Hà Nội Cũ Nằm Đây

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Ông thầy đờn

❊ ❊ ❊

Tố Hà ạ, hàng ngày có những cảnh rất tầm thường, những chuyện rất tầm thường, tầm thường quá đến nỗi người ta không cần lưu ý tới, mà sao tôi cứ phải bận lòng, không thể nào quên được dễ dàng.

Bạn vẫn giễu tôi:

- Nghề tiểu thuyết của bọn anh lôi thôi lắm. Thấy được cái gì, nghĩ được cái gì, nghe được cái gì, là tức khắc các anh bắt chộp ngay lấy mà viết cho thành truyện, y như người đi săn vớ được mồi ngon.

Tôi không cãi Tố Hà.

Tôi muốn nhắc lại hồi năm tháng trước, một nghệ sĩ và tôi vào chơi Nam Kỳ. Chúng tôi đã thấy trong sinh hoạt ồn ào, phong phú của Sài Gòn Chợ Lớn một cảnh khiến tôi nhớ mãi đến ngày nay. Đó là một người đàn bà mù, trán hói cao, mặt xương xương như khuôn mặt đàn ông, thường ngồi lê la ở các sân ga xe điện. Mụ gẩy đờn bầu và hát cải lương, bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm lạ lùng! Trước mặt mụ, một cái thau đồng nhỏ. Bên lòng mụ, một đứa bé gái uể oải gõ cái que theo nhịp mẹ hát, và hai đứa trẻ gày gò chốc lở dựa vào nhau mà ngồi im lặng cho ruồi nhặng bám khắp mình. Mỗi lần đứa nhỏ khóc, con chị lại bỏ chiếc que đánh nhịp xuống đất, dỗ em. Nó dỗ không được, mụ phải ngừng hát để ẵm đứa nhỏ lên lòng. Chờ lúc nó chịu nằm yên, mụ mới dờ dẫm vặn trục đàn, lên dây lại, dạo vài tiếng rồi lại ca nốt bài Tứ đại oán, Vọng cổ hay là Trường tương tư, kể lể một đoạn tình dang dở hay là tốt đẹp của một vị tiểu thư nào đó, một vị Vương phi nào đó..., - bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm ấy.

Từ biệt Nam Kỳ, biết bao cái đẹp, cái vui, tôi không nhớ, - tôi chỉ nhớ có tiếng đàn bầu, giọng hát của mụ lòa, tôi chỉ nhớ hình ảnh bàn tay run rẩy của mụ lòa mỗi lần rời bỏ chiếc que đờn để vỗ về đứa con nít khóc, dịu dàng ru cho nó nín, rồi lại hát, vẫn hát, - bao giờ cũng chỉ một điệu và một giọng buồn thảm lạ lùng.

Có những tối mùa đông, tôi lạc vào một gia đình, ở đấy, bạn tôi rót mời tôi li rượu mạnh. Lòng tôi tự nhiên vui vì được nhìn lửa réo trong lò, được nhìn vài đứa trẻ kháu khỉnh đùa nghịch cười khúc khích trong chăn ấm, một cô bé tóc xanh hãy còn buông xõa chui đầu vào mền học nhẩm lại bài thi.

Tôi cũng thấy lòng say, mỗi lần được lạc vào một căn phòng, ở đấy, bạn yêu tôi kiêu căng như một bà hoàng, ném cho tôi cái nệm bảo ngồi, ấn điếu thuốc lá vào tận môi tôi, đánh diêm châm cho tôi hút rồi cứ để tôi ngồi yên dưới gối, bạn nằm dài trên đi văng đọc nốt trang sách quý bạn đang mê... Quanh chúng tôi là im lặng.

Có những đêm gió réo lào xào, mưa nặng hột đập vào cửa kính, tôi thoáng thấy hai bóng người dắt díu nhau chạy vụt qua để ẩn dưới mái hiên. Đó là một kẻ gần mù đưa đường cho một kẻ đã mù, hai người “nghệ sĩ”... bán lạc rang, đem nghệ thuật ra dùng để nuôi nghề và để sống với nghề. Trong bóng tối, họ cất tiếng sáo lên..., sầu não làm sao, réo rắt làm sao! - bạn yêu tôi để rơi cuốn tiểu thuyết tình xuống ngực. Tiếng sáo phả vào mưa gió xa dần, xa mãi, vì trong bóng tối, hai người “nghệ sĩ” đang dắt díu nhau, lang thang khắp hang cùng, ngõ hẻm của Hà thành...

