Này! Các cụ, các ông, các bà Hà Nội! Có còn nhớ anh Chọc tiết tức là “Ông Hà Nội” chém mười ba cái đầu Yên Bái đó không?
Nói trắng ngay rằng hắn đã làm đồ tể ở cái thời “Hà Nội băm sáu phố phường” còn là bãi chiến của những thứ hào kiệt kiểu Lương Sơn Bạc như Hàn Bái, Tư Dậu, rồi thì Phúc Đen, Năm Hà Đông. Thuở ấy, Hà Nội tráng một lớp men phong kiến đẹp như bức phông Quảng Lạc vẽ tháp mốc, cầu son của Kiếm hồ văn vật, dân chúng hoàn toàn chỉ là những khán giả ngây thơ chất phác, vỗ tay trước cái mép nhọ của anh kép Tín, trước tiếng than đường trường của chị đào Đính Tam Long, và rất sợ trước cái đầu Quan Công của kép Sáu Phủ dựng râu trợn mắt làm cho Ngô Tôn Quyền, Tào Tháo ngã nhào xuống bệ.
Ở giữa cái xã hội mà lớp người Việt răng đen yên phận làm khán giả và hạng người thống trị múa lưỡi lê như các tướng tuồng hát bộ múa thương tre đao gỗ, “ải ải” một tiếng thì khán giả run lên đó, thưa các ngài, anh Chọc Tiết kia đã hàng ngày xoay trần trùng trục để mà chọc tiết lợn, tiết bò rồi thì say khướt nuốt hồng hoa với tiết canh.
Sau đó, năm ngôi nhà lớn đã được mọc trên Hà Nội, anh Chọc Tiết bỏ lò sát sinh đường Lò Đúc, ném dao đồ tể, để vào Hỏa Lò làm nghề đao phủ thủ.
Này, các cụ, các ông, các bà Hà Nội! Có còn nhớ thằng Chọc Tiết tức là “ông Hà Nội” chém đầu như sung rụng đấy không? Thưa rằng hắn còn sống nhăn nhở ở cái đất cố đô văn vật này đấy ạ. Nhưng ngày nay, hắn đã trở nên một thứ cư sĩ cao điệu, lối cư sĩ đời Chiến quốc.
Tôi gặp hắn hôm nay.
Hôm nay, Hà Nội sống cái ngày Hà thành xưa xưa rộn tiếng voi hí ngựa lồng tiền hô hậu ủng của tả quân Lê Văn Duyệt.
Thế mà mình cứ muốn kiêu căng hay là ngậm ngùi cũng vậy, để tự ví mình với ông già Công Trứ. Bởi vì, chán đời chưa, chỉ vì đi làm “phóng sự ông Chọc Tiết, ông Hà Nội” mà suýt nữa bị ngã dưới bánh xe Chiến quốc.
Tôi thăm hắn trong một tòa nhà trông thẳng sang Đề lao Trung ương, bao lơn lối quân chủ của lâu đài cụ Thượng mà mái thì nhọn hoắt và dốc tuột kiểu công thự ông bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại, trên đó tuyết rơi tuồn tuột xuống đã tan như lời hứa hẹn với cái thuộc địa béo tốt này.
Chọc Tiết tiếp tôi trong đại sảnh, trên tường treo ảnh một nàng ca nữ Nhật và một thanh trường kiếm.
Tôi vào chuyện:
- Thế nào, lão huynh độ này có ý kiến gì với quốc sự? Cứ khoác áo củ sĩ an phận nằm trong màn bát tiên mãi, người ta ghen đấy.
Chọc Tiết cười ha hả:
- Màn bát tiên à, tôi vẫn tưởng rằng tôi đang nằm trên bể máu!
Và giọng hắn thì thầm như thằng sát nhân xin rửa tội:
- ... Máu đồng bào, ông ạ!
