Hà Nội Cũ Nằm Đây

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Số kiếp

❊ ❊ ❊

“Không! Thực là vô lý, chẳng đời nào lại có thể tin như vậy được?”. Linh mỉm cười với ý nghĩ ấy. Anh không giận ông lão coi tướng số nữa mà chỉ thấy thương hại. Rõ gớm ghê, cái lão gàn dở! Không biết lão chiếu theo ngôi sao nào trên thiên đình mà dám bảo rằng nội năm nay anh sẽ bị hổ vồ. “Phải giữ gìn, xa lánh những chốn ma thiêng nước độc thì may ra mới thoát”. Câu sau này, ông lão nói bằng một giọng an ủi khi thấy Linh có vẻ lo sợ.

Anh đã quăng cho ông già tờ một hào rách nát, không thèm nhìn lại xem ông già khốn khổ có nài anh đổi cho tờ khác lành hơn một chút không. Thoạt đầu anh ghét lão vô chừng, nhưng sau đi đã hết một vòng Hồ Gươm, tâm hòn bình tĩnh lại, anh mới thấy không có cớ gì để ghét ông lão vô tội kia.

Anh có quyền không tin lão. Anh có quyền tự tin rằng không có lý gì mình sẽ bị hổ vồ, bởi theo một lẽ rất giản dị là không bao giờ anh đi xa, anh không lên rừng, không leo núi, dù là cái núi đất trong vườn Bách Thú. Anh không muốn tin Trời bằng cái xã hội của anh. Trời ở xa, Trời vô hình. Xã hội ở quanh anh, là một xã hội có công lý. Anh đi làm một cách lương thiện lấy tiền gửi về quê nuôi vợ nuôi con, một năm một lần về làng bỏ món tiền dành dụm ra lĩnh cái sưu, đóng cái thuế dăm ba sào ruộng, vài mươi thước đất. Anh làm đủ bổn phận một người công dân. Không ai nỡ làm hại anh, bởi vì anh không có tội gì cho ai làm hại. Ngày hai buổi ở một căn nhà chật hẹp chui ra, thế rồi từ Bạch Mai, lên chợ Hôm, phố Huế, qua Hồ Gươm, qua Hàng Ngang, Hàng Đào, đến cạnh vườn hoa Hàng Đậu, anh đứng lại thở phào một tiếng rồi bước vào xưởng ô tô, hì hục làm cho đến giờ về. Lúc trở về anh lại qua bấy nhiêu phố, xa thì xa thực nhưng cũng nhiều hôm anh không thấy mình khổ lắm, còn thấy thích nữa. Hàng Đào, Hàng Ngang có biết bao nhiêu cô gái đẹp như tiên. Những cô tiên ấy không hề nhìn đến bộ quần áo vải xanh thợ máy của anh, nhưng anh cũng có quyền nhìn các cô để mà âm thầm thèm khát. Hồ Gươm có tất cả gió của trời, lành như hơi thở nhẹ của cô gái dậy thì. Anh phồng ngực lên hít gió trời để rồi lấy sức khỏe đi cho chóng tới căn nhà chật hẹp ở ngoại ô.

Nói đổ xuống sông... xuống biển có con hổ nào ở vườn Bách Thú sổng ra tìm kiếm anh trên con đường Bạch Mai - Hàng Đậu, thì người ta bắn nổ óc nó ra. Có lẽ đâu một tên dân lương thiện như anh mà xã hội lại nỡ để cho chết vì ác thú.

- Vô lý quá, vô lý quá, lão già tướng số kia! Lão chỉ có thể dọa nạt được người nhà quê, lão chỉ có thể làm khiếp đảm được mụ vú em, con sen, thằng nhỏ, chứ ta là một cây thông đứng giữa trời.

Linh nghĩ đến đó thì vừa vặn đến cửa ô. Trời sâm sẩm tối. Thế là sắp hết một ngày chủ nhật. Anh thấy tiếc cái ngày ngắn ngủi đã cho anh được nghỉ ngơi sau sáu ngày liền phải quần quật như một con trâu kéo cày. Tự nhiên anh có ý cần làm việc gì hay hay một chút để chấm hết cái ngày quý hóa như vàng này.

- Bác Linh ơi, cẩu hôm nay tốt lắm nhé! Vào chén cái đã nào!

Linh toét miệng cười với thằng cha gày gò đang đứng thái khoanh dồi chó. Có mấy hạt mưa rơi xuống gáy anh. Anh ngẩng nhìn mây đen trên trời, “chậc” một tiếng rồi cúi đầu chui qua cái mái gianh thấp vào trong quán. Anh gọi thịt và rượu. Rượu uống một mình trong quán vắng nhưng Linh vốn dĩ tâm hồn giản dị, anh chẳng nhớ ai mà cũng chẳng có ai để nhớ.

