Tối nay, thành phố mới lên đèn Tâm đã thu hàng đóng cửa sớm. Chờ xong hết mọi việc, cô nhìn ra phía ngoài xem còn bỏ sót thức gì không, rồi trèo lên bàn hạ thấp cây đèn dầu phao xuống thổi tắt lửa. Trước khi bưng hỏa lò, siêu thuốc cùng các thức vặt lên gác, cô còn cẩn thận đốt que đóm soi gậm phản, góc tường xem có kẻ nào ẩn nấp không. Tính cẩn thận đó Tâm đã có sẵn ngay từ hồi bà Hàn còn sống. Những lúc ngồi vui chuyện dạy con gái việc tề gia nội trợ, tam tòng tứ đức, bà Hàn thường răn con gái nên ý tứ, ngồi phải nhìn trước xem có vết cốt trầu làm bẩn áo, đi phải trông trước trông sau xem có người con trai nào theo gót thì cần lánh xa ngay; ngủ phải nằm nghiêng, không nên ngáy, và điều cần hơn hết là trước lúc chèn chặt cửa, phải khua gậm giường, gậm tủ, phòng khi tối lửa tắt đèn...
Từ ngày mang khăn tang chở mẹ cho đến ba năm giỗ hết, cô và Tình, chị ruột cô, vẫn ghi lòng lời mẹ dạy khi vui chuyện và lúc lâm chung. Hai chị em cô đã bao nhiêu năm tập đủ công, dung, ngôn, hạnh, tề gia nội trợ, tam tòng tứ đức để một mai xuất giá theo chồng...
Nhưng Tâm, Tình đã bao nhiêu năm theo lời mẹ dạy mà chưa bao giờ được hi vọng xuất giá theo chồng, chưa bao giờ được người con trai nào theo sau gót, chưa bao giờ thấy một kẻ nào rình dưới gậm giường, dù đã có đôi lần những đêm mưa lạnh lòng buồn quá, hai cô gái muộn chồng thường mê thấy hình như có bóng một người con trai nào ẩn nấp đâu kia để nghe trộm tiếng thở dài ngao ngán của mình.
Tâm mệt nhọc bước lên những bậc thang gỗ mục nát như gần đổ gãy, - cái cầu thang của một căn nhà cổ làm từ ba năm sau khi Hà Nội thất thủ đến mãi bây giờ... Tâm nhóm bếp lò hâm lại thuốc, rồi cô rót ra bát, bưng đến chỗ chị nằm.
- Chị Tình! dậy uống đi kẻo nguội.
Tình mở mắt nhìn em, giọng nghẹn ngào như muốn khóc, cô hỏi Tâm câu tối nào cô cũng hỏi:
- Hôm nay có bán được gì không?
- Cũng khá ạ. Chị đừng lo.
Tâm buộc lòng dối chị. Thực thì mấy ngày nay có bán được gì đâu. Tất cả cửa hàng của chị em cô, khách qua đường nếu không ngại mệt vì phải trèo lên ba bậc gạch cao mới bước được lên thềm để mua một bao diêm với gói thuốc lá Job xanh, rồi thử nhìn ngắm kỹ, họ chỉ thấy có mỗi chiếc tủ con sơn long lở, bên trong bày vài xâu chỉ, vài tập giấy, phong bì, dăm ba lọ mực, mấy hộp lơ, ngoài tường treo lủng lẳng mấy sợi bấc đèn, giải rút, mấy cuộn dây thừng..., chỉ có thế thôi!
Vậy mà đã bao nhiêu năm, cửa hàng ấy nuôi sống một người mẹ góa, ngày nay nó nuôi hai cô con gái đã ngoài ba mươi, duyên hẩm hiu đành vẫn ế chồng.
Ngôi hàng kia trước đã điêu tàn giờ lại điêu tàn hơn. Từ khi Tình ốm, Tâm thương chị nên nhặt nhạnh được đồng nào lại bỏ ra chạy thuốc thang, lấy đâu buôn thêm hàng nữa.
- Tâm ơi! hôm nay là bao nhiêu nhỉ?
- Mồng hai tháng Một rồi.
Tình bỗng mở to mắt nhìn lên ảnh mẹ lờ mờ sau bức màn the xanh đã bạc hết màu.
- Mười hôm nữa sẽ đến ngày giỗ mẹ. Vậy em cần lo liệu trước đi. Lại thêm tết nhất sắp đến nơi rồi! Tâm ạ, đêm qua chị nằm mê thấy mẹ về, ngồi trên cái ghế Tâm đang ngồi. Mẹ để xõa tóc, vẫn mặc chiếc áo sa tanh chị mặc cho mẹ trước khi khâm liệm... Mẹ nhìn chị khóc nức nở không nói năng gì. Một lát, mẹ từ từ đến đầu giường cúi xuống vuốt mắt chị rồi lừng lững đi ra... Tâm ơi, chị lo lắm, chị chết mất, vì từ lúc tỉnh dậy chị thấy như không còn sức mà thở nữa, xương thịt đau đớn như dần, lắm lúc mê sảng tựa hồ hồn vía bị ai dắt về âm phủ, đi lẫn cùng ma quỷ đông lúc nhúc như phiên chợ trần gian...
