Ông phán Liễn về nhà và đã leo lên tầng gác thứ ba ngồi yên được mười lăm phút rồi mà dân hàng xóm vẫn còn nhức tai vì tiếng động cơ và ngạt mũi vì mùi xăng của cái xe “tubin” mà bác tài vụng loay hoay mãi chưa cho vào lọt cái cổng sân quá hẹp.
Dân hàng xóm vừa thoát nạn ấy, lại đến lượt gia bộc chịu cái nạn nghe ông phán hắt hơi váng nhà, khi ấy bọn đầy tớ phải tranh nhau đi đóng hết các cửa trong nhà lại và xoa dầu cho ông. Còn thằng nhỏ thân tín nhất ông quen gọi là thằng bồi tiêm thì phải nhịn thở mà cởi giầy, bít tất, rồi vội vàng đi đốt bàn đèn thuốc phiện và tiêm cấp tốc luôn vài chục điếu to cho ông đỡ hắt hơi.
Ông đã hút được nhiều, nhưng thực tình hút thuốc hôm nay ông chẳng thấy gì là ngon. Ông nuốt khói, cầm một chùm nho tươi giơ lên miệng cắn một quả rồi lại ném vào chiếc đĩa bạc, ông vắt tay lên trán có vẻ ngao ngán lắm. Bỗng sực nhớ ra hai việc rất hệ trọng, ông vùng dậy thò đầu ra cửa sổ, giọng yếu khàn, dặn bác tài rửa kỹ xe và bảo thằng nhỏ lên lấy đôi giầy tây đầy bùn của ông xuống đánh kem.
Nghĩ đến xe, ông sực nghĩ đến thông Năng, vì ông mua lại chiếc xe ấy của ông thông bằng “giá bạn” là ngót hai trăm bạc. Lẽ ra ông cũng chẳng thiết mua chiếc xe cũ kỹ ấy làm gì, động chạy là kêu ầm phố, và mỗi lần qua Sở Cẩm là các quan đội sếp phải trợn mắt nhìn, ngượng chết người đi được, chỉ tại ông nể người vợ yêu của ông nài ép mãi, và bác thông nói khéo quá, nên ngày nay vợ chết rồi mà ông còn đeo đẳng hoài cái của nợ này! Bây giờ tuần lễ một lần, ông chỉ dùng nó để chở ông và một bó hoa xuống nghĩa địa mà thôi.
Ông thở dài não nuột, ân hận rằng ban nãy đãng trí quá đến nỗi quên không cho đày tớ cầm thư sang rủ bác thông đi viếng mộ Thu. Bác thông thể nào mai cũng cho đưa thư sang trách. Ông phán bực bội lắm, những muốn mua hoa lần nữa để rủ người bạn trung thành kia xuống nghĩa trang cho ra con người biết giữ chữ “tín”. Song ông cảm thấy mệt lắm rồi, đành ngày mai xin lỗi bạn vậy.
Càng nghĩ đến bác thông, ông phán càng nhận thấy ở bác thông nhiều cái khả ái, khả tín mà ở dời này ông không tìm thấy người bạn thứ hai nào nữa. Ông vén quần lên vỗ vào đùi: “Thật là trời ban cho ta người tri kỷ ấy!”
Ba việc này làm cho ông phán nhớ lâu, có lẽ nhớ trọn đời:
1. Khi Thu ốm, bác thông đến thăm luôn, gió mưa cũng đến. Khi thì biếu yến, khi thì biếu sâm, biếu nhung, biếu quế. Tiền đốc tờ, tiền thuốc, bác thông chịu cả.
2. Thu chết, bác thông khóc rất nhiều.
3. Đã mấy lần, ông xuống mộ đều bắt gặp bác thông đã mang hoa xuống đứng ở mồ Thu, đang lau nước mắt.
Như vậy thì bảo rằng không “trần ai tri kỷ” làm sao!