Mưa rơi lộp độp trên mái gianh. Gió lên, cuốn bụi trắng ngoài đường. Cây đèn trong quán đã sáng. Rượu say tà tà, Linh giằn cái chai không xuống mặt bàn. Những đoàn xe điện ngoài kia mờ mờ qua cặp mắt đỏ lim dim.

Thốt nhiên anh giật nảy mình vì vừa ngoảnh lại, anh thấy một cái bóng in trên vách. Bóng một con vật, nhưng đó là một con vật dữ tợn và to bằng... con hổ. Cái bóng ấy nhô lên, vươn dài ra, hai chân trước nhoai rộng, tựa hồ sắp sửa vồ Linh.

Một con hổ, ối trời đất ơi, bóng một con hổ! Con hổ ở đâu mò đến rình sau lưng anh? Gáy lạnh dợi đi, anh vùng đứng dậy. Một bước, anh nhảy ra tới ngưỡng cửa, dúi vào tay người đàn ông đứng thái thịt:

- Tôi trả tiền đây. Thừa thiếu thế nào sớm mai tôi đi làm qua sẽ tạt vào.

Trời mưa rào nhưng Linh tưởng là tạnh ráo bởi cơn say và nỗi sợ ngang nhau; anh đi giữa đường, dẫm văng mạng vào vũng nước.

Về đến nhà, anh thấy say thực sự. Đầu anh nhức và mệt như ốm. Anh ra vại nước mưa dưới gốc cau ngoài vườn, múc một gáo, uống một hơi. Nước vào lòng sướng và mát như khi người ta có tiền uống cả một chai “bia” ướp đá. Vợ chồng người chủ trọ về quê. Nhà vắng như một cái mồ. Anh đứng ngoài bậc thềm, tay vịn vào cánh giại.

Bóng tối đen đặc cả gian nhà hẹp, đồ vật không thấy rõ nhưng trong đó có hai điểm sáng lóng lánh khiến anh rợn cả người. Anh biết hai điểm sáng ấy không thể giết được anh nên anh cố tĩnh tâm, rón rén bước vào bật diêm thắp ngọn đèn con. Gian nhà sáng lên, hai điểm sáng tức là cặp mắt bằng kính của bức tranh con hổ trên ban thờ, mờ đi. Con hổ vẽ trên mảnh giấy nom lành tựa một con mèo! Linh mỉm cười tự chế giễu tính nhút nhát của mình. Anh thổi tắt đèn, đi ngủ. Giường anh nằm, vô phúc quá, lại kê dưới ban thờ Hổ tướng. Vợ chồng người chủ trọ muốn dành riêng cho anh nằm chiếc giường ấy, vì anh là trai xa vợ tất chay tịnh. Còn vợ chồng bác và đàn con nhỏ thì nằm cái giường kê phía bên kia. Muốn kính cẩn đức Hổ Tướng hơn, vợ chồng bác đã chắn ngay đầu giường một tấm phên, như thế để Ngài xa cách uế nhân tục vật. Tối quá, tối mù mịt, anh cố ngủ, song vẫn thao thức, giấc ngủ không đến với anh. Nằm mãi một bên, anh thấy mỏi, phải xoay mình lại. Mắt anh tự nhiên hé ra nhìn cặp mắt hổ sáng trên ban thờ. Anh có cảm tưởng cặp mắt ấy đang nhìn anh, cái miệng ấy đang há ra với những cái răng sắc! Tức thì đầu anh lại nóng bừng lên vì nghĩ đến những câu nói của ông lão coi tướng số. “Ta sẽ bị hổ vồ nội năm nay! Trời ơi, khốn khổ cho ta! Nhưng có đời thuở nào lại tin như vậy được. Không, không bao giờ...

Nghĩ ai oán thế rồi anh tưởng chừng lên cơn sốt. Anh chống tay ngồi dậy. Một lát anh đứng lên rón rén bước... Làm gì bây giờ. Anh sờ soạng tìm cây đèn con, song tối quá, mà có lẽ anh cũng quên mất cái bàn kê ở chỗ nào, cây đèn ở chỗ nào vả tay anh run lắm, không chắc có bật nổi que diêm. Anh đứng yên một lúc rồi chẳng biết nghĩ thế nào, anh chạy ra sân, chạy ra ngoài ngõ. Đêm ấy, anh vừa đi vừa ngủ ở ngoài đường.

Đã đến ngày chủ nhật. Một ngày vàng bạc cho cái xác thịt lao động nghỉ ngơi. Linh lại đi chơi phiếm trên những con đường cũ, nhưng khi đến cửa sở làm, anh vui chân tiến thẳng lên một con đường râm mát nhất của Hà thành. Con đường ấy đưa anh lên vườn Bách Thú.

