Hà Nội Cũ Nằm Đây

Lượt đọc: 133 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Ông bạn ngày mưa

❊ ❊ ❊

Tôi ở một khu trại ngoại thành Hà Nội. Những cơn gió bấc ở đây thường lạnh hơn trong khu vực phố phường nhiều hơi người và hơi lửa.

Một chiều kia mưa gió lạnh buốt khiến tôi tưởng đến một miền cát ướt đầy lau sậy, vang dồn tiếng sóng buồn xa xa mà tôi đã sống thuở ấu thơ.

Những lá cây dừa quanh trại reo múa, đập phành phạch vào nhau suốt đêm ngày càng đem hơi giá đến cho căn nhà cổ mốc meo, cây cỏ leo cả lên những bức tường lở và mái ngói cũ nát.

Tôi ở một mình, kẻ hầu là người đày tớ già xưa đã hầu hạ song thân tôi ở quê nhà. Đang đau yếu, tôi lấy nơi này làm chỗ an dưỡng. Thóc gạo, người bõ già cách vài tháng lại về quê tải ra, chuyện cơm áo vì vậy không làm tôi phải bận tâm. Bạn bè với tôi chỉ là bút sách bởi cả ngày không có một vết chân người lạ vào đây.

Những buổi chiều, ngồi trong cửa sổ mà nghe tiếng gió ngoài vườn và nhìn bóng tối mênh mông tôi có cảm giác mình đang ở một cái thung lũng sâu tối vô cùng, không bao giờ thoát được lên. Tiếng ho khù khụ của ông Bồng đi so ro ngoài vườn nhiều lúc khiến tôi vội đưa bàn tay lên ngực và thấy cổ ngứa ngáy khó chịu.

- Ông Bồng, ông ho nhiều quá!

Người bõ già những khi nghe tôi nói vậy thì ngẩn mặt ra rồi cúi đầu xuống, bước vội đi. Sau đó một lúc lâu tôi không thấy ông ho nữa. Có lẽ ông nể sợ tôi mà cố nhịn. Do thế nên mỗi lần ông bật lên ho là sặc sụa và thở hổn hển.

- Ông lấy thuốc của tôi mà uống. Đừng để thế, lỡ ra...

Tôi nhận thấy ý lo sợ thoáng hiện trong đôi mắt lờ lờ đục. Một lúc, ông mới đáp, giọng khàn khàn:

- Không sao ạ. Giở trời thì sinh ho đấy mà. Mai kia nắng ráo thì lại khỏi.

Tôi để ý xem ông Bồng có để bát đũa của tôi riêng ra không. Nhưng ông không để riêng, ông vẫn dùng chung với tôi, làm như cả thày trò cùng khỏe mạnh. Tôi không bằng lòng. Ông đáp:

- Có mệnh trời hết cả. Cần gì phải giữ gìn quá thế. Xưa cháu hầu cậu Cả. Cậu mất đã ngót mười năm nay mà bây giờ cháu đã sao đâu.

Sự hy sinh của người đầy tớ trung thành khiến tôi mủi lòng.

- Vả lại, cháu già yếu rồi, tiếc gì đời.

Trời đất càng thêm lạnh. Ông Bồng săn sóc luôn luôn cái hỏa lò than nóng đặt dưới chân giường hay gậm bàn tôi ngồi viết. Mưa bay trắng ngoài cỏ, cây. Một buổi chiều, ngủ dậy, tôi thấy lạnh quá, thèm uống một vài chén rượu.

Hơi men hâm nóng sinh lực lên một chút, ngâm vài câu thơ chơi thì còn gì thú bằng. Tôi ngỏ ý muốn với ông Bồng. Ông ta giật mình như nghe tôi đòi thuốc độc.

- Vâng chính là thuốc độc đấy cậu ạ. Cậu Cả ngày xưa cũng hại vì rượu mau hơn vì bệnh.

Vẻ mặt và giọng nói nghiêm trang trong đó chứa cả nỗi xót xa cố chủ khiến tôi phải bỏ ngay cái thèm giải sầu bằng men say.

Một buổi chiều, mưa gió vẫn triền miên như những ngày lạnh trước, tôi ngồi đọc sách, chăn chùm đôi vai tê buốt vì tiết trời. Ở chỗ tôi ngồi có thể trông lên con đường cao bên ngoài cổng trại.

