Ngày ấy, Hà Nội chưa vào cuộc chiến, nhưng lòng dân đã sẵn sàng củi lửa cho một lò thiêu xác quân thù.
Suốt một dải bãi bờ sông Nhị, đầu là An Dương đến cuối là Hàm Tử Quan, thành nơi ngụ cư của giang hồ tứ chiếng.
Lũ văn nghệ chúng tôi chọn bãi An Dương, nơi địa đầu cát lở làm đất trụ, có thể giữ yên thân khi bình lại có thể rút lui khi biến, lấy Tây Hồ làm lá chắn. Anh quân sư nhỏ con Gia Cát Thâm Tâm qua cơn lầm lì khá nhiều ngày, một đêm mưa, bỗng mở miệng bảo chúng tôi như vậy đấy.
Thế là chúng tôi kéo đến bãi An Dương trống vắng lưu trú với một đám ba bốn chục người nghèo khổ, sống đụng đầu dưới mấy túp lều tạm dựng xơ xác, mái vẹo, tường xiêu, một hố đất đào đủ tầm sâu thành giếng lấy nước ăn. Ngày ngày họ đi làm, thôi thì đủ nghề khốn khổ và khốn nạn.
Cứ thế, lâu dần, rừng lành khỉ đến. Bỗng một ngày Hà Nội gió mưa, chúng tôi choáng váng vì thấy có đến hơn trăm nhân mạng không biết từ cõi đất trời nào kéo đến, tìm chúng tôi xin trú ngụ. Trong số cư dân ấy nam nữ đủ cỡ tuổi, cỡ người, ai nấy đều cao lớn, nói năng bặt thiệp, đứng ngồi nhanh nhẹn. Người nào cũng có cặp mắt sáng, vầng trán rộng, miệng cười tươi. Chúng tôi hỏi họ về nghề nghiệp. Cả nam, nữ đều thấp giọng: “Nghề khuân vác. Đêm thì chúng tôi tập trung ở An Dương này. Ngày thì tiến xuống Phà Đen làm phu bốc vác”. Chúng tôi thấy không nên hỏi kỹ. Cứ theo cách nhìn tướng mặt, nghe giọng nói, chúng tôi đã đoán biết họ là ai, nhưng để bụng, và tỏ lời hoan nghênh, mời họ sống chung bãi, chung đời. Cứ vậy qua đi ít ngày đêm, tri kỷ gặp tri kỷ, dang rộng cánh tay mà ôm ấp nhau, dốc tâm can ngỏ tình, ngỏ trí với nhau. Thì ra họ đều là tàn quân của Hoàng Hoa Thám, Tán Thuật, Cai Vàng, và nghĩa quân của sứ quân núi rừng Việt Bắc. Giặc Pháp truy lùng ráo riết, những anh hùng tráng sĩ này tìm cách vào thủ đô Hà Nội, nhìn thẳng mặt kẻ thù. Với họ, chúng tôi đang nhanh chóng trở nên bạn chí thân, không có rượu thề, mà có thể sinh tử cùng nhau.
Tất cả bọn họ, nam như nữ, đều võ thuật cao cường. Chúng tôi được họ truyền cho dăm ba miếng phòng thân cực kỳ đơn giản và hữu dụng. Còn côn kiếm thì xin miễn. Anh Bảy Thụ, người thầy, bậc đàn anh của họ, nhìn chúng tôi lộ vẻ ngạc nhiên. Tôi đáp:
- Chúng tôi lúc nào cũng sẵn côn kiếm ở đây rồi. Mà tất phải học thêm.
Tôi vung chiếc bút máy lên theo đường kiếm. Anh Bảy Thụ cười vang.
Chúng tôi với họ chung sống đã một năm qua không thấy xảy ra việc gì khác lạ, ngoại trừ trường hợp một vài người trong bọn họ vắng mặt, lần này vài ba tháng, khớp với những tin báo chí đăng rùm beng: vụ anh công sứ miền Trung bị treo cổ, anh tổng thư ký phủ toàn quyền miền Nam vừa bị ám sát hay bị bắt cóc, hoặc lần khác, viên thanh tra mật thám Pháp công cán ở Sài Gòn, bị một lưỡi dao găm cắm trúng lưng giữa phố phường đông như hội.
Chúng tôi, trước những biến cố ấy, không hề han hỏi, mà chỉ theo dõi tâm tư anh Bảy Thụ qua ánh mắt sáng ngời, nụ cười bí hiểm của anh.
Cuộc chung sống này không được dài ngày. Rồi sự chia tay cũng đến, tất nhiên và bình thường như mọi cuộc chia tay trên vạn nẻo đường chinh chiến.
Lại một ngày mưa. Bọn tráng sĩ ấy nắm chặt tay chúng tôi rồi dũng mãnh lên đường. Họ vào Nam chiến đấu.