Nói thật tình, tôi có cảm giác mình đang ngồi trước gã Javert trong tác phẩm “Những kẻ khốn khổ”, nghĩa là tôi vụt nghĩ đến câu chuyện thằng mật thám lúc nào cũng mang cái ám ảnh ghê sợ máu và ma. Chọc Tiết tự tay pha cốc nước giải khát màu đỏ thắm. Hắn mời tôi, và hắn uống. Tôi yên lặng nhìn mặt anh đao phủ to nặng như mặt kẻ thắt cổ đã ba ngày và nhìn cái thân thể béo căng để nghĩ đến con lợn nổi trên dòng phù sa lụt bão. Hắn xòe bàn tay nắm chiếc cốc, tôi liên tưởng đến giây phút bàn tay hùm beo đó ấn cổ kẻ tử tù ốm yếu vào đúng lưỡi dao máy chém, và ngắm cái chất nước đỏ kia chui vào cổ hắn, tôi nghĩ tới những tia máu phùn phụt của phạm nhân chảy trong lòng máng rớt theo đầu lâu vào hòm mạt cưa dưới máy.
Tôi hỏi thân mật và trắng trợn:
- Thực tình, có nhớ ngày oanh liệt, một dao hạ mười ba thủ cấp trên Yên Bái?
Chọc Tiết lờ đờ mắt nhìn sang bãi cỏ bao quanh chân tường cao vút loáng mảnh thủy tinh và dây điện của nhà pha bên kia đường phố vắng. Thốt nhiên, anh đao phủ trở nên một sử gia ngồi ôn cố sử. Hắn lặng lẽ nhìn khói thuốc. Tôi đoán hắn đang nhớ lại một buổi sáng mù sương rừng Yên Bái xa vời.
Đột ngột, Chọc Tiết nhổm người lên:
- Ghê quá, cái đầu lão Ký Con dao máy hạ hai nhát mới chịu lìa. Cái đầu Đức Chính mới ghê hơn chứ. Mình càng ấn, hắn càng ngóc lên để mà hô... Đời tôi, trảm đã hai trăm lẻ bốn chiếc đầu, thế mà mẻ ấy mình thấy trợn. Lão Ngáo Huế mà có được trảm bữa đó cũng phải chùn tay. Tôi nhớ mãi, tôi nhớ mãi...
Chọc Tiết với chai vang đổ tràn miệng cốc và uống cạn một hơi. Chao ôi, lão đao phủ uống vào lòng cả một đêm “Yên Bái đỏ”!
Tôi thốt rùng mình và ngước nhìn thanh trường kiếm trên tường màu vôi đỏ như màu chiếc quan tài.
Tôi cầm mũ. Trước khi tiễn khách xuống cầu thang, Chọc Tiết còn không quên với thanh kiếm, rút ra khỏi vỏ gỗ rừng Phù Tang bọc da cá sấu Tân Gia Ba và quắc mắt nhìn lưỡi thép, anh đao phủ cười khanh khách:
- Năm vừa rồi, một anh Nhật phiệt cho tôi đấy. Cứ nhìn ba đóa anh đào nạm vào đốc kiếm này đủ biết là gươm võ sĩ đạo ba đời. Nó hứa cho mình thanh liễu diệp đao uốn tròn như vòng dây cót đồng hồ bỏ túi, thế rồi thì chưa kịp cho mình nó đã mất đầu.
Thanh trường kiếm nhuộm máu này lại nhắc tôi nghĩ đến cái máy chém sừng sững trong sương lạnh những ngày ảm đạm năm nào. Tôi bước nhanh xuống cầu thang, và ra cửa. Chọc Tiết bắt tay tôi. Giữa đôi cánh cửa hoa sắt sơn đen, sợi xích dài và chiếc khóa khổng lồ reo xoang xoảng sau lưng, tôi rảo bước đi vội vào bóng chiều đổ mênh mang trong cái thành phố đang sôi nổi và quằn quại sống.
Ông Chọc Tiết. Hà Nội, Nxb Ngày mai, 1950