Hà Nội Cũ Nằm Đây

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Một người không sống

❊ ❊ ❊

Đã tám năm nay, bà Mộng Hoàng sống với người đàn ông ấy những ngày tối tăm, buồn tẻ quá. Nhưng, yên phận làm người vợ hiền bà chưa một lần nào tỏ ý chán chường cuộc đời bằng tiếng thở dài trước mặt chồng.

Bộ mặt nghiêm khắc của người chồng lâu dần làm đổi sự yêu đương bồng bột ở lòng bà ra sự phục tòng, sợ hãi. Bà cảm thấy rất thấm thía rằng một ngày sống với người chồng ấy, một ngày bà hoàn toàn là người nô lệ, nô lệ một cách nhục nhằn, vô lý mà người ngoài không ai biết, ngay cả chồng bà.

Hàng ngày, bà Hoàng dậy rất sớm. Trong khi bọn gia nhân mở cửa hàng, bà ra ngồi chỗ thu tiền, cắm cúi trên chồng sổ sách đầy những tính cộng, tính trừ, nó làm cho bà nhức đầu, hoa mắt. Từ sáng đến chiều, khách mua tấp nập, bà phải luôn miệng nói cười niềm nở. Chỗ này, bà Hoàng cần để mắt tới bọn phu đóng hàng cho cẩn thận để tải ra ga; chỗ kia, bà phải chạy đến để vui vẻ điều đình với một ông khách hàng khó tính; và chốc chốc, tiếng chuông điện thoại lại gọi bà chạy về bàn giấy trả lời, tính toán với một hãng buôn người Pháp về việc hàng hóa, tiền nong.

Suốt ngày, bà Hoàng bận bịu, nói khô họng, viết mỏi tay, đôi khi gặp trường hợp khó khăn bà lại phải thay người thư ký, thân chinh xách cặp da đi thu tiền.

Cửa hiệu bà Hoàng phát đạt như thế quanh năm vì sự lịch duyệt, thực thà, ngay thẳng của bà, nụ cười vui vẻ của người thiếu phụ xinh đẹp ấy đã bắt Thần Tài phải tươi cười mà bước vào nhà.

Nhưng khi bọn gia nhân đã lẳng lặng thu hàng đóng cửa, khi thành phố đã lên đèn rực rỡ thì tự nhiên lòng bà Hoàng ám nặng một tủi sầu... Bà mệt nhọc bước lên thang gác, cố nghĩ ra một chuyện gì vui lạ để cầu xin người chồng nghiêm khắc một tiếng cười, một lời an ủi, yêu đương.

Bà đứng lại ngoài phòng, gõ ba tiếng nhỏ, rồi bà khẽ hé cánh cửa lách vào, đi rón rén trên tấm thảm nhung, dáng sợ sệt như con chuột trước móng vuốt một con mèo sắp sửa xồ ra.

Bà nói dịu dàng hết sức vì bà sợ một tiếng nói hơi to, một tiếng giầy vấp có thể làm động cái không khí lạnh lùng trong gian phòng lặng lẽ, các cửa đều đóng kín.

- Mình!

Ông Cảnh ngồi ngoảnh mặt vào lò sưởi đọc sách, vẫn yên lặng như pho tượng. Ông không nhúc nhích, không ngảnh đầu trông lại bà đang cố tươi cười để làm đẹp lòng ông.

- Mình ơi!

Con người trơ như đá ấy không thèm ngảnh lại, không thèm đáp lại lời bà.

Bà buồn bã, đứng sau ghế chồng lau nước mắt, nhìn bóng ông chập chờn in trên mặt tường.

Một lúc, bà nhẹ bước đến bên ông âu yếm vuốt tóc ông, đặt môi lên trên cái trán hằn những nếp răn. Ông Cảnh khẽ rùng mình như khó chịu. Bà nhớ đến việc bà vẫn thường làm. Bà rón rén đi ra một lát, rồi bưng vào một thau nước trầm thơm, đặt dưới chân ông. Bà vén áo ngồi xổm bên chân ghế, tháo bít tất ở chân ông, nhúng chân ông vào chậu nước để kỳ cọ từng ngón chân một. Đoạn lấy chiếc khăn bông trắng lau khô, bà cầm dao gọt từng chiếc móng, cạo từng cái chai rồi lại xỏ bí tất vào.

Trong khi ấy, ông Cảnh vẫn lặng yên như pho tượng, mắt không rời nhìn quyển sách trên tay.

- Mình nghỉ để xơi cơm, mình.