Lòng tôi ám nặng một u hoài. Tôi sực nhớ đến mấy bạn cùng nghề của tôi, lúc này đang quây quanh một khay đèn trong tiệm hút, say sưa bàn về một tờ báo sắp ra đời... Tôi sực nghĩ tới một thi sĩ, quần áo tồi tàn nhem nhuốc, mang sách đi chào bán tận từng nhà, nhưng mà chẳng ai thèm nhìn đến tập thơ của ông.

Có những đêm khuya vắng, ở một cuộc vui trở về nhà, mùi rượu, mùi thuốc phiện, mùi phấn chưa bay hết, nằm dài trên chiếc xe buông kín mui, tôi đã thấy, trong sương lạnh xuống mù trời, một bà lão già ốm yếu cúi lom khom, nhặt những lá khô rơi rải rác giữa mặt đường, trên hè gạch, ném vào đôi thúng gánh đi. Bà lão cứ lom khom nhặt thế mãi, đi thế mãi, hết đêm này sang đêm khác, hết cả một mùa đông.

Còn biết bao cảnh tầm thường hơn vậy, tầm thường quá đến nỗi người ta không thèm lưu ý tới, nhưng tôi cứ phải bận lòng, không thể nào quên được dễ dàng.

Tố Hà có hiểu tại làm sao?

Bây giờ, đến chỗ tôi cần giới thiệu cùng bạn đọc ông thầy đàn mù của tôi: ông Sáu.

Ông Sáu nằm bên khay đèn thuốc phiện với một người bạn phong trần.

Người bạn phong trần, mỗi lần tiêm xong, lại lẳng lặng gí đầu dọc tẩu vào môi người mù. Người tàn tật này bắt ngay lấy mà hút một cách ngon lành, rồi lại nằm yên, ngửa mặt lên trần vôi ám khói. Họ không nói với nhau một câu, mà cũng chẳng còn gì mà nói với nhau nữa, vì trong ký ức họ, trong lòng họ có bao nhiêu câu chuyện cũ, họ đã kể cho nhau nghe hết cả rồi. Bây giờ, họ chỉ ngấm ngầm chịu những nỗi đau đè lên tâm hồn họ, bây giờ họ chỉ thầm tính toán làm sao đủ bữa hút chiều nay, bữa hút sáng mai... Những ước vọng lấp biển vá trời đã chết theo với tuổi trẻ, những thời phí bạc ngàn mất đi, ngày nay họ chỉ nghĩ đến sự tần tiện từ đồng hào, đồng trinh nhỏ, tới một chút sái vụn rơi xuống chiếu, khay đèn.

Nghe tiếng giầy bạn tôi, ông Sáu ngồi nhỏm dậy, nói giọng Huế, bởi ông là người Huế:

- Thầy Mai đó phải không? Tôi nghe nói thầy đờn tấn bộ lắm rồi. Bữa nay thầy xuống xóm hát hề?

Mai không muốn ông thất vọng:

- Tôi đưa một ông bạn xuống học đàn.

Gương mặt ông Sáu vụt tươi lên, cặp mắt mù tựa hồ muốn mở to ra để nhìn cái người mà thần Tài đã run rủi đến để sắp đưa cho ông một món tiền.

Người bạn phong trần của ông Sáu là người Bắc, từ nãy nằm yên cũng ngồi nhỏm dậy, cười niềm nở:

- Thầy học đờn, thực là nên lắm, hay lắm, vì đó là một lối chơi nghệ thuật hơn hết thảy. Chúng tôi sẽ xin hết lòng, hết sức.

Thế rồi, ông Sáu và người bạn phong trần xoắn xuýt lấy tôi, nói toàn về âm nhạc. Hai cái xác ban nãy nằm như chết, lúc này cùng đột nhiên sống lại, nói rất nhiều. Thành thử, tôi không từ chối được, vả thực tình thì chẳng nỡ, nên tôi buộc lòng làm người học đàn bất đắc dĩ, lỗi đó là ở bạn Mai tôi.