Tâm gạt đi, giục chị uống thuốc, rồi cô ra chỗ khác để cắt đứt câu chuyện âm phủ nó làm cho cô sợ run người và khiến cô lo ngại đêm nay chắc sẽ không ngủ được.
Mười giờ, về tháng Một nên đã gần khuya, phố đã vắng người. Tâm đang rảo bước bên bờ hồ Hoàn Kiếm về nhà. Lá trên cây rụng nhiều quá, rơi cả vào chiếc tráp đựng vàng hương ở tay cô. Nhìn nước hồ xanh ngầu váng, cô tưởng chừng nước kia lạnh lắm, và tẩn mẩn cô tự hỏi mình: “Không biết từ xưa đến nay, những cô gái không như nguyện về tình liều nhảy xuống đáy hồ sâu thăm thẳm kia mà tự tử, nhưng chẳng hay trong số đó có cô nào vì cớ muộn chồng mà hủy mạng không?”.
Một luồng gió lạnh thổi tạt vào da mặt, Tâm rùng mình. Cô cảm thấy cô không bao giờ có can đảm chết, mặc dầu Định mệnh bắt cô phải muộn chồng mãi mãi, không chừng cả đời cô.
Cô vừa đi vừa nhớ lại những ngày xưa, hồi mười tám, mười chín tuổi, cô đã đi nhiều lần bên Hồ Gươm nhưng là đi với mẹ, với chị Tình vào đền Ngọc Sơn lễ thánh những ngày rằm, mồng một. Nhưng cô nhớ nhất là đêm ba mươi Tết, làm lễ giao thừa ở nhà xong, cô giở quần áo mới ra mặc, bưng vàng hương theo bà Hàn ra cửa gọi xe đến lễ đền này. Hà thành, lúc ấy vùng thức dậy vì tiếng pháo đốt liên thanh. Cô quên cả rét, sung sướng theo mẹ bước trên cầu Thê Húc, len vào trong đám đông người lũ lượt vào đền. Khấn khứa và xin thẻ xong, cô ra cửa bỏ vài xu mua cành lộc, hí hởn về nhà “xông đất” lấy. Cô mới khẽ gõ cửa, Tình đã mặc quần áo chỉnh tề, đứng một bên cúi chào bà Hàn như chào khách; bà Hàn tươi tỉnh nói mấy câu chúc mừng năm mới. Tình cũng đáp mấy câu chúc mừng, rồi ba mẹ con cùng bật cười vang.
Nghĩ đến cảnh vui này, Tâm đau đớn khẽ thở dài. Cảnh vui ấy có còn đâu. Bà Hàn chết từ sáu bảy năm nay, hai chị em cô tần tảo lần hồi, ngày tháng ôm lấy ngôi hàng nhỏ, chỏng trơ vài cuộn thép, cuộn thừng, mấy bao diêm, mấy gói thuốc lào, thuốc lá, phong lơ...
Tối nay, nóng ruột về bệnh của Tình nặng quá mà thuốc thang không thấy giảm chút nào, Tâm lại đi lễ thánh, lại xin thẻ, xin nước giải, cũng như xưa cô đã làm quen những việc này mỗi lần mẹ cô bị trái nắng trở trời. Lúc nào cũng chỉ tin ở Trời, ở Phật, ở Thánh mặc dầu cô đã tự biết như thế là trái với một cô gái tân thời. Gái tân thời ngày nay, họ không lễ Phật, lễ Thánh, không ăn mặc theo lối cổ như cô!
“Có lẽ vì thế mà chị em mình bị muộn chồng chăng?” Cô hằng nhủ lòng như vậy những lúc ế hàng, ngồi nhìn các thiếu nữ mới khoác tay trai đi diễu phố, mặc quần đùi đi xe đạp ngoài đường, hoặc những lúc vô tình đi qua một nhà chớp bóng, một tiệm nhảy đầm.
Lúc này Tâm đi bên ngoài một phòng nhảy, gần nhà Thủy Tạ. Cô rẽ ra xa, đánh bạo liếc mắt nhìn vào, thấy tây đầm, cả người Việt Nam nữa, từng đôi đang ôm nhau nhảy, tiếng kèn du dương. Tâm thẹn đỏ mặt, lòng nao nao như bị một cái gì khuấy rối, cô vội rảo chân đi.
