Ngày chủ nhật của ông cò-mi Thoại. Ông dậy sớm trước cả đám gia nhân để đánh giầy, chải áo, lau bàn ghế, đánh sàn si. Cả một tuần lễ, ông chỉ làm công việc ấy vào buổi sáng ngày chủ nhật. Bà cò-mi vẫn thường chau mày cự ông sao lại cứ làm cái việc bần tiện đó.
- Anh xe, anh bếp, thằng nhỏ, con sen, chúng cả ngày dửng mỡ đùa rỡn với nhau. Ông tranh cả việc, để chúng ăn hại cơm à.
Ông Thoại cười lớn:
- Ngày chủ nhật là ngày vận động, là ngày thể thao. Tôi cần làm, cho máu huyết lưu thông, cho bắp thịt nở nang. Bà cứ mặc tôi.
Bà đành mặc ông cởi trần trùng trục, đeo chiếc quần đùi cũn cỡn, bò nhoài ra mà đánh si sàn gỗ cho bóng đến soi gương. Ông thở hổn hển, nhìn sàn gỗ bóng lấy làm hài lòng lắm, mồ hôi chảy dòng dòng trên làn da xanh nhợt bọc bộ xương già, ông cò-mi lấy tay khẽ vuốt rồi lại hì hục lau chiếc đỉnh đồng tam khí hun đen mà cái đuôi con sấu trên nắp đỉnh cụt một tí đã khiến ông bực tức vì chưa có cách gì chữa được.
Ở phòng tắm bên cạnh, bà Thoại đang vừa ca vọng cổ mười sáu nhịp vừa lim dim mắt, ngửa bộ ngực nở căng hưởng cái thú vị của những tia nước như mưa rào xuống làn da trắng mởn. Và cô Oanh, cô Thúy, vốn là con gái đầu lòng ở dưới nhà cũng đang thét vú già đi mua phở đãi hai anh bạn trai là nhạc sỹ, vũ sư, sáng chủ nhật nào cũng đến huấn luyện cho Oanh, Thúy đàn ca, khiêu vũ. Rồi đó, tiếng đàn băng đô, tiêng ca hợp tấu, tiếng cười của những người sung sướng vì ân ái, của những người bị cù vì cuồng dục vang vang ở căn phòng kín dưới nhà đưa mãi lên tai ông Thoại.
Ông mỉm cười đứng dậy, xoa hai bàn tay bẩn, khẽ huýt sáo theo nhịp đàn hát của lũ trẻ và hai chân ông nhún nhẩy tiến ra cửa sổ, cúi nhìn đàn chim câu trắng đang gù nhau trên cây liễu lớn bên cổng sắt. Mấy cậu ấm con ông đang đùa dưới sân, hú tìm quanh gốc liễu; chúng xinh đẹp, khôi ngô, như một bày đồng tử. Ông cò-mi Thoại lấy làm hài lòng lắm. Bảy con tất cả. Trai gái đầy nhà. Vợ đẹp. Con ngoan. Cuộc đời như bức gấm. Ông là công chức thượng hạng. Lương cò-mi, rắp ben luôn luôn, mà lại là công chức lương Tây từ mấy chục năm nay ở Sở Bưu chính không phải là ít nhé. Phải, ông hàn Thoại đã hai chục năm, thời loạn như thời bình, vẫn ngồi như con cú già trong cái núi bưu kiện, hàng ngày ông thâu nhận để gửi đi khắp bốn phương trời. Cặp kính gọng vàng ngự trên khuôn mặt gày tái xanh soi mói vào tất cả những gói to gói nhỏ cặp chì, đóng dấu. Chưa bao giờ ông bị lỗi trong nhiệm vụ. Trước kia, sếp Tây thường vỗ vai ông, khen tốt. Thời cộng hòa, sếp ta bắt tay, bảo ông là anh đồng nghiệp lành nghề. Ngày nay, ông vẫn được hai chữ bình an, đúng giờ như cái đồng hồ bưu chính, sáng chiều còng lưng tôm cỡi chiếc xe đạp Peugeot cổ sơn đen, phanh đũa, đến Sở dán tem, đóng dấu, và về nhà lau bàn ghế, đỉnh đồng, hoành phi câu đối, đánh sàn si cho bóng loáng như gương. Và ông hả hê ngồi thu gọn dúm thịt xương trong chiếc ghế, lim dim mắt sau cặp kính gọng vàng ngắm bà vợ tuổi đã ngót ngũ tuần mà vẫn đẹp nõn nà, ngắm hai ả tố nga dẫu còn đi học nhưng đã cắt bỏ tóc thề để uốn xoăn và đánh đàn, khiêu vũ, nói tiếng Anh với bạn trai như đào Mỹ.