* * *
Trưa hôm nay, ông phán ở sở về, ăn cơm xong, vừa nằm bên khay đèn hút chậm chạp vừa nghe ngóng người gõ cửa: Ông có nhã ý đợi bạn thiết đến trách ông về cái việc sơ xuất hôm qua. Vậy mà ông bạn thiết kia chưa đến. Bát dứa Phú Thọ hãm đá, ông phán thành tâm chờ ông thông Năng tới mới dùng, đá tan gần hết rồi ông thông vẫn chửa đến cho. Nóng ruột và nhạt miệng, ông phán thỉnh thoảng nhìn ra cầu thang, không thấy gì buồn tay cầm cái dĩa bạc xóc một miếng đưa lên miệng nếm và khen ầm lên với thằng bồi tiêm rằng ngon lắm. Thằng này đưa mắt liếc vào bát dứa và “dạ” một tiếng rất khô khan.
Tiêm đúng số điếu đủ dùng của ông phán rồi, tên bồi tiêm được xuống dưới nhà, còn ông phán thì nằm duỗi thẳng chân tay như cái xác chết, lơ mơ ngủ. Nhưng lúc ấy không phải là lúc ông dễ ngủ. Ông đang hé mắt nhìn lên bức ảnh Thu, người vợ trẻ đẹp của ông treo trên tường, bên trên lò sưởi. Ông nhìn như thế cho đến khi đôi mắt mỏi rồi ngủ thiếp đi.
Buổi trưa nay, càng nhìn ảnh nàng ông càng thấy dường như nàng hiện thành hình mà bước hẳn ra ngoài. Dáng điệu nàng uyển chuyển như một cành cây mềm đu trong gió, mắt nàng sáng như hai bóng sao trời rớt xuống mặt hồ trong.
(Ông phán nhớ phảng phất những câu văn này ông đã đọc trong một cuốn tiểu thuyết tình cờ ông nhặt được bên khay đèn chị em dưới xóm, và ông muốn dùng nó để tả Thu của ông lúc bấy giờ)
Thu bỗng bước ra ngoài thực và đi như lớp sương lam đến chỗ sập ông nằm, hôn ông một cái vào trán, đoạn nàng tới tủ áo của nàng. Nàng mở tủ lấy ra chiếc hộp trong đó đựng từng bó thư, xem qua một lượt rồi đốt cháy...
Lửa bốc lên đỏ rực...
Ông phán bừng mở mắt, vùng ngồi lên, hoảng hốt giụi mắt, để tay nén ngực, ngơ ngác nhìn quanh phòng rồi tự hỏi: “Rõ ràng mình vừa thấy cháy, lửa bốc rất to cơ mà?”.
Sau bình tĩnh trở lại, ông phán dần dần nhớ ra giấc mơ ban nãy. Ông nhìn lên ảnh Thu. Khuôn mặt tươi đẹp của nàng nhìn xuống ông, mỉm cười.
Ông khoái trá vỗ đùi đánh đét: “A ha! Hương thừa nhường hãy ra vào đâu đây! Thật là một giấc mơ tiên, trời ạ”. Ông toan tìm quyển “Kiều” để bói chơi. Nhưng quyển “Kiều” đi đằng nào mất, ông tìm mãi.Đang khi ấy thì ở trong tủ áo của Thu tự nhiên có tiếng chuột cắn nhau. Ông rờn rợn nghĩ ngay đến lúc nãy, trong giấc mơ, Thu lừng lững đi đến mở tủ rồi lấy hộp thư ra đốt, thành ra đám cháy làm tan mất giấc mộng đẹp đang nồng...
- Hoặc là trong đó có cái gì bí mật chăng?
Ông phán hơi ngờ như thế. Sau khi lấy Thu được nửa tháng ông mua cho Thu cái tủ ấy để đựng áo quần phấn sáp. Và từ khi mua tủ thì chìa khóa Thu giữ riêng, ông không mó đến mà cũng không bao giờ lưu ý tới.
Ông ngồi lên, đến trước tủ quả quyết mở ra. Tự nhiên ông thấy bàn tay hơi run như có người giữ lại.Ông càng tin trong đó có cái gì bí mật của người chết, ông kéo mạnh cánh cửa tủ và lục lọi. Quả nhiên có một chiếc hộp đựng những tập thư đủ các màu, y như trong mộng. Từng tập một xếp riêng. Một tập, ngoài buộc sợi băng, trên viết: Thư của anh Năng yêu quí.
Ông phán hoảng lên, tay run bần bật, dứt sợi băng, giở ra xem. Toàn là thư của thông Năng gửi cho vợ ông. Ông chỉ đủ nghị lực đọc bức thư xếp trên đầu tập.