Bãi cát An Dương này lại chìm vào yên lặng rùng rợn của cái chết từ trời đổ xuống hay từ dưới đất nhô lên.
Trước kia, dốc đê đổ xuống bãi An Dương cũng to như bây giờ. Giặc Tây đề phòng dân bãi mà chúng luôn nghi là cộng sản nổi dậy thì chúng sẵn sàng lao xe quân sự xuống dẹp liền bằng sức mạnh. Trên hai đoạn đê bị cắt xén, chúng ngày đêm đặt hai tên lính lê dương, trung liên sẵn cầm tay, xả đạn xuống người dân nếu ban đêm không cầm chiếc đèn gió hoặc đèn hoa kỳ ở tay lủng liểng giơ cao lên khỏi đầu đủ ba lần. Và ban ngày, đạn trung liên cũng xé xác người dân bãi, nếu tên lính đã ra lệnh cho người dân đứng lại mà không líu ríu tuân theo.
Tôi đã chứng kiến cảnh một người đàn bà đau đẻ, tay ôm bụng, tay cầm cây đèn hoa kỳ cạn dầu khô bấc, lập cập run rẩy loạng choạng tiến đến chân tên lính, tay chưa kịp giơ lên thì một trận gió to thổi tắt ngọn đèn, và tiếp đến một tràng đạn xé trời khuya, người sản phụ ôm bụng trên vũng máu. Tên lính lê dương mặt đen ngòm trong bóng tối, thản nhiên giương đôi mắt trắng nhìn cái xác cười.
Chờ đến sáng hôm sau, chúng tôi lặng lẽ đào hố chôn mẹ con người xấu số. Chị có chồng, một người đàn ông, tiểu công chức, không văn hóa, nghiện cả thuốc phiện lẫn rượu, thịt chó, hay đánh vợ. Tối hôm ấy, ngày lãnh lương anh ta được bạn đồng nghề rủ nhau đi đánh chén say bí tỉ, rồi kéo nhau sang Gia Quất hát cô đầu. Người vợ chết đúng lúc anh chồng đang say rượu, phiện trong vòng tay gái hồng lâu. Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa. (Âu cũng là tiền định, tôi viết truyện Ở bãi, truyện Tội lỗi ngoài ngưỡng cửa đăng Tiểu thuyết thứ Bảy, cách đây hơn 50 năm rồi).
Ngày nay, tôi lại tái hồi dải bãi sông oan trái An Dương. Nhưng tôi không hề oán giận bãi cát mát mịn màng, những bóng cây xanh rờn trên dòng nước Nhị Hà lặng lẽ từ thượng nguồn ngàn dặm xa xôi chảy về xuôi rung lên tiếng hát ngàn năm đất Việt.
Tôi tự hào vì bãi đất An Dương. Tôi tưởng tượng xưa kia chính bãi An Dương này là bến Bình Than mà đại danh tướng Trần Quốc Tuấn cùng các quan văn võ hội quân và họp bô lão xin ý kiến toàn dân hòa hay chiến.
Cờ chiến nhà Trần bình Nguyên Mông kéo đỏ bến nước Bình Than. Ngựa hí, quân reo, bước đi rầm rập của các danh tướng Trần Khánh Dư, Phạm Ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng đã khua vang trời nước An Dương kín đáo. Và cũng chính ở khúc sông Nhị Hà này, sau đó danh tướng Trần Khánh Dư đã thủy chiến, chặn quân Nguyên, cướp hết lương thực. Nguyên Mông đại bại, lưu lại mấy ngàn xác chết trên dòng sông Hồng đã đỏ lại pha thêm máu đỏ.
Khúc sông mang dấu ấn lịch sử này, ngày nay không còn những đám mây xây thành soi bóng nước vỗ bờ lau, không còn vang vọng tiếng thét oai hùng của cậu bé Trần Quốc Toản vừa bóp nát trái cam vì tức giận lệnh cấm ra quân của phụ hoàng, nhưng tiểu chiến tướng vẫn ra quân dưới lá cờ thêu kim tuyến dòng chữ lớn: “Phá cường địch, báo hoàng ân”.
Bài ký ngắn ngủi này mang nặng nỗi quan hoài thắm thiết của tôi đối với dải bãi bến phù sa An Dương kể từ ngày tôi cùng mấy anh em văn nghệ Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Nguyệt Hồ, Viễn Khách - sống ẩn náu ở đây ngót hai năm tránh Tây, tránh Nhật, nghe thiên hạ sự.
Thế rồi lại chia tay! Chiến sự bùng nổ vang trời. Người lên Việt Bắc, kẻ vô Nam, kẻ về tề. Viết, vẫn viết, viết trước họng súng, đầu lê, lặng lẽ, nghiến răng mang cái tị hiềm khó giải, tề nhân.