Hồi đầu, ông Thoại đã phản đối phong trào cách tân trong gia đình ông. Nhưng rồi bà cò-mi cùng hai cô con gái và các cậu ấm đã liên minh đánh đổ ông cò-mi như là người ta đã đánh đổ nền quân chủ thoái hóa và lạc hậu. Ông cò-mi bị thế cô, sau cùng nhượng bộ đến mức đành cư xử như người quân tử đối với việc đời bằng câu “kính nhi viễn chi” cho yên ổn.
Bà cò-mi điểm trang phấn sáp, ông rất vui lòng quạt cho bà, nếu chẳng may mất điện. Bà cò-mi vờn bồn nước trong buồng tắm, ông rất vui lòng vào kỳ lưng nếu bà truyền gọi, và sẵn sàng hé cửa đưa quần áo vào cho bà thay, nếu con hầu còn bận chạy đi mời các bà phán đến xoa mạt chược, đánh tổ tôm. Bà cò-mi đi hầu bóng, ông sẽ sung sướng đi theo để tấu lạy cô, nếu bà muốn trừng phạt ông về cái tội nhút nhát, dở hơi, lẩm cẩm, bằng cách cho ông mọc sừng trước con mắt lẳng lơ và cái giọng hát khiêu dâm của anh kép cung văn trẻ tuổi thì ông cũng chẳng cho cái đó có gì là quan trọng. Bà là con cái nhà thánh… nếu ông cung kính bà, sợ hãi bà, ấy là tỏ lòng thành kính của người đối với trời.
Hôm nay chủ nhật. Trời đẹp quá, nắng hoe hoe. Bà cò-mi tắm xong, thay bộ đồ ngủ mỏng như sương khói, bơm nước hoa vào nách, tẩm phấn vào kẽ ngón chân rồi đưa mắt nhìn bàn ghế, sàn si bóng loáng, khẽ gật đầu tỏ ý bằng lòng và nhẹ nhàng bước xuống cầu thang. Xuống nhà, bà gắt con ở đi mời khách mạt chược sao mãi chưa về, nhưng bà lại tươi cười âu yếm ngắm hai cô ả đang cùng hai cậu nhạc vũ sư luyện bài Săm ba mà tám bộ đùi cứ đá hất mãi lên như khi bà hầu bóng ông Hoàng, đức Mẫu.
Ở trên gác, ông cò-mi Thoại hả hê vào buồng tắm. Đoạn, ông ra ghế sa lông, mở tờ nhật báo đọc lần thứ ba cái tin đấu bóng tròn.
Bóng tròn! Ôi chao, đó chính là cái thú đặc biệt, cái thú độc nhất vô song của người quân tử với vợ con và lương thiện với cuộc đời, xã hội, trong những năm tàn của cái thế kỷ hai mươi khốc hại này.
Bóng tròn, thực là một môn thể thao quá đỗi bình dân lại vô cùng thượng võ. Mỗi tuần, chỉ bỏ ra có hai chục bạc để vào khán đài ngồi ngất ngưởng hút thuốc lá thơm, ngậm kẹo, ô mai, uống la-de, xem hăm hai cầu thủ biểu diễn những đường ban diễm ảo trên sân cỏ xanh mơn mởn, ông cò-mi cho như vậy là tuyệt thú. Ông đã được say xưa, khi hữu biên Khê, bé nhỏ nhưng tinh nhanh gan dạ, một mình xông xáo, dắt bóng đến cửa thành quân địch mà sút như trái phá vào trong lưới anh thủ thành người Pháp, lớn như hộ pháp, nhanh như con vượn, bổ nhào theo không kịp, đành ôm hận trước tài bách bộ xuyên dương của anh chàng Khê thần mã đó.
Bóng tròn, bãi cỏ xanh. Khán giả, trong đó có những ông già đầu bạc, chăm chú theo dõi bộ giò anh cầu thủ để cổ vũ hăng hơn cả anh lực sĩ; có những ả me tây mặc váy hoa ngồi lên đùi những ông râu xồm để vừa nhai kẹo, mút cà rem cây vừa la ó chửi cầu thủ Việt Nam đã dám xô ngã cầu thủ lê dương trong vòng cấm địa. Có những công nương khuê các chưa mất vẻ phù dung e lệ thế mà cũng vỗ tay cổ vũ, hò hét cuồng nhiệt hơn cả những ông lính mũ đỏ ngồi bên vừa đi nhẩy dù ở mặt trận rừng về, lại có cả những ông rất gầy còm, cò lả như ho lao sắp chết thế mà trong giây phút hào hứng hay phẫn nộ cũng đập chân, đập tay chửi cầu thủ là “vendu” và chỉ về phía trọng tài mà thét “Sortez arbitre!”.