Năm phút sau, ông Cảnh mới ngẩng đầu trông đồng hồ, đánh dấu trang sách đang đọc dở, ném lên trên lò sưởi, rồi ông chỉ mất công khẽ nhấc mình kéo chiếc ghế nệm bọc da, nhích ra phía sau một tí vì bà đã đẩy chiếc bàn ăn đến bên lò sưởi cho ông khỏi lạnh.

Bà cố tươi cười rót rượu cho ông uống, tiếp luôn những món ăn ngon. Bà kiếm những chuyện vui vẻ nói ông nghe, nhưng ông không đáp lại một lời.

Sự lãnh đạm ấy, bao nhiêu năm nay đã thành cái lệ thường lắm rồi nên bà Hoàng không giận nữa, chỉ biết đau khổ ngấm ngầm.

Ông buông đũa đứng lên, cầm mấy quả nho ăn tráng miệng, mở hộp lấy điếu xì gà hút, rồi, như lệ hàng ngày, ông lẳng lặng sang phòng bên mặc áo quần.

Ông chụp mũ dạ lên đầu, cầm ba-toong xuống nhà dưới, ra đường.

Lúc này, bà Hoàng chỉ biết buồn rầu mở rộng hai cánh cửa sổ đứng nhìn theo hút người chồng đi khập khiễng bên hè, dưới cơn mưa bụi.

Nhìn mãi, nhìn mãi cái dáng đi thất thểu, chân bước tập tễnh của chồng, bà âm thầm nhớ lại cả một cái dĩ vãng tự ngót mười năm cũ.

* * *

... Xưa, ông Cảnh làm Tri phủ. Một ông phủ trẻ, khỏe mạnh, giỏi võ Tàu, ưa mạo hiểm, minh mẫn, thanh liêm. Chính tay ông đã nhiều lần bắt được bao tên cướp, nên dân tình rất mến phục ông.

Năm ấy, phong trào đấu tranh đang mạnh. Một đêm, ông phủ Cảnh đương ngồi nói chuyện với bà, chợt có tên lính vào trình có một bọn người lạ mặt sắp đi qua đường xe lửa. Ông vội đứng lên dẫn mấy tên lính ra đi, nhưng ra đến ngoài cửa phủ, không biết chợt nhớ điều gì, ông cho bọn lính lùi về, rồi một mình ông rảo bước đi trong đêm tối.

Ông nấp vào một bụi cây chờ. Một lát, bọn người lạ mặt đến gần. Ông chú ý nhìn cho rõ, rồi bị một sự gì kích thích mạnh trong lòng, ông khẽ kêu lên, gọi tên một người trong bọn. Người ấy là một bạn già chí thiết của ông. Người ấy xưa kia đã nuôi ông ăn học, đã nhường cơm xẻ áo cho ông. Người ấy là một ân nhân đã cho ông cuộc đời tốt đẹp, và vì ông mà người ấy bị nghèo, giang hồ khắp nơi khắp chốn, lang thang như một người khốn nạn. Thật vậy, con người ấy đã ba lần bị đạn, ba lần trốn thoát lao tù.

Ông phủ từ sau bụi bước ra. Bọn người lạ mặt đã cho tay vào túi tìm khí giới. Nhưng ông phủ Cảnh vỗ vãi bạn già, cười to mấy tiếng, tiếng cười dọa nạt của một người gan dạ xem thường kẻ địch và coi sự chém giết là một trò đùa.

Ông bạn già lùi lại giữ thế, nhìn thẳng vào mặt ông phủ Cảnh như có ý đau đớn, hỏi thầm: “Thế bây giờ, ông định bắt chúng tôi?”

Ông phủ nghiêm mặt nhìn lão già và cả bọn, giọng dịu dàng: “Tôi sẽ không mó đến mình một vị nào, bởi tôi lấy tình ông già Hưng đây là người tôi phải chịu ơn mãi mãi”.

Ông kéo ông già Hưng ra góc ruộng, khẽ khuyên lão nên bỏ công việc ấy đi, và mời lão về phủ ở cho ông đáp đền ơn cũ. Nhưng ông già quắc mắt nhìn ông phủ, cười gằn: “Thà tôi chết ở một cầu sương, điếm cỏ, còn hơn... Thôi, ông để chúng tôi đi, không bao giờ chúng tôi quên được ơn này”.

Đứng nhìn ông già Hưng và mấy người lạ mặt khi đã biến vào khoảng sương mù, ông phủ Cảnh mới quay về. Lòng ông như có một cái gì ám ảnh, ông buồn bã thở dài.