Thu rất yêu của anh,
Khổ quá! Mình trách thì anh xin chịu muôn vàn tội lỗi. Để mình đi một mình vào xem hội chợ Huế mà anh không đi cùng được, ấy chỉ vì thằng sếp này nó ác lắm, không xin được phép. Thôi thì mình vui vẻ mà đi vậy, nhớ chụp ảnh rõ nhiều để tặng anh dán album gối đầu giường. Mai kia, - ngày đó còn có bao xa nữa! - lão già nghiện ấy chết đi, thì chúng mình sẽ vui một tổ, tha hồ đi chơi. Điều này, há chẳng phải Thu đã bao nhiêu lần mong ước đó ư? Bây giờ, chúng ta cầu trời, cầu phật nữa đi. Anh tin rằng lời kêu cầu đó sẽ linh ứng, vì lão già keo kiệt cứ đeo đẳng mãi cái xe ô tô nát thì thể nào cũng đâm xuống ruộng, xuống sông.
Mai nói dối lão già để đến ăn cơm tối với anh. Có món thỏ xốt vang ngon lắm.
Người tình chung thủy của em
Năng
Ông phán điên lên, muốn giết ngay thằng phản bạn, ông hằn học nhìn ảnh người đàn bà đã phản ông.
Ông chỉ muốn vác ba toong đập nát cái mặt đẹp nõn nà kia ra, một khi người đàn bà trong trắng của ông đã ngoại tình, đã cắm vào đầu ông một cặp sừng vĩ đại.
Ông lấy can đảm đọc thêm bức nữa. Tức thì ông ngã ngửa vì được hiểu rõ nguyên nhân sự bị mọc sừng. Thảm hại! Chỉ tại ông nghiện ngập thành lười nhác quá, ít săn sóc đến Thu - trong thư, Thu kể cho thông Năng nghe thế. Có những đêm mưa gió rét chết người, Thu nằm không ngủ được, bò lên gác với bộ quần áo ngủ bằng lụa rất mỏng, rất tình, nằm đợi ông xong cuộc hút để xuống ngủ cho nó ấm, nhưng ông thì mặt cứ lạnh như tiền, hút cho nhũn người rồi nằm duỗi thẳng chân tay, mắt trợn lòng trắng, miệng há ra mà ngáy lúc nào không biết.
Như thế thì cho mọc sừng là đáng kiếp, là ý Trời chứ không phải ý nàng.
Nhưng ông có biết vậy đâu. Ông chua xót lấy làm lạ rằng tại sao giàu có như ông lại có thể bị một người dàn bà phản bội để đi yêu một thằng bạn chồng kiết xác, chỉ được cái khỏe như vâm và nói giỏi. Ông lấy làm lạ lắm và trỏ vào ảnh Thu, ông nguyền rủa mãi lòng dạ của đàn bà.
Ngảnh lại thấy ảnh thông Năng để trên lò sưởi, ông vớ lấy ném vào góc tường, rồi ông vớ tất cả những bức thư kia bỏ vào trong tủ dùng làm tang chứng, để ném vào mặt thằng phản bạn.
Thằng xe lên bẩm đến giờ đến sở. Thằng bồi tiêm vội hầu ông dăm điếu nữa. Ông ngồi lên đeo cavát vào cổ, bấm khuy bấm trong khi ấy thằng bồi tiêm quì dưới sàn nhịn thở để xỏ tất và xỏ giầy cho ông.
* * *
Trong suốt một tuần lễ, ông phán chờ mãi mà ông thông Năng không đến. Ngày chủ nhật, ông phán chán ngán chẳng buồn bảo đày tớ mua hoa để xuống nghĩa trang. Ông còn tiếc tiền mua xăng đổ vào cái xe ô tô cà khổ để đi thăm mộ vợ, và thấy rằng những bó hoa hằng tuần ông kính cẩn đặt lên mồ người đàn bà hồng nhan ấy là vô nghĩa lý, là một sự mai mỉa cho ông.