Tôi thấy một ông già. Ờ, vẫn cái ông Tây già đội mũ nồi, mặc cái áo tơi vải cao su vàng, lê chiếc ba toong bằng song khá lớn, còn bộ quần áo bên trong thì chưa bao giờ tôi thấy ông thay bộ dạ màu vỏ dưa đã cũ.

Mọi chiều, ông ta qua trại tôi đúng vào cái giờ sẩm tối này, và tôi để ý, lần nào ông cũng dừng lại một phút nhìn vào rồi lại lẵng lẽ mà đi. Điều đáng chú ý là ông đi bộ, dù mưa to cũng vậy. Ông đi đâu? Tôi không biết, vả đó là một sự không cần biết.

Thế mà lần này, ông già kia chống gậy lững thững vào trong trại tôi. Ông ngắm gốc cây này, khóm hoa khác, làm như vào nhà mình vậy. Con Diane, con chó săn dữ đòn nhất của tôi nhảy xổ ra. Tôi chưa kịp quát gọi con chó thì ông khách lạ, điềm nhiên như thường, thu cái ba toong kẹp vào nách, khom cái lưng gày còng, giơ một bàn tay ra hiệu vuốt ve con vật, miệng chúm lại khẽ huýt sáo. Dáng điệu ấy có một vẻ thành thạo của con người không biết sợ là gì, hơn nữa, còn vẻ thành thạo của người đã từng chơi chó săn như kẻ khác chơi gà, chơi chim.

Con chó dữ là thế, tức thì vẫy đuôi hít hít bàn tay ông ta. Ông mỉm cười, tiến vào phía cửa, đứng ngoài hiên, rũ nước mưa trên áo, lau đế giày vào chiếc thảm dừa, rồi gõ rất từ tốn vào cửa phòng sách tôi đang ngồi.

Tôi tiếp ông già. Ông cởi áo mưa treo lên mắc. Lạ điều nữa, cái mắc áo nhỏ lẩn vào một chỗ khá kín đáo ở góc tường, sao ông ta không cần đưa mắt tìm tòi cũng biết được và tiến thẳng ngay đến nó.

Ngắm cái lưng còng già rồi nhưng bề ngang còn to; đôi đùi ngắn thấp, song bước đi quả quyết, vững chãi chậm chạp như đo đếm từng viên gạch, tôi vụt nghĩ ngay đến mấy phim Mỹ, ông già thám tử Charlie Chan dáng điệu cũng lừ lừ và bí mật y như vậy.

Nói thực, cảm tưởng của tôi giây phút đó là hơi khó chịu. Tôi đã nghĩ cách cần đối phó với người khách quái gở này.

Nhưng sự phải đến khả quan hơn ý nghĩ đề phòng. Ông già xoa hai bàn tay gân guốc, mỉm cười, ngồi xuống. Trước khi ngồi, ông không quên xin phép bằng mấy câu lịch sự khiêm tốn.

- Ông cho tôi tự giới thiệu. Tên chính tôi có lẽ khó đọc, khó nhớ nữa, vậy xin ông cứ yên trí người bạn già - nếu ông cho phép tôi được nói vậy - tên là Goro.

Ông ta ngừng lại. Đôi mắt hiền hiền, cặp môi mỏng che bằng bộ ria đã chen sợi trắng, phác một nụ cười khả dĩ cho là nụ cười bộc lộ rất hồn nhiên cái tâm tính một kẻ không cần để mình đề phòng lắm nữa.

Ông ta tiếp, vẫn giữ nụ cười:

- Trước kia, đã lâu rồi, tôi là viên chức một công sở ở Phnom Penh, sau đó tôi thôi sở, ra làm thương mại. Tôi đã dùng đôi chân khỏe và chiếc gậy cố hữu này để chạy khắp Đông Dương, cái xứ sở quý hóa đầy nhân tài, đầy vàng ngọc của ông...

Ông lại ngừng lại. Tôi khẽ nghiêng đầu cám ớn lời ca ngợi đó, dẫu rằng lời ca ngợi nào cũng tất phải chứa những danh từ hoa mỹ. Nhưng một người Pháp thuộc dịa khi nói câu ấy ắt phải có quyền thành thực. Mà một người Việt Nam như tôi sao lại không có quyền ngẩng cao mặt lên để cũng thành thực và kiêu hãnh nhận rằng đó là cái vinh dự dĩ nhiên của xứ sở tôi từ bao nhiêu thế kỷ nay - một vinh dự, một sự thực mà bất cứ người ngoại quốc nào, nếu đã nhận xét, đều không chối cãi.