Nghĩ đến việc vừa xảy ra, ông nhớ lại đoạn sử Quan Công thả Tào Tháo ở đường Hoa Dung khiến ông mỉm cười. Ông rất bằng lòng về hành động nghĩa khí đó, nhưng sau, dần dần ông thấy một mối buồn mênh mông vô duyên cớ làm cho ông chán nản sự đời. Ông nhớ mãi tiếng cười gằn và câu nói xót xa của lão già Hưng: “Thà tôi chết ở một cầu sương, điếm cỏ, còn hơn...” Càng ngẫm, ông càng thương con người luân lạc ấy. Càng ngẫm, ông càng chán chường địa vị của mình. Lâu dần, ông sinh ra thờ thẫn, yếu đau luôn. Tính nết ông đổi thành nóng nẩy, hay gắt, hay quát tháo. Đã mấy lần, không vì một tội gì mà ông sai căng nọc mấy người Chánh tổng, Lý trưởng nằm giữa phủ đường, truyền lính đánh. Đã có lần, ông đập tan hòm sắc, ném dấu son xuống gậm bàn, vất tung công văn, sổ sách ra sân.

Bà Mộng Hoàng lo sợ, tưởng ông mắc bệnh điên, nên đêm nào bà cũng thắp nến, nhang, giữa trời cầu khấn, song ông vẫn điên khùng, nóng nẩy như thường.

Một đêm, ông đang ngủ, bỗng thức giấc, nghe thấy tiếng lính gọi nhau tíu tít, và phía xa tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên văng vẳng, ông liền vùng dậy, rút thanh mã tấu gài trên giá, nhẩy ra sân gọi lính chạy đi. Đến một cánh đồng ngô thì gặp bọn cướp đang dắt trâu, vác đồ đạc đã cướp được ở một làng kia chạy tới. Bọn lính chĩa súng lên trời bắn dọa, ông phủ điên tiết xông vào bắt sống tên đầu đảng đi đoạn hậu, nhưng ông sơ ý bị một tên cướp khác đâm mạnh luôn mấy mũi mác vào đùi, rồi chúng nhẩy cả xuống dưới đầm có thuyền đợi sẵn, bơi đi thoát, còn để lại trâu bò, đồ đạc, và hai tên cướp bị đạn bắn trúng đầu.

Ông phủ bị trọng thương, phải khiêng ra bệnh viện ngoài tỉnh chữa. Hai tháng sau, thương tích đã lành, nhưng bị què chân, và sức lực rất suy, ông lấy cớ ấy xin từ chức.

... Bây giờ đây, con người gan dạ, nghĩa khí như Quan Vân Trường ấy chịu thua, chịu yếu trước cuộc đời. Ông tự nhốt mình vào căn phòng lúc nào cửa cũng kín như bưng. Mùa đông, lò sưởi luôn luôn có lửa, ông ngồi như pho tượng trên chiếc ghế nệm bọc da, đọc sách. Suốt ngày ông không nói. Bất đắc dĩ phải sai tên đầy tớ việc gì, ông ra hiệu cho nó hiểu, hoặc chỉ khẽ mấp máy môi. Ban đêm, ông ngồi đọc sách có khi gần sáng, chờ mỏi mệt, ông ngả đầu ngủ thiếp đi một lúc. Rất sợ giấc ngủ đêm, ông chỉ ngủ ngày độ vài giờ, vì ban đêm, ông bị ám ảnh bởi những mộng mị hãi hùng. Ông thấy toàn những bóng ma, bóng người dữ tợn, quần áo tả tơi, đầu tóc rối bù, hoặc bị lòi ruột, hoặc đầu lâu vỡ ra vì viên đạn, hoặc nằm quằn quại trên vũng máu, xúm xít bám lấy chân ông mà lôi kéo, nhằm mình ông mà cào, mà cắn, mà đâm... Hình như ông cũng hơi tin đó là vong hồn những tên tướp cướp đã chết bởi tay ông trong ba năm làm việc.

Ông hơi tin như vậy, vì ông nhớ mang máng ông đã dùng, trong năm lần, năm viên đạn để bắn trúng sọ năm tên cướp lợi hại dám kháng cự lại ông. Ông còn nhớ mang máng đã sáu bẩy lần, ông chùi thanh mã tấu vào bãi cỏ ngoài đồng, sau khi những tên cướp kẻ thì như con ếch bị chặt đầu chỉ đập tay chân được mấy cái rồi rúc mình vào trong ruộng bùn mà chết; kẻ thì ôm ruột cố chạy được một quãng đường, rồi không biết nó bị lăn ra chết bên một bờ ao, trên một đoạn cầu tre bắc ngang sông, trong một quán nước giữa đường, hay là cố bò về nhà nhìn vợ, nhìn con rồi mới chịu nguyền rủa ông mà tắt thở...