Đứng mãi xem lũ khỉ độc cũng chán, anh tha thẩn đến chỗ khác. Ối chao! chỗ này có một mùi gây gây gớm chết. Anh toan lùi lại, nhưng tính hiếu kỳ cứ bắt anh tiến lên vài bước nữa. Hai con hổ! hai con ác thú hiện ra bằng xương bằng thịt, chứ không phải là cái bóng con chó luộc trong bếp nhà hàng thịt chó buổi chiều hôm nọ. “Rõ khiếp! Con hổ to thế kia, răng sắc thế kia, vuốt nhọn thế kia nó mà tóm được mình thì sống làm sao được! Nhất là hai con mắt, đỏ ngầu vì khát máu, mẹ ơi, hai con mắt giống hệt hai con mắt của bức tranh hổ trên ban thờ nhà trọ!” Linh run cả mình như chiếc lá trên cây.

Anh tròn mắt mà nhìn những chiếc chấn song sắt. Chả mùi mẽ gì những chiếc que sắt ốm yếu ấy! Những bàn chân kia, những chiếc răng kia có thể bẻ, có thể nhai vụn nó ra như cám.

Hai con hổ ở hai chuồng, đi đi lại lại. Thỉnh thoảng chúng dừng nhìn anh gờm gờm. Mồ hôi túa ra khắp cả mình, anh vội lui, nhưng miệng vờ huýt sáo, làm bộ mình bất chấp.

Anh lại đi trong phố, qua phố Hàng Ngang, Hàng Đào. Vẫn từng nấy những cô con gái ngồi xé lụa. Anh lại qua Hồ Gươm, bên gốc liễu đã thêm và bớt đi biết bao nhiêu màu áo, vui thay, vui thay! Những con bướm của trời. Vậy mà anh không còn được sống mãi mà ngắm những con bướm trời xinh đẹp ấy. Anh sẽ bị hổ vồ, hổ xé. Ý nghĩ não nùng này nhường chỗ cho một ý nghĩ điên khùng, liều lĩnh khi anh qua cửa đền Ngọc Sơn. Ở dưới chân cái tháp bút cao chót vót kia, lão già coi tướng số vẫn ngồi. Lão ngồi yên lặng như pho tượng bên chiếc tráp đen, vài ba cuốn sách chữ Nho cũ nát, một chuỗi chân gà khô như người lão. Con người vô dụng như pho tượng ấy sao còn có thể làm cho anh khổ sở, sợ hãi vì cái ám ảnh “sẽ bị hổ vồ”? Anh rất hối hận sao đã để quỷ đưa đường ma dẫn lối, la cà đến hỏi lão về tương lai số phận của anh. Anh ước ao giết ngay được lão mà không bị tội tù gì thì hả quá.

Một người cảnh sát đi qua. Người cảnh sát ấy nhắc thầm anh nhiều thứ lắm, nên anh đi vội về nhà.

Trời còn sớm. Vợ chồng người chủ trọ lại về quê làm ma mẹ. Anh mua một chai rượu và gói lạc rang ngồi nhấm nháp. Uống hết chai thì vừa vặn say. Bức quá, anh ra sân đứng nhìn mây để chờ mưa, hay một cơn gió giông.

Trời sấm chớp ầm ầm. Gió lên. Gió mát quạt lạnh cả thịt da. Mưa đổ xuống. Gió mạnh hơn thành cơn bão. Càng tốt, anh bằng lòng lắm, tức thì vào giường ngủ.

Trời tối dần dần. Cặp mắt của đức Hổ Tướng lại sáng lung linh nhìn thẳng xuống anh. Không sợ! anh quyết thế, và anh đã dậy vặn to đèn. Tinh thần bình tĩnh hơn mọi hôm nên giấc ngủ dễ dàng đến với anh ngay.

Bỗng giữa cơn mưa bão, có một tiếng vang lên như sụt đất. Chao ôi, bức tường gạch của một nhà giầu bên hàng xóm đang xây dở bị gió bão làm ụp xuống. Bức tường cao lắm, sức nặng như trái núi đổ nhào xuống căn nhà lá ốm yếu tựa bộ xương hom.

Người thợ máy say rượu đang ngủ ngon lành dưới mái lá bị bức tường gạch chôn vùi, chết ngay trong đó, không kêu được tiếng nào. Mà có lẽ ngủ ngon lành quá anh cũng không ngờ mình đã chết.

Sáng hôm sau, mưa bão dứt cơn, bà con lân cận và gã nhà giầu có bức tường đổ kia mới biết, và vợ chồng người chủ trọ mới ở nhà quê ra. Họ xúm lại bới đống gạch ngổn ngang. Họ thấy một người say rượu đầu dập mấy mảnh, và, một sự lạ lùng, là trên xác chết có bức tranh Hổ Tướng.

Nhấc bức tranh lên, người ta thấy ở miệng “Ngài” đỏ ngòm máu tươi.

* * *

Linh đã chết như lời lão già coi tướng số.

Nhưng anh không mất xác, bởi vì anh không dám... lên rừng.

(Đăng Tiểu thuyết thứ bảy số 319/1940)

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026