tiệm pachinko. Chen giữa một hiệu ảnh và cửa hàng bán thịt là cửa hiệu đồng hồ nhỏ nhắn có tên “hiệu đồng hồ Mitani” với mặt tiền chỉ khoảng một gian rưỡi. Đó là cửa hàng cổ kính có mặt tường gỗ đã trải nhiều sương gió.
Tôi đẩy cửa bước vào, chuông cửa kêu leng keng.
“Ô kìa, chào mừng quý khách.”
Một cô gái trẻ trong bộ đồ làm việc tại quầy sửa chữa ở phía bên kia quầy thu ngân xoay người lại và nở nụ cười tươi rói. Đó là chủ tiệm Mitani Tokino.
Bình thường trong tay cô ấy luôn có một chiếc tuốc nơ vít chuyên dùng để sửa đồng hồ, nhưng hôm nay Tokino lại cầm một mảnh vải. Tôi thấy phía trên quầy làm việc không có đồng hồ mà là một vật trông như chiếc hộp gỗ lớn. Mặt đáy rất giống đáy của cái trụ hình thang. Xem ra cô ấy đang lau chùi nó bằng mảnh vải kia. Rốt cuộc nó là gì vậy nhỉ?
“Chào cô. Hôm nay tôi đến để mua đồng hồ.”
“Cảm ơn quý khách.”
Tokino cúi đầu. Tôi đã chọn một chiếc đồng hồ treo tường theo lời tư vấn của cô ấy. Đây là lần đầu tiên tôi mua hàng ở hiệu đồng hồ này. Tính đến nay, tôi đã ghé vào đây bốn lần, nhưng lần nào cũng là để nhờ người ta phá giải hoặc tìm chứng cứ ngoại phạm.
Trong lúc Tokino lo gói ghém chiếc đồng hồ, tôi ngắm nghía chiếc hộp treo phía trên quầy làm việc khiến mình để ý nãy giờ. Có vẻ Tokino đã nhận ra điều đó nên vừa tủm tỉm cười vừa nói.
“Hồi tôi học lớp bốn, ông nội đã làm nó cho tôi đấy. Ông đã mua một tấm gỗ, cưa nó ra và đóng đinh để ráp các bộ phận với nhau.”
“Nó là cái gì thế?”
“Tôi cũng lấy làm lạ nên đã hỏi ông, và rồi ông bảo rằng “đây chính là công cụ điều khiển thời gian”.”
“Công cụ điều khiển thời gian ư?”
Tức là đồng hồ chứ gì? Nếu lắp một cái máy đồng hồ vào bên trong, sau đó tiện tròn một mặt của cái hộp rồi gắn thêm kim giờ, kim phút và mặt số vào là thành một cái đồng hồ rồi.
À không, gọi “công cụ điều khiển thời gian” là đồng hồ thì lạ lùng quá. Bởi lẽ đồng hồ đâu có điều khiển được thời gian, nó đo đạc thời gian đấy chứ. Vả lại cái hộp không được lắp bộ máy nào giống như đồng hồ cả, nên chắc chắn nó chẳng thể nào là đồng hồ đúng nghĩa được.
Trong lúc tôi mải chìm trong suy tư, Tokino đã gói ghém xong xuôi. Tôi vừa trả tiền và nhận lấy chiếc đồng hồ thì cô ấy lên tiếng.
“Nếu quý khách không phiền thì hãy ở lại dùng một tách trà đã nhé?”
“Cô không bận việc sao?”
“Hôm nay tiệm chúng tôi hầu như không có khách, lại vừa đúng lúc tôi muốn uống trà.”
“Vậy xin theo ý cô.”
Tokino vào trong buồng, sau đó bưng ra một cái khay đựng bộ ấm tách. Cô ấy đặt một chiếc tách xuống trước mặt tôi. Một mùi thơm khó tả phả ra từ thứ chất lỏng màu lục nhạt thật đẹp mắt bên trong tách trà. Tôi mời cô ấy rồi đưa tách trà lên miệng, hương vị tinh tế và êm dịu lan tỏa trên đầu lưỡi. Cô ấy vẫn đãi tôi bằng loại trà ngon như mọi lần. Tôi cùng Tokino ngồi thu mình bên quầy và thưởng trà.