Ông cò-mi giây thép của chúng ta đã có tất cả cái phong độ yêng hùng, tất cả cái cuồng nhiệt hung hãn, tất cả cái hào hứng hồn nhiên, cái say sưa trẻ nít của đám người rất nhộn nhịp, rất phiền phức đó. Bởi vì ngày chủ nhật là ngày của Bóng tròn, nghĩa là của bãi cỏ xanh, của nắng gió, của thần sức mạnh, của cả một thế hệ thanh niên mã thượng. Vậy, ông cò-mi giây thép đã được ba giờ đồng hồ tự thoát ly cái không khí gia đình, cái ngưỡng cửa gia đình vang nhộn những tiếng ca vũ của hai cô con gái yêu quý, tiếng bài mạt chược xô sát ầm ĩ cả trên gác dưới nhà của vợ hiền đang cùng các bạn hiền sát phạt nhau những nước bài hơn thua bạc vạn.
Ông cò-mi vẫn đọc báo, đọc không chán cái tin đấu bóng tròn chiều nay trên sân cỏ nhà binh. Ông lấy giấy, bút chì xanh đỏ, vẽ thành bản đồ chiến pháp. Ông tự cho mình có tài hơn Tổng cục Thể thao Bắc Việt, xếp đặt đấu pháp theo kinh nghiệm sâu sắc của ông. Ông vẽ mười một cầu thủ bằng mười một cái chấm xanh, và những nét chì đỏ chạy ngang chạy dọc như mạng nhện hay là những con đường máu mà ông bảo đó là chiến thuật “đúp vê- em mờ” (W-M), ông gật gù lẩm bẩm:
- Ba Biêu thủ thành, tốt lắm. Hữu biên Diễm, được lắm. Anh này tuy yếu nhất, nhưng chạy nhanh như chuột. Tả biên Khê thần mã, phải lo gì nữa. Khê mà lồng chân sang số, sút vèo chân trái thì cứ là ăn chết. Hậu vệ: Thái, Ứng, Luyến, Bầu, bốn con hùm xám này đã thành tinh, dê non khó mà xông được vào sào huyệt. Tiền đạo: Cư, Thưởng, Hối… ồ, cứ là ăn chết, cứ là ăn chết.
Ông cò-mi xoa tay, khoái lắm lại tự cho mình là giỏi binh pháp như Hàn Tín, Tôn Võ Tử.
Nghe tiếng cười nói the thé của bà vợ và các bạn hiền đã tề tựu ở dưới nhà, ông cò-mi giây thép bèn đứng dậy mặc quần áo, đi ăn phở. Ông vừa xuống khỏi cầu thang thì vợ và các bạn đã hoan hỉ dẫn nhau lên. Ông chào mọi người, đứng lánh một bên nhường bậc thang cho khách, vợ. Họ lên khỏi rồi, ông đứng ngẩn ra, đau lòng tiếc mồ hôi, và sót ruột thương cái sàn si bóng loáng ông vừa lau đến sái tay, gãy cả xương sườn xương sống.
Ông thở dài, khẽ lắc đầu cam chịu như khi ở sở ông cũng đã cam chịu một cách rất quân tử trước cái nhún vai, cái cười mũi bất nhã của ông chủ sự ít tài và kém tuổi ông nhiều.
Ông đi ăn phở, rồi ngồi ở vườn hoa Chiến sĩ. Đến hai giờ, ông lấy vé, xông vào bãi cỏ nhà binh. Khán đài còn vắng. Ông là tín đồ thứ nhất vào giáo đường buổi lễ bình minh. Ông cò-mi giây thép đi coi đấu bóng không khác một con chiên đi thụ đạo.
Quanh bãi cỏ và trên khán đài chật người. Và giờ phút tranh hùng đã đem đến cho ông cò-mi giây thép một cơn hồi hộp đến sốt nóng.
Đội ban Việt và đội ban Pháp dàn thế trận. Quả bóng da trâu bay lên trời, sa xuống đất. Và thịt da người đã hơn một lần va chạm, làm xôn xao những ông khán giả già nua tự cho mình là lão tướng sân cỏ, những ông khán giả gầy còm ho lao, những cô khán giả me tây, những cô khuê các… đều cùng hò reo hoặc nín thở theo dõi trận đấu.
Lẫn trong đám quảng đại quần chúng trên chiến địa kia, ông cò-mi giây thép thốt nhiên đã trở lại làm tay hảo hán sôi máu yêu nước yêu nòi, bởi vì ông mơ tưởng rằng mười một cầu tướng đó không mặc may ô, quần đùi, mà chính là mặc giáp sắt, cỡi ô truy đang tung hoành gươm giáo trên sa trường kháng địch.