Bà Hoàng nhiều lúc giữa đêm thấy ông giật mình, mở mắt nhìn thanh mã tấu trên tường. Càng nhìn, mắt ông càng đỏ lên như tiết. Đôi lần, vài giọt lệ rơi ra. Ông nghiến hai hàm răng kêu kèn kẹt, ông chống hai cánh tay yếu đuối và run bần bật vào hai bên tay chiếc ghế bành, nhoai người về phía trước, lảo đảo đứng lên như để vồ lấy thanh mã tấu, nhưng rồi ông lại gieo người xuống ghế, nhắm nghiền mắt lại, da mặt xám tựa trầm.

Bà Hoàng đã cạn lời xin ông cho đem xuống vườn chôn cái kỷ vật ghê gớm ấy đi, vì chính bà, bà cũng khiếp sợ nó như lưỡi liềm Thần Chết, song ông nhất định không nghe, cứ treo nó trên lò sưởi để nhìn.

Mỗi khi than trong lò sưởi nguội, ông thấy gian phòng thành ra giá như băng, không phải giá vì tiết trời đông, ông cho là giá vì hơi lạnh ở thanh mã tấu u ẩn những vong hồn, cáu đầy những vết máu tiết ra, làm cho ông run bần bật.

Đêm, thương chồng cứ phải ngủ ngồi trên chiếc ghế bành, bà Hoàng không đành tâm nằm một mình trên giường, nên bà cũng trải nệm xuống dưới sàn, ôm lấy chân chồng mà ngủ.

Ban ngày, tuy bận về hàng họ, bà cũng phải chạy lên luôn, rón rén đứng hé cửa nhìn, hay đến sau lưng ông khẽ dặng hắng lên một tiếng, thấy ông không sai gì, không có sự gì lạ cả, bà lại rón rén xuống dưới nhà.

Cuộc đời của người đàn ông sống như chết ấy, cuộc đời của người thiếu phụ trẻ trung đã bị thảm sầu đầu độc dần dần, cứ như thế mãi, như thế mãi..., cho đến ngày nào?

* * *

Con người khốn nạn nọ đang tập tễnh đi dưới đường mờ mưa bụi, đầy lá chết, đi hoài...

Bà Hoàng đứng trên cửa sổ nhìn theo bóng chồng, lòng như bị đứt ra. Ông đi đâu, bà đã biết rồi. Hàng ngày, sau bữa cơm buổi tối, một cái lệ quen bắt ông phải mặc quần áo, ngậm điếu xì gà, vác ba toong ra đi bộ, mặc dù bà luôn ép ông ngồi xe hơi, hay ngồi xe tay nhà cho khỏi ướt, khỏi lạnh.

Đi theo dõi phía sau lần đầu và mấy lần sau nữa, bà Hoàng thấy ông lang thang lên đường Hồ Tây, đứng tựa gốc cây, có khi đứng ngoài cửa chùa Quán Thánh lắng tai nghe dứt một hồi chuông. Sau cùng ông rẽ vào vườn Bách Thảo, đi đến một căn nhà lá phía gần chùa Một Cột. Ông chui vào căn nhà tối tăm đó, thông thuộc như một người quen, sau khi gật đầu đáp lời chào của người gác vườn Bách Thảo.

Để nguyên cả áo tơi, cả giầy, ông ngả mình xuống tấm giường tre, trên đó, bầy sẵn một khay đèn thuốc phiên.

Người cai lễ phép nâng đầu tẩu, ông kéo một hơi dài. Hút chừng mươi điếu, ông đứng dậy chụp mũ lên đầu, mở ví ném cho người cai tờ giấy bạc một đồng, đoạn vẫn bộ mặt chán nản, âu sầu, ông lủi thủi đi ra.

Ông lại theo đường cũ về nhà. Tối sau cũng thế. Tối sau nữa cũng thế. Đó là cái lệ, là cái chương trình của con người không sống ấy, - tại làm sao?

Bà Hoàng đau đớn tự hỏi lòng. Nhưng con người câm như cá ấy sẽ không bao giờ trả lời bà, mà thật ra bà cũng chưa một lần nào dám hỏi.

Người đàn ông khốn khổ nọ dưới trời mờ mưa bụi, tối tay lại tập tễnh đi, đi như cái bóng...