Thực sự tôi rất có hứng thú với cái “công cụ điều khiển thời gian” kia, nhưng vẫn còn một thắc mắc khác mà tôi muốn hỏi cho bằng được, một điều mà tôi muốn biết từ lâu lắm rồi.
“Cô đã học được cách phá chứng cứ ngoại phạm từ ông mình như thế nào vậy?”
Mặc dù chỉ nói là “phá chứng cứ ngoại phạm” thôi, nhưng tôi đang ám chỉ cái phương pháp luyện tập khả năng suy luận vượt xa các điều tra viên của Ban điều tra.
“Đại khái là ông nội tôi đã đưa ra các câu hỏi liên quan đến chứng cứ ngoại phạm, tương tự như giải câu đố vậy. Hễ tôi giải được một câu, ông sẽ dạy tôi những điểm cốt lõi và cách tư duy cần thiết khi phá chứng cứ ngoại phạm. Đôi khi ông còn biểu diễn các câu đố ấy nữa.”
“Là sao cơ?”
“Tức là ông sẽ thực hành các mánh khóe tạo chứng cứ ngoại phạm cho tôi xem. Dĩ nhiên không phạm tội thật rồi, nhưng ông đã cho tôi thấy chúng hoàn toàn khả thi.”
Theo một nghĩa nào đó, đây quả là một kiểu đào tạo nhân tài.
“Cha mẹ cô không có ý kiến gì sao?”
Tôi có cảm giác họ sẽ than vãn và yêu cầu ông ấy chấm dứt lối giáo dục kỳ quặc ấy.
“Cha mẹ tôi mất từ hồi tôi còn học mẫu giáo.”
“Vậy à...”
“Cha tôi ghét công việc của tiệm lắm, cha đã quyết định từ sớm rằng mình sẽ không kế nghiệp gia đình và làm việc cho một công ty thương mại. Không chỉ vậy, cha còn sống ở tận Tokyo. Vào tối hôm cha mẹ để nhà trẻ giữ tôi lại qua đêm, theo diện mẫu giáo lớn, họ đã gặp phải tai nạn giao thông... Ngoài ông nội, tôi chẳng còn họ hàng nào khác, thế nên ông nội như thể một người cha đối với tôi vậy.”
“Tôi xin lỗi vì đã khiến cô nhớ lại chuyện không vui.”
Tokino cười và bảo tôi đừng bận tâm đến chuyện ấy.
Nghe nói ông nội Tokino là một người khá cố chấp trong công việc, nhưng lại rất chiều chuộng cô bé. Tokino từng sống ở một khu chung cư cao tầng, thế nên đối với cô, căn buồng lọt thỏm trên tầng hai của cửa tiệm đồng hồ mang tới một cảm giác rất mới mẻ. Cô thường ngồi trong góc tiệm, vừa chơi đùa vừa ngắm nhìn ông mình sửa đồng hồ. Cô bé cũng được những người trong khu phố mua sắm rất cưng chiều, thế nên chẳng bao giờ buồn chán.
Dần dần Tokino trở nên hứng thú với công việc sửa chữa đồng hồ và đã xin ông nội dạy mình. Ông ấy miễn cưỡng từ chối rằng “đây là một công việc đòi hỏi tính kiên nhẫn...” Nhưng khi thấy Tokino nhiều lần nài nỉ, cuối cùng ông cũng chịu truyền nghề cho cô bé với một vẻ rạng rỡ trên nét mặt.
Tokino đã để tâm đến những tờ giấy dán trong cửa tiệm. Rồi đến khi biết đọc, cô bé hiểu ra chữ đề trên những tờ giấy kia có nghĩa là “nhận phá chứng cứ ngoại phạm” và “nhận tìm chứng cứ ngoại phạm”. “Nhận” tức là “tôi sẽ làm việc này” nói theo cách lịch sự. Cô bé biết hiệu đồng hồ thì phải sửa đồng hồ, nhưng phá chứng cứ ngoại phạm là thế nào thì chịu.
Tokino hiểu từ “chứng cứ ngoại phạm”. Cô bé đã nghe thấy từ này nhiều lần trong các chương trình phim hoạt hình trinh thám. Tức là khi xảy ra một vụ án, hung thủ có mặt ở một nơi không phải hiện trường. Những nhân vật xuất hiện trong phim thường nói rằng: “Tôi có chứng cứ ngoại phạm đấy nhé.” Và phá chứng cứ ngoại phạm tức là phải nhìn thấu mánh khóe mà hung thủ sử dụng để khiến người khác tưởng rằng mình không có mặt tại hiện trường gây án, mặc dù đúng thực là như vậy.