- Chừ, thầy học bài Nam, há? Phải, ai mới học cũng bắt đầu bằng mấy bài Nam. Nhưng chắc thầy đã tập qua đờn rồi?

Không muốn khoe mình đã biết âm nhạc tây tự lâu năm, tôi đáp ông thầy đàn rằng tôi chưa biết gì, mà cũng chưa mó đến cây đàn bao giờ cả.

- Chừ, thầy hãy xơi nước đã. Hương đâu mầy? Con pha trà dâng hai thầy đi con.

Hương là một thiếu nữ mới lớn, đẹp một vẻ buồn của người xứ Huế. Nước da Hương xanh dìu dịu, có lẽ nàng không đánh phấn, nhưng đó chưa hẳn là một cớ, mà còn cớ nữa khiến tôi phải hoài nghi: biết đâu đó chẳng là màu da của một người thức nhiều đêm trắng vì nghề. - Nàng đeo kiềng và mặc áo màu lá cây non, màu áo ấy, gương mặt ấy đủ gợi cho tôi nhớ đến tất cả những cô gái kinh kỳ xa xưa, nhưng bao giờ cũng sống trong lòng tôi.

Hương nhè nhẹ bước tới gần, cười nụ:

- Rước thầy xơi nước.

Nàng đặt chén nước trà loãng gần như nước lã bên tay tôi, rồi lui ra đứng thập thò ngoài cánh cửa.

Ông Sáu vừa giơ tay sờ soạng, Hương đã vội bước vào kéo cái ống điếu, nạp thuốc vào miệng điếu, đánh que diêm, chờ cho ông Sáu hút xong, nàng mới lui ra, đứng ngoài cánh cửa.

Người bạn phong trần của ông thầy đàn giơ tay với lấy cây tam thập lục đưa Mai, rồi ông với cây tỳ bà để lên lòng mình, cười như một người sung sướng nhất trần ai:

- Chúng ta hãy họa chơi một bản cho vui đã, thầy Mai.

Mai không lưỡng lự, họa liền.

Dứt bài ấy, đến lượt ông thầy đờn mà tôi đang muốn được biết tài nghề.

Ông Sáu ngồi chững chạc, nâng cây nguyệt lên, sửa qua cung bực, gẩy bài Tứ đại.

- Hương ngồi ca hai thầy nghe, con!

Hương bẽn lẽn bước ra, vén áo ngồi ghé trên đầu tấm ghế gỗ dài tôi đang ngồi. Tôi nhận thấy Hương vì sợ lệnh cha, hơn là vì sự chiều khách mà ca.

Nghe tiếng đàn thần của tay nhà nghề chơi đàn đã ba mươi năm có lẻ, nghe giọng ca hay của cô gái Huế trong ánh đèn vàng đục ở một căn phòng nhỏ hẹp, tôi đê mê cảm như mình đang ngồi trong một khoang thuyền trôi giữa dòng sông Hương lặng lẽ những đêm nào..

Hết bài Tứ đại, ông Sáu đặt cây đàn xuống chiếu, khiêm tốn nói:

- Bữa ni, tôi đờn không hay, mà con bé cháu nó mắc ho nên ca cũng dở quá chừng.

Ông còn nói khiêm tốn vài câu nữa, tuy chúng tôi đã hết lời khen tài nghệ của ông và của cô Hương. Hương nhìn tôi bằng đôi mắt cảm ơn, hai má nàng hây hây đỏ. Tôi không biết nàng thẹn vì nàng vui sướng, hay vì một lẽ gì.

Tôi hẹn ông Sáu: một tuần lễ tôi chỉ có thể đến nhà ông một lần vào chiều thứ Bảy.

Hôm nay mới là thứ năm. Chín giờ tối ở thư viện ra, tôi không có việc gì làm, không muốn về nhà vội, mà cũng chẳng biết đi đâu. Tâm hồn tôi nhiều khi có một cái trống rỗng mênh mang ấy. Lòng tôi nhiều khi bị xâm chiếm bởi những nỗi chán chường nó làm cho tôi thành kẻ chán đời. Đường vắng, ít người và xe pháo. Những chiếc lá bàng run trên cành khô lừ lừ bay xuống, chạy xiết trên mặt hè ướt át. Nhớ đến gian phòng tối tăm ấm áp của ông thầy đàn Huế, tưởng tượng đến bàn tay xinh nhỏ của cô gái Huế sẽ bưng chén trà nóng mời tôi, tôi gọi xe kéo xuống Khâm Thiên.