Bà Hoàng nhắm mắt tưởng tượng mỗi bước chân của cái vong hồn đau khổ ấy lê đi là mỗi bước lấn gần vào một nấm mồ, dưới đó, đã mở rộng ra một cái vực đen thăm thẳm để chôn sầu, chôn khổ, chôn tội lỗi, chôn tất cả.

- Thà như thế lại còn hơn...

Nhưng hối hận rằng ý nghĩ ấy là cay độc, bà Hoàng sợ hãi, rùng mình luôn mấy cái, rồi ôm mặt khóc lên rưng rức.

* * *

Mãi gần khuya ông Cảnh mới về.

Ông đi qua vườn, đi rất nhẹ như cái bóng ma đến nỗi con Dick cũng không biết mà sủa nữa. Vào đến chân thang gác, ông đứng lại giũ áo tơi ướt đẫm nước mưa, chùi giầy vào chiếc thảm dừa, rồi bước lên thang. Hai đầu gối mỏi nhừ, run lật bật, ông phải men từng bậc một, bước lên không vững, vì tối nay ông hút rất nhiều, ông say thuốc phiện.

Đến cửa phòng, không bình tĩnh như mọi bận, lần này không hiểu sao ông không dám sờ tay vào quả nắm sứ, vì ông có một thứ cảm giác rờn rợn, một thứ sợ sệt vô nghĩa lý của đứa trẻ khi nghĩ đến chuyện ma quỷ, yêu tinh.

Một lúc.

Sau cùng, ông cắn chặt môi dưới, dồn hết lực vào cánh tay, đẩy mạnh cánh cửa phòng.

Ông lên tiếng gọi tên thằng đầy tớ. Thằng này ngủ say, đang ngáy trong một xó tường. Tiếng ngáy của nó càng làm ông thêm sợ hãi. Than trong lò sưởi còn đỏ rực, nhưng chỉ đủ sức cho gian phòng rộng một thứ ánh sáng rất mờ. Ông sờ soạng tay lên mặt tường để tìm chỗ bật đèn.

Khi căn phòng đang tối đã sáng trưng, ông Cảnh định thần nhìn chung quanh, tìm khắp chỗ... một cái gì.

Ông bước lên ba bước, ba bước nữa, ông thấy sau cái ghế của ông bầy ra một cảnh... một cảnh rất tầm thường, nhưng với ông, cảnh tầm thường đó cũng đủ làm cho máu trong tim ông đứng lại.

Choáng váng, ông trợn mắt nhìn dưới mặt sàn: pho tượng bán thân của ông mà người bạn điêu khắc đã tạc để tặng ông hồi ba năm trước, vẫn đặt trên lò sưởi bị lăn xuống, đầu rụng bắn vào gậm ghế, còn thì vỡ tan thành nhiều mảnh vụn.

Run như chiếc lá, ông ngước mắt trông lên tường: chiếc đanh đỡ thanh mã tấu bị rơi ra, cả thanh đao cũng rơi theo xuống - (chỗ này ông cố định thần xét đoán) không ngờ thanh đao đó rơi nhằm đúng ngay pho tượng tạc hình ông đặt trên lò sưởi, và đồng thời làm lăn xuống cả chiếc bình sứ cắm hoa hồng. Những cánh hoa một mầu đỏ sẫm lẫn với nước ở bình tóe ra lênh láng, rải rác lên đầu pho tượng, lên những mảnh vụn và đọng quanh thanh đao nằm trên sàn gác, trông rùng rợn như vũng máu trong một vụ ám sát nào.

Ông Cảnh ngã ngồi xuống chiếc ghế bành da. Bệnh đau tim có từ bẩy tám năm nay, gặp lúc này, chấm một dấu hết cho cuộc đời người khốn nạn. Toàn thân lạnh dần đi, ông vẫn ngồi như lúc bình thường ngồi đọc sách. Ông nhếch miệng cười, và hai mắt mờ tinh lạc vẫn mở to để nhìn trừng trừng vào thanh mã tấu kề liềm bên chiếc đầu pho tượng.

* * *

Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi!

Những hương sầu phấn tủi cho xong!

Bà Hoàng ở phòng bên, đang đứng pha cốc cà phê sữa để bưng sang mời chồng.

Bà khe khẽ hát...

Một điệu hát buồn thương...

Một điệu hát trường xuân hận...

Một điệu hát của một tấm lòng cô quạnh đã chết rồi.

Thù nhau ru, hỡi đông phong!

Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào.

(Đăng Tiểu thuyết thứ bẩy số 198/1938)

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026