Đường phố đã vắng tanh, vắng ngắt. Tâm mỏi chân muốn gọi xe, nhưng ngần ngừ vì cô không muốn phí vài xu - vài xu, đó là giá bao thuốc lá, giá một cuộn dây thừng!
Bỗng Tâm để ý đến tiếng chân ai theo phía sau cô, rất gần, rất gần, chỉ cách cô quãng ngắn. Không dám ngoảnh lại nhìn, nhưng cô biết chắc chắn rằng kẻ đang theo cô là một người đàn ông vì tiếng giầy gõ mạnh và cô ngửi thấy mùi thuốc lá thơm. Lòng hồi hộp, Tâm càng cố đi nhanh càng thấy hai chân tựa hồ bị ríu vào nhau mà giầy thì như muốn tuột khỏi chân, bắn về phía trước.
Cô lo lắng khi thấy kẻ kia định bụng theo mình. “Lúc phố phường vắng vẻ này, một người đàn ông theo một người đàn bà để làm gì?... Ừ nhỉ! để làm gì?” Câu hỏi ấy khiến mặt Tâm đỏ gay, chân Tâm cuống quýt hơn. Nhưng thực ra lúc này Tâm sung sướng lắm. Tâm khẽ giơ tay lên vuốt lại mái tóc, nắn lại vành khăn, kéo lại cổ áo. Tâm muốn móc túi lấy cái gương nhỏ để đứng dưới cột đèn soi xem mình có vết nhọ nào ở má không, mình có già lắm không mà khiến một người đàn ông theo nàng. Một người đàn ông! một người đàn ông!
Tâm sung sướng vô ngần. Sự thật, từ thuở biết ngắm gương, biết mơ mộng tới bây giờ cô mới được một người đàn ông theo đuổi, để ý cô.
Người ấy vẫn đi sau. Tiếng giầy gõ mạnh trên hè vắng, khói thuốc ngạt ngào. Tâm đoán người ấy hẳn sang trọng lắm. Cô rẽ sang phố này, rẽ sang phố khác, tiếng giầy và khói thuốc thơm vẫn cứ theo cô.
Tâm hồn Tâm mỗi lúc một mê man như bị một sức gì ám thị. Tâm muốn kẻ kia tiến nhanh lên tí nữa, rồi đi ngang ngay cạnh cô cho cô đỡ lạnh. Cô mong kẻ kia nói cho cô nghe những câu mà cô chưa từng được nghe một người dàn ông nào nói. Cô sẽ lẳng lặng mỉm cười... không cự tuyệt, không, cô sẽ không cự tuyệt người đàn ông nọ..., cô sẽ ngoan ngoãn... hỡi con người lịch sự mà nhút nhát kia!
Nhưng người đàn ông ấy vẫn vô tình không nghe tiếng nói từ trái tim cô. Người ấy vẫn nện mạnh gót giày đi sau, dần dần như gần cô hơn trước.
Cảm động quá, Tâm nghe ngóng, chờ đợi một sự phi thường êm ái, say sưa sắp xảy ra lần thứ nhất trong đời cô... Cô muốn nhà cô ở xa, rõ thật xa để cô đi bộ mãi, để kẻ kia theo cô mãi, để cô hưởng cái cảm khoái dịu dàng này mãi. Song, nhà cô kia rồi, một căn nhà cổ lụp xụp như cái chuồng gà hiện ra trước mắt.
Rón rén trèo lên ba bậc gạch, Tâm khẽ để ngón tay vào khóa cửa, và nhân lúc ấy cô bạo dạn nhìn trở lại.
Người đàn ông cắm cúi đi qua mặt cô. Dưới ánh đèn bên hè, Tâm nhận rõ dưới chiếc mũ dạ giăn giúm một khuôn mặt sạm đen, đôi mắt sâu như hai vực thẳm, cái cằm đầy râu, bộ áo dạ màu tro bạc phếch, rộng lụng thụng, bên trong nó một thân hình lẻo khẻo, gầy gò.
Người ấy, qua mặt cô, vẫn thản nhiên, đút tay vào túi quần, hai vai so cao lên, cúi đầu đi thẳng. Đến một căn nhà bẩn thỉu, lụp sụp như cái chuồng chim, người ấy dừng lại, gõ ba tiếng vào cánh cửa.
Tâm thấy trái tim mình giá lạnh hẳn đi, da mặt xanh tái lại, nước mắt muốn trào xuống má. Thì ra đó là một khách chơi đêm mà tình cờ cùng đi với cô một quãng đường để... đến tiệm hút nằm!
Tâm mở cửa bước vào nhà, nhọc mệt trèo lên những bậc thang gỗ mục nát như gần đổ gẫy - cái cầu thang của một căn nhà cổ tiều tụy, tượng trưng cả một cuộc đời tối tăm, tiều tụy của chị em cô.
Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 184/1937