Thấy tôi đến không nhằm thứ Bảy, ông Sáu ngạc nhiên, mừng. Còn Hương, tôi nhận thấy Hương nhìn tôi với đôi mắt sáng hơn, bạo dạn hơn ngày thường. Nàng đỡ chiếc mũ dạ ở tay tôi, móc túi lấy chiếc mùi xoa lụa hồng thấm những giọt mưa bám ướt. Người tôi, mới trong giây phút đã nóng ấm lạ lùng. Tôi thấy ngọn đèn dầu như biến thành một cái lò sưởi lửa đang reo! Tôi thấy không khí bao bọc quanh tôi thật là thân mật!

Tôi nằm với ông thầy đàn ấy mãi đến khuya, khuya lắm mà chẳng nghĩ đến sự về nhà. Tiếng huyên náo ngoài đường đã ngớt, tiếng phách ở các nhà cô đầu bên cạnh đã im bặt tự lúc nào.

Người bạn phong trần của ông Sáu hôm nay đi vắng. Ông ta đi kiếm tiền để về đây xài thuốc phiện. Có khi đi năm bảy ngày, có bận đi biệt hàng tháng. Nhưng theo ông Sáu rỉ tai tôi, thì người bạn phong trần của ông vẫn chỉ loanh quanh ở Hà thành để làm nghề... hành khất, song ai hỏi, ông Sáu bảo rằng người ấy đi làm việc ở một tỉnh xa.

Ông ta, hàng ngày thường mặc bộ tây tàng, đứng vơ vẩn trong các phố đông người, đợi chờ một bộ mặt quen quen để niềm nở bắt tay rồi ghé tai hỏi vay tạm một món tiền nho nhỏ... Ông ta thường thấy đứng co ro ở bờ hồ Hoàn Kiếm, ở các ngõ tối tăm, hay ở cửa các công sở lớn, ngấp nghé một hồi lâu rồi mới đánh bạo lần vào phòng giấy các ông tham, ông phán, khúm núm gãi đầu, kể lể bằng tiếng Pháp, với một giọng sầu não, những nỗi đau đớn của một gia đình có mẹ già vợ ốm, con sài... Ông ta có bận lại đàng hoàng xông thẳng vào giữa sa lông các nhà giầu để móc túi lấy ra thanh quế, mật gấu, con sâm Cao Ly, miếng cao hổ cốt, rồi liến thoắng ca tụng những cái hay của các vật quý ấy mới mang ở rừng về...

Thôi thì, với hết cách đê tiện, với hết mọi mưu cơ, với hết khóe lọc lừa, người bạn phong trần của ông thầy đàn đã phải dùng để kiếm tiền mua thuốc phiện sống lần hồi. Khi đã kiếm được khá rồi, ông ta lại trở về cùng nghệ sĩ mù, tay ôm một gói hoa quả, bánh mứt, chè tàu, và bất cứ lần nào, ông ta cũng không quên ra hàng áo cũ, mua cho mình và người bạn mù một thứ gì rẻ nhất để che bọc hai các xác gày còm trong những ngày đông.

Ông ta, trước kia là một thầy thông dây thép, chỉ vì tiêu lạm tiền nhà nước, hóa thành thất nghiệp! Tất cả những tiếng thì thầm của ông Sáu về lý lịch người bạn phong trần đó bắt tôi phải lặng im nghĩ ngợi, mặc dầu những câu chuyện ấy, những nhân vật ấy ta thường nghe giữa một cuộc chuyện vui, và thường thấy rất nhiều ở khắp Hà thành. Nhưng còn người nghệ sĩ mù nằm trước mặt tôi? Tôi muốn biết trong cái đầu tóc bao giờ cũng rối bù kia có giấu kín một thiên ba đào ký, một quá khứ chứa ít nhiều cuộc thăng trầm?