Bỗng tiếng vỗ tay như sấm sét. Thần mã Khê đã lập công đầu: sang số và sút tung lưới địch quân. Ông cò-mi, như tất cả mọi người yêu nước yêu nòi khác, sướng phát điên: ông nhảy cỡn lên, đập tay vào vai anh con trai bên cạnh:
- Biết mà, tôi đoán ngay từ nhà rằng cứ xếp đặt như thế, là Khê ăn chết.
Ông cười sằng sặc, ông tự khao chiến công của Khê bằng điếu thuốc lá Cô-táp, ông lại mời cả hai ông bạn mộ điệu ngồi hai bên cùng hút. Sau đó, Khê được bóng Cư chuyền, lại sang số sút tréo giò vào góc thành trì địch thủ. Ông cò-mi lại phát điên, nhảy cỡn lên. Ông cười và tự khoe cái tài tiên đoán của mình. Đội Việt Nam, hiệp đầu thắng một lúc bốn bàn rất vẻ vang, đích đáng.
Rốt cuộc đấu, hai đội thủ hòa, đáng lẽ, nếu trọng tài không thiên vị, đội ban Việt phải được cai bài chiến thắng.
Hàng vạn người kéo ra về như thác lũ. Ông cò-mi lách mãi mới lôi được chiếc xe Peugeot cổ ra khỏi lớp sóng người, rồi mệt nhọc và uất hận đạp về phố vắng để ngẫm nghĩ về trận đấu.
Đường đã sáng đèn. Và đèn trên gác, dưới nhà ông cò-mi giây thép đã tưng bừng như có tiệc. Ông mệt nhọc xuống xe đạp, khẽ lách cái mình bé nhỏ, gầy còm qua khe cổng sắt, khẽ bước cho tiếng giầy khỏi kêu trên sân sỏi, đưa mắt nhìn vào thấy hai cô con gái đã luyện xong bài “Săm ba”, đang say sưa với cái hôn tài tử chớp bóng trong cánh tay hai chàng ca-vũ-sư đầu chải “bốp”.
Ông cò-mi đỏ mặt. Ông rảo chân, nhón gót, giắt xe đạp vòng về phía bếp, không dám ho, không dám giặng hắng, sợ làm tan giấc mộng tình đắm đuối của hai cô con gái yêu quý và tân tiến.
Ông toan lên gác. Tiếng bài khua và tiếng cười của vợ hiền, tiếng hát cải cách của ông bạn trai nào đó khiến ông dừng bước. Ông tụt xuống, đứng ngẩn ra, tiếc mồ hôi, thương cái sàn si bóng loáng, cả một kỳ công vĩ đại của ông sáng ngày chủ nhật.
Nghĩ thừ ra, ông tắc lưỡi, rồi lại len lén ra sau bếp, giắt xe đạp, rón rén bước nhẹ cho khỏi động trên sân sỏi, lách cái mình gầy ốm qua cánh cửa sắt, ra đường.
Ông ngồi lên yên, gò lưng đạp. Một quãng ngắn ông dừng xe ghé vào bờ hè, đứng dưới gốc cây dạ hương. Ông lau mắt kính lừ đừ nhìn lên tòa gác nhà ông, rồi nhìn vào mấy cửa sổ dưới nhà. Ánh đèn chiếu ra đường, vui đẹp như hoa đăng. Tiếng cười lẫn tiếng bài xương xô xát ở trên gác, tiếng cười rú ở dưới nhà rồi bỗng vụt tắt đèn.
Ông cò-mi nhếch mép cười, ông bằng lòng một cách bâng khuâng rằng vợ hiền ông ở trên gác rất vui; rằng con ngoan ông ở dưới nhà cũng rất vui, và chắc chúng nó nghịch tinh đã tắt đèn để tập đánh đàn và nhảy “săm - ba” không đèn cho chóng giỏi.
Ông lại nhếch mép cười. Ông còng lưng đạp trong phố vắng hiu hắt lạnh. Ông định tâm đến hiệu phở sẽ gọi bát tái sách trần đánh chén cho say. Và bát phở tái sau cùng ông sẽ bảo đập thêm quả trứng gà vào cho bổ để sáng mai đi làm cho khỏe.
- Hà! Ngày chủ nhật, cũng vui, cũng vui, cả nhà cùng vui!
Ông cò-mi nghĩ vậy, lại khoan khoái gò lưng đạp, cái lưng còng còng khuất dần nẻo đầu phố vắng.
(Đăng Phổ thông số 3/1951)