Từ cái thuở Hà Nội băm sáu phố phường, tôi - một cậu bé con đã được ăn Tết cổ truyền của Thủ đô lưu giữ khá nhiều kỷ niệm. Thời gian trôi như nước chảy, nhiều chuyện cũ quên đi, duy mẩu truyện ngắn ngủi này, tôi không sao quên được. Nó nhắc nhủ tôi nghĩ đến nó, nhớ đến nó, nhớ đến đau lòng. Tôi bẩm sinh là thằng nhỏ mau nước mắt, dễ buồn dễ khóc những chuyện không đâu. Hàng năm cứ đúng lúc thành phố nổ ran pháo giao thừa, tôi chui vào cái giường nhỏ bé của tôi trong góc kín, kéo chiếc chiếu phủ lên tấm chăn bông mỏng manh, nằm lắng nghe pháo thiên hạ đón xuân.
... Mấy ngày Tết năm xưa rét lắm, một chăn dạ, chăn bông không đủ ấm, tôi phải dùng hai lá chiếu phủ lên chăn mới đủ ấm, nằm nhắm mắt suy nghĩ chuyện đời. Tuổi thơ còn non dại, đã biết cuộc đời ra sao, sống chết vui buồn là cái gì, thế mà, đúng giờ giao thừa đêm ba mươi, tự nhiên tôi cảm thấy buồn vơ vẩn, buồn không duyên cớ, không muốn nói với ai, không thích nhìn mặt ai, chỉ thèm chui vào một xó, nằm nghĩ ngợi đến chuyện nhà trường, chuyện thầy, chuyện bạn tốt xấu, chuyện anh chị em trong nhà lục đục hay êm ấm. Chỉ có thế thôi mà nước mắt đã rưng rưng. Cái xó tôi nằm giữa lối cửa ra vào. Nửa đêm sắp giao thừa, mẹ tôi, theo thường lệ hàng năm, lăng xăng, te tái lo việc quan trọng là sửa soạn mâm xôi con gà luộc thật thanh khiết, chờ đến khi pháo nổ gần im tiếng là khệ nệ thân chinh bưng lễ ra vỉa hè trước cửa, hương hoa, đèn nến sáng choang, đứng rì rầm khấn vái đất trời, thánh thần, tiên tổ phù hộ độ trì an khang hạnh phúc.
Mẹ tôi đang thành kính khấn vái thì tôi tung chiếu, tung chăn vùng dậy trong tiếng kêu thất thanh của mẹ: “Ối trời, ối đất ơi, chúng nó cướp mất xôi gà lễ của tôi rồi! Ối bà con ơi, chúng nó kia kìa. Đuổi bắt hộ tôi!”.
Đó là cái Tết đói năm Ất Dậu. Qua đêm rét, sáng nào cũng có xác chết phơi ngoài đường phố. Người qua đường, trước còn ghê sợ, nhắm mắt tránh mùi hôi thối, ruồi nhặng bu đầy xác chết, sau cũng quen mắt, quen mũi cứ bước qua xác kẻ tử vong, kịp vào chợ Đồng Xuân mua sắm Tết. Bởi vậy, tiếng kêu mất mâm xôi trắng nõn, con gà béo múp vàng ngậy mà mẹ tôi kêu khản cổ, chẳng ai chú ý. Có tiếng cười ran: “Sao bà dại thế. Chết đói đầy đường, chẳng ai bố thí. Đói đến nỗi ăn được thịt người, chúng cũng không tha huống chi mâm xôi gà béo ngon như thế, khác nào hổ đói vớ được mồi. Mất, coi như làm phúc cứu bần. Đừng xót của. Nhịn ăn cứu đói. Năm nay, Phật độ cho bà...”.
Người đàn ông đi qua đường có lý. Tôi vội chạy ra, kéo tay mẹ tôi vào. Và suốt từ lúc mất xôi gà, tôi cười, cười ôm bụng, cười nhịn thở, cười tưởng chết. Mẹ mắng tôi. Tôi đáp: “Con rất mừng vì nhà ta gặp Phúc. Thế là đêm nay, hai ba thằng ăn cướp ấy tạm thoát cơn chết đói. Không có xôi gà, thiên hạ ăn hộ mình rồi. Mai con nhịn đói, gọi là nhịn ăn đãi khách. Mẹ cười đi để mừng xuân, cái xuân phúc đức”. Mẹ tôi cười.
Pháo đón xuân năm ấy ít nổ, không liên chi hồ điệp như mọi năm. Xuân chết tiệt này giặc Nhật - Pháp làm cho dân Việt chết đói trên hai triệu người. Có người bảo: “Giá ta có súng đạn nổ vào đầu giặc dữ dội như pháo mọi năm để trả thù này thì ta vẫn chưa hả giận”.
Hà Nội vừa im tiếng pháo, mọi nhà chuẩn bị đi nằm, sau một ngày quá nhọc mệt bởi sửa soạn đón giao thừa. Tôi không vào giường, loay hoay chờ đón mấy ông bạn “văn nhân hành khất” sắp đến mừng xuân với những vần thơ tuyệt tác ứng khẩu thành chương.