- Tôi làm thương mại ở đất nước ông đã mười năm nay. Tôi đã được lạc quan nắm chặt tay người Việt. Tôi hiểu họ, tôi yêu họ. Một dân tộc này muốn hiểu một dân tộc khác, khó gì đâu. Không có gì xa cách cả, chỉ có những tấm lòng. Khi những ý nghĩ, những tấm lòng khác huyết mạch đã gần nhau, người ta mới có thể nói đến cái gì là đại đồng, là nhan loại. Ấy thế mà... A ha! cảm ơn chủ nhân, cảm ơn lão bộc. Nước trà gì đây? Trà tây hay trà mạn? Tôi thì tôi ưa dùng cái thứ trà mạn pha loang loãng, uống buổi tối tốt hơn cà phê nhiều.

“Có phải vậy không, ông già!”

Câu sau này, ông ta nói tiếng Việt. Giọng lưỡi sõi lắm. Bàn tay nổi hằn gân giơ lên đập thân mật vào vai ông Bồng để chấm câu nói và tiếng cười sang sảng.

Ông Bồng thấy ông khách thân mật một cách dễ dãi thế, có vẻ hân hoan lắm. Tôi đưa mắt cho ông Bồng lui ra. Tôi cũng tìm vài câu chuyện giản dị tiếp khách. Khách đến chơi nhà đột ngột, tôi muốn nghe hơn là cần nói. Vả ông khách của tôi nói cũng khá nhiều. Không khí không vì sự gìn giữ của tôi mà tẻ nhạt.

Uống xong hai chén nước, ông già đứng dậy xin lui. Tiễn ra cửa, tôi chưa kịp mời khách đến chơi lần sau, ông đã nói:

- Mai, giờ này, tôi lại đến thăm ông. (Ông ta ngảnh về ông Bồng, nói tiếng ta). Lão, lão lại đãi tôi một ấm trà mạn nóng nữa nhé. (Ông ta vừa mặc áo tơi vừa nhìn thẳng vào mắt tôi) Trời đất lạnh lẽo như thế này mà không có một nơi ấm áp, một người kể được là tri kỷ để nói với nhau vài câu thì còn lạnh biết bao nhiêu. Tôi ít bạn, nếu nói là không có ai (Đầu ông già cúi xuống, cúi xuống. Bỗng ông ngẩng vội mặt lên) Ồ, ngoài trời rét nhỉ!

Trong bóng tối hoang mang đổ với mưa chiều tôi nhận thấy răng ông già cắn chặt lấy vành môi dưới. Và bàn tay ông, có lẽ run, không biết có phải vì rét không, nắm tay tôi thật chặt.

Ông bước ra ngoài mưa. Bước chân vẫn quả quyết chắc chắn, như đang đo đếm. Có lẽ đây là con người đo đếm chiều ngang rộng của đất trời đó chăng!

* * *

Quả nhiên, giờ ấy hôm sau, ông già đến nữa.

Lần này, ông đến với tư cách một người bạn. Mưa làm áo tơi ông ướt sũng. Ông cười to, từ lúc chùi giầy, với con Diane và lão Bồng. Lúc vào phòng, ông vỗ vai tôi (sau này, tôi nhận thấy ông có cái thói quen ấy khi tỏ điều gì thích ý), ông móc túi áo tơi lôi ra một vật, đặt lên bàn.

Ông Bồng đã đun nước sẵn, pha ngay trà bưng lên. Ông già bằng lòng về sự tiếp đón này lắm, nhìn chúng tôi một cách cảm động.

Uống trà xong, ông tháo giấy bọc, lấy ra hai chai rượu Tây. Một chai, ông bảo tặng tôi, một chai ông mở nút. Ông tự ra buffet lấy hai chiếc cốc. Lâu lắm mới ngửi mùi rượu, nhất là cái thứ rượu Tây hạng tốt này, tôi để mùi thơm thừa sức quyến dỗ, như mùi hoa quyến rũ con ong đói.

Tôi vừa đưa cốc lên môi thì ông Bồng vào. Tôi không muốn ngảnh lại, nhưng biết rằng ông sợ hãi lắm. Tôi uống một ngụm hết nửa cốc. Tôi để ý đến tiếng guốc của ông sau lưng tôi.