Đây, người mù đã kể tôi nghe:

Rằng xưa, ông ở kinh thành Huế, trong một dòng tôn thất, giàu cả danh vọng, cả tiền tài. Tổ phụ ông xưa làm đại thần triều Nguyễn. Vì chính sự đổi thay, người lui về quê ẩn dật nhưng ít lâu sau, máu sôi thời cuộc, người liền nhập đảng Cần vương, rồi bị giết giữa một cuộc xung đột cùng quân Pháp. Song thân ông Sáu phải dắt díu nhau vượt núi sông tị nạn, bởi có lệnh triều đình truy nã tru diệt cả họ hàng ông.

Mẹ ông chạy về trốn lẩn ở một vùng quê, và sinh ông tại đấy. Ông đã trải những cảnh loạn li cực nhục, ông đã chăn trâu, cắt cỏ, làm thuê. Khi ông lớn lên, thân phụ ông vì bạo bệnh mà chết. Kinh thành Huế đã vào thời bình trị, ông quả quyết từ biệt mẹ già, đeo khăn gói ra Kinh, tìm cách tiến thân. Ăn đợi, nằm chờ mãi, ông được vào Nội các giữ một chức tầm thường.

Ở gần chốn Ngai vàng, ông đã từng được nghe những câu chuyện bí mật ở miệng các cận hầu, các cung phi về đức vua Thành Thái. Ông đã rùng mình về những cảnh hung tàn, bạo ngược mà Ngài bày ra làm trò giải trí, như là bắt các bà Vương lấy thâm cung làm nơi họp chợ bán hàng. Ngài cưỡi ngựa đi làm khách mua, nếu thấy bà nào chào đón vụng về, hoặc trai lơ quá, tức thì Ngài chém chết liền. Ngài bắt các cung phi khỏa thân tất cả, xếp thành hàng một như đội nữ binh bồng gươm đi diễu trước mặt Ngài. Lúc được lệnh truyền, họ phải nằm rạp xuống, rồi bắt đầu từ người thứ nhất, Ngài nằm lăn lên mình họ đúng ba lần. Tới lần thứ ba, khi Ngài mệt mà ngừng lại trên một cung nữ nào, thì cung nữ ấy được đội ơn mưa móc đêm hôm ấy, tỉ như đời xưa các nàng phi ganh nhau thả rắc lá dâu... Nhưng mà vị cung nữ được Ngài ngừng lại trên mình đó, đôi lần mừng, song cũng đôi lần bay hồn, mất vía, là vì máu điên biến đổi tính Ngài một cách khôn lường: ngài dựng cái xác thịt nõn nà ấy lên sai dội nước sôi từ đầu tới gót. Ngài ngồi ngắm một cách cực kỳ khoan khoái, kẻ khốn nạn bị bỏng, giãy, kêu lên, sau cùng nhe răng ra chết đứng. Thấy vậy, Ngài nổi giận cho là đã chết còn cười, lại sai dội thêm nước sôi vào miệng, rồi đứng dậy, tự cầm gươm khoét mắt, rạch mồm, xẻo từng miếng thịt ném đi.

Ông Sáu đã được thấy ngôi sao chổi mọc ngang trời nhằm chiếu xuống chỗ hoàng cung, giữa đêm đức vua lẻn ra ngoài thành đi trốn, nhưng người ta lại lùng bắt được Ngài ở trong rừng. Bởi câu chuyện Ngài bỏ ngôi này, người ta mới đoán rằng tất cả những trò chơi tàn ác nói trên kia, chỉ do Ngài giả bệnh điên để dễ dàng xếp đặt mưu cơ lừa người Pháp.

Câu chuyện một đấng Vương mạt vận của nước nhà do ông thầy đàn kể, làm tôi say hơn khói thuốc, cảm hơn đọc trăm cuốn sử của ngàn năm xưa. Khói thuốc tỏa trước mặt tôi, quanh mình tôi như một áng mây trời đem lại cho tôi một cảm hoài vô cùng thống thiết. Ông thầy đàn còn kể tôi nghe những cuộc nổi chìm của ông trước đây bởi một sự khảng khái bí mật riêng mà bỏ Kinh thành Huế ra xứ Bắc Hà, cảnh ngộ ba đào xô đẩy ông vào số phận một người tôn thất vong quốc, vong tộc, lo từng bữa cơm, bữa hút, thiếu từng manh áo, tấm quần, trong khi những người thân thích với ông đang ngồi ghế cao ăn lộc của triều đình, chính phủ.