Tôi đã là tề nhân gần hai năm chui bờ rúc bụi, viết Đất, Xã Bèo, Người của đất đồng thời viết cả trường thiên phóng sự về đời sống khốn nạn của văn quan, võ tướng xã hội Sài Gòn, với nhan đề Xóm Rá (1953).
Viết xong Đất, Xã Bèo, tôi viết một cụm hai truyện dài Cầu Sương, Quán Gió. Nội dung đề cập đến số phận hẩm hiu của người phụ nữ giai cấp tư sản trong ngày chiến. Cô gái khuê môn không hiểu lòng chồng, dẫn đến phụ chồng.
Xin trở về với bãi bến An Dương. Hồi mấy mái tóc xanh còn chụm vào nhau chung đèn chung bóng. Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, ba nhà thơ sục sôi lòng cách mạng, ngày đêm bàn cách lên chiến địa. Trần Huyền Trân khẽ nói lên cái day dứt của lòng mình:
Nằm đây thép gỉ sơn mòn
Cái đi đi mất, cái còn lần khân
Thẫn thờ thẹn gối, e chăn...
Các anh đã lên chiến địa. Các anh đã làm những cánh chim thỏa chí lớn hải hồ. Các anh đã vì nghĩa cả. Tôi cũng từ lâu, xoa mái tóc bạc này, nhằm câu chiêu niệm. Thế sự vãn du du, rồi cũng đi vào ảo giác.
Tôi mệnh chưa cho chết, sống quá đủ rồi. Mong đi. Đi về đâu? Về đâu? Nào biết.
Giờ thì tôi lại ở bến bãi An Dương “Cây đa bến cũ, con đò khác xưa”. Về đây ở với lũ con trai. Cả ngày nằm giữa Hồ Tây, Nhị Hà đọc sách. Đầu óc mỏi rồi, trí nhớ thui rồi, mắt mờ rồi. Sợ đọc, viết, cố ngồi, cố viết, tay quá run, chữ không thật nét, coi như làm cái việc “rửa bút cùn, lau kiếm gỉ”, viết với tâm tình băng giá của một ông già. Viết nhiều, viết ít, viết gì đi nữa, chỉ là những dòng chữ biệt li. Tôi nghe như sắp ra khỏi kiếp tục gửi trong cõi tạm.
Ngòi bút lê đến đây, ngậm ngùi tưởng như những cành lá khô rơi rụng cuối nẻo đường văn nghiệp.
Tôi sực nhớ câu thơ trong thiên trường ca của Lý Thương Ẩn, danh sĩ Thịnh Đường.
Sen tàn nghe rốn tiếng mưa thu
Tôi đắc ý với ý thơ, lời thơ tuyệt hảo này. Mỗi lần nhắc đến, lệ hoen má hóp. Xin mượn câu thơ họ Lý khép bài ký ngắn ngủi này và cũng luôn thể kính chào bạn đọc cố hữu cáo chung nghề cầm bút của tôi.
Kể từ nay, tôi sống những ngày tàn không tác phẩm nhưng bù vào cái bất hạnh ấy, xin được phép vui mừng báo với quý vị là tôi làm cha một lũ năm trai, một gái, làm ông nội, ông ngoại một đàn mười lăm, mười sáu cháu.
Chỉ còn hận chưa có mống chắt nào.
Thì tháng trước, giữa mùa xuân cô cháu dâu, trưởng tộc của tôi cho ra chào đời một thằng chắt khỏe mạnh kháu khỉnh.
Tôi mừng và nghĩ đến cái truyện ngắn, rất ngắn, rất hay của nhà văn Nga M. Gorki. Truyện rằng:
Một đoàn người đi phá hoang. Trong đoàn có một người đàn bà đau đẻ khi đi qua bãi bể sóng gió ầm ầm. Người sản phụ đau quá, ngã gục trên bãi sông. Ai giúp đỡ bà? Không ai cả. May, trong đoàn có nhà văn Gorki. Ông xoay trần giúp sản phụ cho ra chào đời một chú bé thiên thần. Chú bé khỏe mạnh, cứng cáp, quẫy đạp, khóc vang. Nhà văn hào ôm chú bé thiên thần, nhảy xuống sông, dìm chú xuống làn sóng nước mặn nồng, nhấc lên, dúng xuống đủ ba lần.
Chú bé khóc to hơn, vang vọng cùng tiếng sóng liên hồi vỗ vào đất nước Đại Nga. Còn thằng chắt nhỏ của tôi, thưa các vị, cũng khôi ngô tuấn tú, cụ và chắt rất hợp nhau. Cụ già rồi, nhưng cũng cảm hứng như văn hào Gorki muốn ẵm chắt lội xuống dòng sông Nhị, ba lần dúng nước, tắm rửa chắt ở Trường Giang, chào mừng đất nước Việt Nam anh hùng đổi mới.
Người Hà Nội, số 19/1996