- Cậu! Sao cậu lại thế...

Giọng quở trách của ông tự nhiên khiến tôi tức giận. Trước nay, tôi vẫn thường nể người đày tớ già. Lão trực tính, cái gì cũng nói ngay. Nhưng trong trường hợp này, tôi thấy tôi bị lão uy hiếp. Ý nghĩ ấy đưa sự tức giận đến sự liều lĩnh, cáu kỉnh. Tôi ngảnh lại, trợn mắt nhìn ông như đe dọa một kẻ dưới hỗn hào. Ông lão nhìn tôi buồn bã, rồi cúi đầu quay ra.

Tôi uống với người bạn già hết cốc này sang cốc khác. Rượu mạnh, chúng tôi uống không pha nước lọc.

Ông móc túi lấy chiếc tẩu thuốc lá. Chiếc tẩu khá lớn, kiểu đẹp, bóng mồ hôi tay. Bấy giờ gian buồng đã tranh sáng tranh tối. Ánh lửa lòng tẩu lóe lên làm sáng đường sống mũi dài và láng lên tảng trán hói. Nạm thuốc đượm lửa se thành tiếng, và tiếng “bập bập” ở môi ông già khiến tôi, trong khi chú ý ngắm cái khuôn mặt choắt lưỡi cày của ông, vụt nghĩ đến một loài rắn gì đó đang hút gió.

Tôi ngồi yên nghe hơi rượu mạnh ngấm vào mạch máu. Phải nói là tôi bắt đầu say thực sự. Còn ông bạn già vẫn tỉnh, duy đôi mắt ông lim dim, hẳn không vì rượu, mà vì khói lên đọng bờ mi mắt.

- Bữa nọ tôi đã kể với ông rằng tôi là thương gia đấy nhỉ. Ờ, xưa kia, tôi là một thương gia. Tôi còn làm nhiều nghề lắm, ở nước tôi, ở nước người. Tôi là một kẻ đi lang thang, làm ăn cần cù và nhẫn nại. Ông ạ, vàng bạc tôi kiếm được của trái đất này trong mấy mươi năm trẻ trung, một nửa đã bị mất trong một vụ đắm tàu, một nửa thành than tro trong một nạn cháy nhà vì chiến tranh ở châu Âu. Cái tin nạn sau này tôi mới biết.

Tôi tay trắng, nếu không kể ngôi nhà cuối cùng, tức là tất cả những gì là mồ hôi nước mắt của tôi; ngôi nhà đẹp quá, ồ, ông thứ cho cái lỗi tôi tự khen như vậy. Nhưng thực thế, ngôi nhà đẹp nhất theo tôi nghĩ, làm mất ít tiền thôi, giản dị thôi, vậy mà tôi thách tất cả các nhà kiến trúc, tất cả các tài năng thầu khoán có thể nghĩ ra một kiểu nào lạ hơn, dễ thương hơn thế nữa.

Ông bạn già ngừng lại úp hai bàn tay vào mặt, ông ngồi yên như vậy lúc lâu. Một lát ông bỏ tay ra, gõ cái tẩu thuốc vào cạnh bàn. Giọng ông thấp xuống, thầm thì như nói với mình:

- Than ôi, thật là tay trắng, thật là mồ hôi nước mắt ra sông. Tôi cần cù tha mồi, đắp tổ, thế rồi một phút nghịch ngợm độc ác của đàn con trẻ công trình của tôi bỗng sạch sành sanh!

Ông già lại gục đầu mãi xuống. Nhưng bỗng ông đứng phắt lên ngay. Ông không muốn tôi biết ông khóc.

Vội vàng ông mặc áo, chụp mũ ra cửa. Ông bắt tay tôi rồi vội đi ra mưa. Đứng dưới mái hiên nhìn ông ta khuất, tôi mới quay vào. Ông Bồng đã đứng sau lưng tôi. Đôi mắt ông nghiêm trang, buồn bã, và bực bội, như lúc ông can tôi uống rượu. Tôi thấy sợ đôi mắt người tớ trung thành bèn đi thẳng vào giường. Ông Bồng thắp đèn, tôi bảo thổi tắt đi, để yên tôi trong bóng tối.

Đêm ấy vào khoảng gà gáy canh hai, tôi ho nhiều. Ông Bồng ngồi suốt sáng dưới chân tôi.