Ngay từ thuở nhỏ năm lên mười tuổi gì đó, tôi đã thích thơ ca, thích cả văn xuôi. Cứ chờ bố đi làm vắng, tôi đã chúi mũi vào những sách thơ, những truyện tình yêu thời cổ lỗ. Tôi cũng ti toe tập viết văn, bỏ cả bài vở nhà trường. Bố tôi, một lần, tóm được tôi đang say mê chép một bài thơ tình, bố nổi giận, vớ ngay cái nghiên mực bằng đá chạm hoa điêu, ném vào đầu tôi. May mà cái nghiên đá nặng đến mươi cân bay chệch qua đầu, không thì tôi đã vỡ sọ, chết toi rồi. Nhưng viết văn là “cái nghiệp”. Tôi lớn lên, chừng hai mươi tuổi, vẫn mê say văn chương, cho đến bây giờ, cái nghiệp ấy sắp qua rồi.
Dân Hà Nội bắt đầu vào giấc ngủ đêm xuân, bọn người chuyên làm vè chúc Tết bắt đầu hành sự. Họ không đông lắm, có chừng độ mươi người, phần nhiều đứng tuổi, quần áo chỉnh tề, tuy vá víu. Mặt mũi người nào cũng sáng sủa, sạch sẽ, nghiêm trang.
Hàng năm, đúng giao thừa là các ông xuất hiện vào đúng cái thời khắc tối như đêm ba mươi Tết. Họ chia nhau, mỗi ông vài ba phố (khu Đồng Xuân). Mỗi người có “vũ khí” riêng. Đó là ống tre giang, văng, hay chỉ là một ống nứa xanh tươi to bằng cổ tay đục thủng một đầu. Các ông cùng một lúc, gõ đầu ống tre giang xuống bậc cửa nhà người ta, cất giọng êm ả dịu dàng, gần như ngâm thơ đủ cho chủ nhà nghe rõ.
Súc sắc súc sẻ
Chúc khỏe quanh năm
Buôn một bán năm
Tiền vào như nước
Vàng vào cửa trước
Bạc vào cửa sau
Sinh đẻ lau nhau
Học hành tấn tới
.....
Súc sắc súc sẻ
.....
Lời thơ, hay hò vè, chỉ cần đọc theo nhịp đập của ống giang hai ba lần là chủ nhà, dù keo kiệt đến đâu, cũng khẽ rút then hé cửa, dúi vào tay người chúc Tết một hào, có khi kèm cả chiếc bánh chưng, nếu thí chủ có thiện tâm thương kẻ đói. Lại một ông cuối phố, giọng vang vang, khiến người khó ngủ phải lẩm bẩm chửi thầm một hai câu tục tĩu lẽ ra không nên dùng để họa lại văn thơ ứng khẩu của thi nhân hành khất:
Súc sắc súc sẻ
Xin thương tôi với
Bát cháo chén cơm
Vạn đại nhớ ơn
Kính mừng xuân mới!
....
Súc sắc súc sẻ
Bước khỏe ra đây
Bát gạo cầm tay
Thí cho kẻ đói
....
Tôi rất thích thơ văn ở cái tuổi bé con, lại thêm nết tò mò, tôi hé cửa lách ra vái chào ông thi nhân hành khất. Ông ngạc nhiên trước thái độ cung kính của cậu bé con đối với con người rách rưới mà thiên hạ đều khinh bỉ. Tôi sờ mó vào cánh tay xương xẩu của ông, vuốt ve miếng vải vá trên vai áo ông, giọng ôn tồn, lễ độ:
- Thưa ông...
Ông hấp tấp nắm bàn tay rét cóng của tôi, lắp bắp:
- Chết nỗi, tôi không dám... Cậu muốn nói gì?
Tôi cũng lễ phép:
- Thưa ông, cháu vừa được nghe ông chúc tết nhà cháu bằng những câu thơ hay lắm. Sao ông lại nghĩ ra được những câu thơ hay thế? Ông nghĩ từ trước, hay ông vừa mới nghĩ ra. Ông làm ơn dạy cháu làm thơ. Cháu yêu thơ lắm. Cháu đã đọc truyện Hoàng Trừu, Tống Trân Cúc Hoa... cháu mê thơ lắm ông ạ.
Ông thi nhân hành khất, vuốt mấy sợi râu đã ngả bạc, khẽ cười:
- Chết thật, cậu bé ơi, những câu tôi ứng khẩu đọc ra đều là vè cả đấy. Chứ thơ đâu lại lẩm cẩm láo lếu, nhảm nhí như vậy. Ở quê tôi, những đứa trẻ chăn trâu đều biết hát trống quân, hát phường vải từ mấy chục câu như vậy. Cậu chưa về quê bao giờ hả? Cậu thử về vùng Bắc Ninh, Bắc Giang, xưa gọi là Kinh Bắc, chơi với lũ trẻ chăn trâu một ngày là tức thì cậu làm được thơ còn hay gấp trăm những câu vè tôi đọc láo, chúc Tết kiếm miếng ăn ngày đói.
Nghe ông thi nhân hành khất người Kinh Bắc nói, tôi kinh ngạc, đứng ngẩn ra. Tôi nghĩ bụng sẽ có ngày tìm về Kinh Bắc, gặp xem lũ trẻ chăn trâu ở đó thông minh tài trí đến thế nào.
Ngót một thế kỷ nay, tôi vẫn nhớ chuyện đọc thơ chúc Tết bằng ống nứa ngoài bậc cửa đêm ba mươi Tết, cho đến ngày nay cái tiếng ống giang bập bùng nhịp lời vè chúc Tết của các thi nhân hành khất lại bay về bên mái tóc bạc này, văng vẳng ở bên tai tôi. Tôi xin thành kính tặng các bậc độc giả quá cao niên vốn sẵn công tâm với ngành văn bút bài Súc sắc súc sẻ ngắn gọn này. Lão già chúng ta cùng vui sống lại ngót trăm niên cổ lai hi.
Người Hà Nội, số 2, 11/1/1997