Ông Sáu ngồi dậy nâng cây đàn tỳ, nối lại đường tơ mới đứt, gẩy bài Nam Ai.

- Hương đâu? Con ca theo cho thầy nghe đi con!

Không thấy con gái đáp, ông Sáu ngơ ngác nhìn quanh bằng cặp mắt mù.

Có tiếng nấc ở phía sau, tôi ngoảnh lại: Hương đang gục đầu vào cánh cửa, ôm mặt khóc. Có phải người con gái Huế ấy khóc những cảnh huy hoàng đã chết rồi của ông cha từ mấy mươi năm cũ, hay khóc những cảnh lầm than, nghèo khổ ngày nay của mình?

Thấy tôi bắt gặp, Hương vội vàng lau nước mắt gượng cười với tôi, rồi nàng ngồi gõ nhịp ca.

Lúc này, Hương vẫn đẹp như người kỹ nữ sông Hương!

Hà thành ướt át dưới mưa xuân, và ồn ào, tấp nập vì sắm Tết.

Hôm nay, trời rét lắm, tôi đã sai người mang xuống cho ông thầy đờn chiếc áo tơi dạ cũ và một số tiền. Người ta đã vác cành đào đi bán rong ngoài phố. Người ta đã đi sắm những giành hoa cúc vàng tươi đẹp, những giò thủy tiên lá nõn mượt xanh, những cành hải đường hoa thắm đỏ như những nụ cười của các nàng xuân nữ. Thấy mấy cô em gái tôi vui mừng tíu tít đua nhau gọt thủy tiên, thi nhau làm mứt, ngắm cho nhau những tấm áo đẹp mới lấy ở hiệu may về, tự nhiên lòng tôi chạnh nhớ tới người con gái Huế nghèo nàn, xấu số, sống âm thầm lẫn với các ca kỹ xóm Khâm Thiên. Tôi bảo em gái tôi ra chợ chọn mua cho tôi một bó hoa thực đẹp, rồi tôi gọi xe kéo xuống nhà ông thầy đờn. Gõ cửa và đứng chờ đã một hồi lâu, tôi mới nghe thấy tiếng rút then, đó không phải Hương, chính là ông Sáu đã rờ rẫm cố tha cái xác ốm ra mở cửa cho tôi. Tôi hỏi đến Hương. Người mù khốn nạn vật mình nằm xuống, trùm chăn rên một lúc, rồi mới đáp tôi:

- Không dám giấu thầy, mấy tháng nay tôi thiếu ăn, thiếu hút, cho nên cơn nghiện nó vật tôi thành ốm thế này. Con Hương nó thương tôi lắm, nó khóc suốt ngày vì tôi. Rồi thảm quá chừng, thầy ạ, hôm kia, nó quỳ xuống bên giường, nắm tay tôi, nó khóc, van lạy. Tôi đành cắn răng mang nhục cứ liều để nó bán mình cho người chủ cô đầu mà lấy tiền xài. Cùng quá, chẳng thể nghĩ mãi tới sự giữ gìn danh thơm cho một giòng quý tộc, danh gia - mà giữ làm gì nữa, hả thầy! - tôi đành cho nó theo mụ Bảy sang bên nhà hát ở gần đây.

Người mù kéo mép chăn lên mặt, lau nước mắt.

Tôi cảm thấy lòng tôi tan vỡ, mặc dầu, đối với Hương, trước sau tôi chỉ có tình thương. Sao sự đời lại trớ trêu đến thế! Ngày xuân, người ta đi mua hoa về ngắm, thì trái lại, ở chỗ tối tăm này, người mù khốn nạn phải bán con đi, bán một bông hoa đẹp nõn nà đi để xài, để hút. Gian phòng lạnh lẽo và yên lặng như một cõi mồ. Tôi ngắm bức ảnh Hương, treo bên mấy cây đàn chụp hồi còn nhỏ trong vườn Tĩnh Tâm ở Thần kinh, rồi ngậm ngùi nhìn xuống bó hoa vẫn cầm ở trong tay, tôi phân vân không biết dùng bó hoa tươi đẹp ấy để làm gì.

(Năm 1934)

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026