* * *

Cách hai tháng sau, ông bạn già mới lại đến. Nhưng lần này vào một tối sang hè sáng trăng.

Tôi ngồi trong phòng sách. Ông đứng trước mặt tôi lúc nào không biết. Hơi rượu ở ông sặc sụa. Tôi đang đọc dở một cuốn tiểu thuyết của Stefan Zweig.

Ông già rầu mặt lại, gõ cái tẩu vào bàn tay (đó là dấu hiệu khi ông xúc động). Đầu ông gật gật, mắt nhìn ra những bóng lá in xuống mảnh sân xanh ánh trăng.

- Phải, phải... nhà văn mới tự sát hồi năm ngoái này là cây bút yêu thích của tôi đây. Tội quá! tội quá!

Ông bạn già không ngồi, cáo đi ngay, nói là có người đợi ở bên ngoài.

Tối hôm sau, trăng sáng hơn, tôi lững thững ra đường bách bộ. Ánh trăng giãi trên con đường bụi trắng, bóng tôi đổ lẫn vào bóng lá cây.

Đến một ngôi nhà lợp rơm, kiến trúc dân Chăm, tôi lại quen thói thường đứng lại. Ngôi nhà ấy mới dựng chừng một hai năm nay, tôi yêu thích lắm. Tôi đoán chủ nhân tất phải là tay lịch duyệt, đã già, đã trải sự đời, đã chán chường tất cả, về đây an dưỡng. Cho nên tuy chưa hề trông thấy chủ nhân lần nào, tôi cũng thầm kính trọng mỗi lần qua đó.

- Kìa, ông bạn trẻ tôi ơi!

Người vừa reo lên đó, ở một chỗ tối nhất đi ra. Ông bạn già tôi, ông bạn đã kể qua cuộc đời cho tôi nghe trong một lúc có lẽ lòng đau khổ nhất, cảm động nhất, tiếc hận nhất.

Ông thì thầm bên tai tôi:

- Đấy, cái cơ nghiệp cuối cùng trong cuộc đời cần cù của tôi đấy ông bạn ạ. Tôi gây dựng nó, để dưỡng tuổi già với vợ tôi. Vợ chồng tôi ở đây được vừa hai tháng. Ờ... ờ... đã có ít nhiều đêm trăng đẹp như thế này, đôi mái tóc trắng của chúng tôi đã sát vào nhau trên bao lan kia. Vậy mà ngày nay cơ nghiệp kia đã không thuộc về chúng tôi nữa! Ông bạn ơi! ông có hiểu tại sao không? Nhưng đó cũng chỉ là sự thường ông ạ. Việc tôi được hưởng hay không được hưởng nữa, âu cũng là ý trời. Tôi không phàn nàn gì cả. Duy chỉ còn tối tối, nhất là những đêm có trăng, tôi, có khi cả vợ tôi, nếu bà ta không ốm, thường qua nhà cũ để nhìn ánh sáng đèn quen thuộc dọi ra quãng đường vắng vẻ này.

Chợt ông già im lặng. Mắt ông mở to. Miệng ông mím chặt lại. Hơi thở ông rộn gấp. Cái gì? Tôi nhìn theo chiều mắt ông nhìn. Ở trên bao lan có hai cái đầu xanh. Tiếng hát êm ru của một người con gái bay ra ngoài. Bóng áo như bóng hoa qua lại bên rèm. Tiếng đàn vọng mênh mông. Tiếng cầm ca hay tiếng kiếm cung reo - tôi mơ đến một tiệc yến oanh của một tướng công nào thuở cũ.

Ông bạn già kéo tay tôi đi. Âm nhạc xa dần sau lưng tôi, xa và buồn như tiếng kêu của một đàn hải âu bay lang thang trên một vùng cát cồn sương gió.

Đến cổng trại ông bạn già nắm chặt tay tôi, từ biệt. Lần này, ông nhìn tôi lâu hơn mọi lần. Tôi lưu mời ông vào trại uống trà. Ông từ chối. Bóng ông, cong cong như một lưỡi liềm, mất vào những gốc cây quét vôi trắng.

Tôi vào nhà, cảm giác hoang mang như một kẻ vừa tàn cuộc rượu lúc xế chiều. Chiều xuống trong buổi đất trời gió bụi, hay trong cuộc đời tôi, đời ai.

Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 457-1943

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026