Nhưng rồi... một chiều thu ông mở tủ lấy chiếc áo len của Thu đan cho ông mùa đông năm ngoái để mặc cho khỏi siễn. Mùi băng phiến dễ gây mùi nhớ tiếc... ông phán bùi ngùi nghĩ đến dáng điệu Thu lúc ngồi bên cửa sổ, cạnh chiếc hỏa lò than hơ tay đan chiếc áo này cho ông. Ông ra đứng ngoài thềm, và ông bỗng quên những con số nợ, số lãi chưa thu về để cảm khái ngâm một bài thơ vịnh “Thu” mà ông không nhớ đã đọc ở một tờ báo nào, ở đâu. Ngâm hết bài thơ ấy, ông thấy lòng buồn vô cùng, tưởng rằng nỗi buồn của người sắp chui đầu vào sợi dây thừng cũng đến vậy mà thôi.
Thu về! Người ấy chiều nay đã biết lạnh thịt da và thấy lạnh cả tâm hồn. Đó là sự báo hiệu của tình yêu. Nhưng hỡi người chồng già bị mọc sừng, bây giờ người mới được biết bổn phận của kẻ làm chiến sĩ thì chậm quá mất rồi.
Tự nhiên, cơn gió lạnh làm cho ông giác ngộ. Nghĩ đến cái rét của mình buổi hôm nay, ông lại thương Thu đã chịu bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng rét trong bao nhiêu năm trời với một mối dục tình bồng bột ở lòng xuân ông không biết đến mà nàng cũng không được ai giơ hai cánh tay ấm áp đỡ lấy nàng.
- Ấy, đúng như thế đấy! Chỉ tại mình để Thu ham muốn quá. Thằng thông Năng thì suy ra, chắc đâu lỗi hoàn toàn về nó cả! Một trăm cuộc thông dâm, tội lỗi đều do người đàn bà gây nên. Người đàn bà nếu không bằng lòng thì người đàn ông không thể làm gì được.
Ông lặng đi một lúc, và khi ông đã chịu rằng lý luận của ông đứng vững rồi, ông rầu mặt lại nhìn lên trời mà kêu:
- Phật Tổ ơi! Nếu vậy thì vợ tôi thành thực ngoại tình để cấy sừng lên đầu một người chồng đứng đắn và khuôn mẫu như kẻ khốn nạn này ru?
* * *
Lòng giận vợ và căm bạn đã nguôi nguôi, ông phán lại bắt đầu sống cuộc đời bình tĩnh, đều đặn như cái đồng hồ.
Hôm nay, ông truyền cho thằng bếp phải làm cỗ thực long trọng để cúng một trăm ngày vợ ông.
Chiếc xe ô tô lại có dịp làm khổ tai, khổ mũi dân hàng xóm để lách qua cái cổng hẹp ra đường và rồi để chở ông và một bó hoa đi nghĩa địa.
Xuống đến mồ Thu, ông lại hoảng lên vì đã thấy một bó hoa rất tươi đặt đó rồi. Ông biết đích là hoa của thông Năng. Ông động lòng thương bạn, và nhận ra rằng bạn ông cũng đau khổ như ông.
Về đến nửa đường thì gặp Năng ngồi trên chiếc xe tay ngoại ô đang lạch bạch chạy bên đường, ông phán vội thét bác tài hãm xe vì tiếng động cơ kêu dữ lắm.
Chiếc xe phải khó nhọc mới đứng lại được, ông phán nhảy xuống đất. Thông Năng reo lên, vô tình như một anh chàng vô tội. Ông phán nắm vai Năng, nhìn vào mắt Năng, lông mày hơi cau lại. Lòng ông thoảng có một cơn gió lốc xoáy lên. Nhưng cơn gió ấy tan ngay khi cái lý luận mà ông tìm thấy hôm đứng ngâm bài thơ “Thu”, lúc này, lại sống lại ở trong đầu. Ông lắc hai vai Năng, như xưa ông vẫn làm thế mỗi lần rủ nhau đi hát:
- Sao? lâu nay không đến làm vài điếu chơi? Hay là chỗ anh em, tôi đã có điều gì không phải với bác chăng? Này, lên xe ô tô nhân thể, về đằng tôi đánh chén. Hôm nay ta uống thật say, có món thỏ xốt vang ngon lắm!
Hai người bạn ấy lên xe một cách vui vẻ, suốt dọc đường họ nói chuyện huyên thiên - thật là đôi con người giấu đau khổ để đóng kịch và để làm ra vô tư lự nhất đời.
(Đăng Tiểu thuyết thứ bẩy số 231/1938)