Nhưng trong tiệm dán tờ giấy đề chữ “nhận phá chứng cứ ngoại phạm” là thế nào nhỉ? Tokino đã đem thắc mắc đó đi hỏi ông của mình. Ông nội cô mỉm cười và đáp rằng: “Ông biết phá chứng cứ ngoại phạm đấy.”
“Ơ? Sao ông lại phá chứng cứ ngoại phạm. Ông là thám tử ư? Hay cảnh sát hả ông?”
Ông mỉm cười.
“Không, ông chẳng là ai trong số ấy cả.”
Thế rồi, ông giải thích rằng phá chứng cứ ngoại phạm là công việc mà hiệu đồng hồ có thể hiểu được tường tận nhất.
“Này nhé, nhân vật nào nói rằng mình có chứng cứ ngoại phạm trong phim hoạt hình trinh thám đều vừa nhìn đồng hồ vừa bảo mình đã làm gì ở đâu, lúc mấy giờ mấy phút phải không nào? Đồng hồ luôn xuất hiện trong những cảnh ấy. Thế thì chẳng phải thợ sửa đồng hồ chính là người nắm rõ nhất cách phá chứng cứ ngoại phạm hay sao?”
“Vâng, nhưng cứ là lạ thế nào ấy ông ạ.”
“Ha ha, cháu nói đúng. Nhưng vẫn có người nhờ ông phá chứng cứ ngoại phạm thật đấy nhé.”
“Chẳng hạn như ai ạ?”
“Kìa, tiệm nhà ta có một vị khách mặt mày lúc nào cũng khó đăm đăm còn gì.”
Cô bé Tokino nhớ lại thi thoảng vẫn có một ông khách luôn cau mày ghé vào tiệm và trao đổi gì đó với ông. Cô bé vẫn thường lấy làm lạ vì ông khách ấy chẳng đến mua đồng hồ cũng không yêu cầu sửa chữa hay thay pin. Thì ra đó chính là ông khách yêu cầu phá chứng cứ ngoại phạm.
Đến đây tôi buột miệng chen ngang.
“Xin hỏi, vị khách ấy có phải là cảnh sát không?”
Nếu quả là vậy thì hẳn đó là người đàn anh của tôi ở phòng điều tra rồi.
“Vâng, người đó là một cảnh sát. Sau đó, lâu lâu lại có những nhà văn viết truyện trinh thám tìm đến tiệm chúng tôi. Biên tập viên của người đó phê rằng mánh khóe tạo chứng cứ ngoại phạm trong truyện vẫn có sơ hở, nhưng hạn nộp bản thảo đã cận kề mà vị khách này chẳng có cách nào lấp được sơ hở ấy. Thế nên người đó tới hỏi xem ông tôi có cách nào để xử lý hay gỡ rối được không. Sau khi được ông tôi mách nước, vị này đã ra về với một vẻ mặt rất rạng rỡ.”
Nhà văn viết truyện trinh thám? Ai thế nhỉ?
Khi Tokino nói muốn thử phá chứng cứ ngoại phạm và vòi vĩnh ông nội để mình phụ việc, ban đầu ông ấy cũng ngần ngại như lần đầu cô bé đòi học sửa đồng hồ nhưng rồi gật đầu ngay. Đó là những câu đố đơn giản về chứng cứ ngoại phạm mà những học sinh lớp bé của bậc tiểu học cũng giải được.
“Ông ấy đã đưa ra những câu đố thế nào?” Tôi hỏi.
“Nhiều lắm, loại nào cũng có…”
Nói đến đây, Tokino bắt đầu khúc khích cười.
“Đúng rồi, có những mánh khóe ngụy tạo chứng cứ buồn cười lắm. Để tôi kể cho quý khách nghe nhé?”
“Tôi cầu còn chẳng được ấy chứ.”
Thấy tôi nói vậy, Tokino khúc khích cười rồi rót thêm trà vào tách của tôi, sau đó trở lại quầy đối diện và bắt đầu câu chuyện.