Hà Nội Cũ Nằm Đây

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Quan báo

❊ ❊ ❊

Chúng tôi tất cả bốn người. Bốn thanh niên khoảng hai mươi tuổi ở gần nhau, cộng tất cả những cái điên vào với nhau thì thành ra một thế giới điên đầy đủ. Đã thế những thanh niên ấy lại làm thơ, viết báo thì càng lôi thôi lắm. Ông nào cũng khí kiêu ngút trời, tưởng ngâm một bài thơ là núi lở, hạ một chữ xuống là đảo ngược ngay thời thế. Khí kiêu ấy chỉ bốc khi ngất nghểu nơi tửu điếm, có dăm ba chén rượu tàng tàng. Bằng không, các ông ấy ngồi bó giò một xó mơ hương phấn, ngâm nga khóc gió thương mây…

Chả thế chúng tôi đã có… “một thời lừng lẫy” ở một tờ báo hàng ngày. Những truyện ngắn vô nghĩa lý, những bài thơ lòng thòng làm não lòng đứt ruột người ta, đã vậy tờ nhật báo nợ cứ đăng mãi để đến nỗi bây giờ chúng tôi nghĩ lại mà đỏ mặt. Đã có người nhét chúng tôi vào cái “Lọ văn”. Đã có người bảo chúng tôi là một phường chết yểu.

Quả nhiên, những cái miệng hùm nọc rắn đã làm chết một trong tứ tử chúng tôi. Anh Lê, thi sĩ thơ hay nhất bọn cách đây ba năm đã táng mệnh rồi. Còn lại ba người. Một ông đi làm thầu khoán ở một miền quê xứ Nam Kỳ. Còn hai ông thì vẫn lằng nhằng cùng bút giấy, mái tóc chưa hẳn bạc nhưng nghề ngỗng vẫn chửa ra tuồng gì cả.

* * *

Chúng tôi thường họp nhau tại nhà anh Nguyễn ở một phố gần hồ Hoàn Kiếm. Nguyễn làm thơ, ngoài lúc ngồi đo giầy cho khách. Anh mở hiệu giầy đã được chục năm.

Khách hàng của anh chín phần mười là gái nhảy. Hồi ấy phong trào khiêu vũ mới đột nhập vào đất nước uy linh của hai Bà Trưng. Bọn nữ kỵ binh tung hoành dữ dội. Những con đường Hà Nội là những con đường ái tình của các cô ả rẽ đầu ngôi lệch, áo lam ngắn chẽn, quần trắng ống hẹp, chân lê Phi mã.

Vì vậy cửa hàng của thi sĩ Nguyễn rất đông. Chủ nhân tiếp khách khéo, lối bày hàng lại tân thời, đó là một nét đặc biệt trong thương trường hồi ấy.

Chúng tôi họp nhau ở đấy, vái nhau theo lễ cổ nhân và nói chuyện Tống nho theo đạo Khổng.

Bỗng một hôm có một anh chàng đến xin yết kiến. Việc này quả là quái lạ. Chúng tôi xốc lại áo quần cho chỉnh để tiếp tân khách. Đó là một gã tuổi còn non, mặt mày choắt chéo, khúm núm đứng trước chúng tôi.

- Thưa các ngài, các ngài là nhà báo.

Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, cùng nghiêm mặt đáp:

- Vâng, chúng tôi làm báo.

- Tôi đến xin thưa các ngài một chuyện! Nguyên tôi có ý định mua lại một tờ tuần báo văn chương. Tôi nghĩ những nhà văn đang nổi tiếng là các ngài đây…

Chúng tôi lại đưa mắt nhìn nhau như để phân bua với nhau: “Các anh nghe rõ chưa? Chúng ta là các nhà văn đang nổi tiếng!”

- Vâng, các ngài đang nổi tiếng, nên tôi xin giao phó tờ báo đó vào tay các ngài.

Còn nói gì nữa! Chúng tôi không thể ngờ sự đời lại đẹp như vậy được. Có người bỗng dưng đến nịnh chúng tôi, lại mời chúng tôi chủ trương và trình bày tờ báo sắp ra đời kia thì còn gì danh giá hơn.

Dĩ nhiên chúng tôi tán thành việc đó. Gã chủ nhiệm tờ báo tưởng tượng kia xin cung kính tháo lui.

Tiễn khách ra cửa rồi, chúng tôi vẫn ngồi nghiêm như lúc có khách để nhắc thầm trong bụng những lời khách ca tụng ban nãy và để xét xem mình quả có tài không.

Từ lúc ấy chúng tôi mỗi kẻ mang trong đầu hình ảnh một tờ báo. Ông nào cũng phác sẵn chương trình làm việc của mình. Lê thi sĩ sốt sắng hơn cả, đóng một tập giấy làm “ma-ket”, đặt trang này cái đề luận thuyết, ở trang kia cái đề tiểu thuyết ngắn, tiểu thuyết dài, phê bình thời sự, hài hước, kịch và bút chiến, nhặt vỏ sò vỏ hến… Cái đề nào cũng kêu như chuông và không chịu kém nhau vẻ văn chương rỗng, sáo. Ông lại khéo tay vẽ sẵn cả tranh minh họa ở các trang bài, tô chì đỏ xanh rất nổi.

Chúng tôi họp nhau uống trà tàu ăn bánh đậu xanh mà ngắm “ma-ket” phân tách sở trường sở đoản của mỗi cây bút để chia công việc. Cuộc tranh luận ầm ỹ, nhưng Lê tiên sinh điều khiển rất tài, nên cuộc bàn luận có ngay kết quả đẹp đẽ, nghĩa là ai có việc người ấy, không chối, nhường chi nữa.

Chúng tôi hể hả bắt tay nhau nhận trọng trách nặng nề và hoan hỉ đợi chờ một sự nghiệp lớn lao khả dĩ lưu truyền hậu thế!

Hai ngày trôi qua mà ông “chủ nhiệm” chưa đến. Chúng tôi vẫn nhẫn nại, vẫn họp nhau như thường để làm tốn trà tàu bánh đậu và để ngắm nghía, bàn cãi, thêm bớt bài vở trong “ma-két”.

Ngày thứ ba cũng chẳng thấy gã chủ báo đâu. Chúng tôi đã lấy làm nóng ruột. Qua ngày thứ sáu gã ta đến thật.

Sau một tuần trà tàu pha lối trang nhã của cổ nhân, Lê tiên sinh điềm đạm đưa gã chủ báo coi “ma-ket”. Gã giở từng trang, mặt mũi sáng lên, tay run cảm động. Chúng tôi im lặng đọc cảm giác bái phục trên nét mặt anh chàng. Một lúc anh chàng ngước lên nhìn bốn chúng tôi.

- Cứ như tài các ngài thế này thì lo gì báo không được hoan nghênh. Vậy tôi định sáng mai xin rước các ngài quá bộ về tệ xá ở một vùng quê gần đây chơi, trước xem phong cảnh đồng ruộng, sau xơi với chúng tôi chén rượu gọi là tỏ chút lòng thành kính.

Lại còn nói gì nữa! Nhưng chúng tôi tỏ ra không phải thứ người dễ dãi cho lắm, đều kênh kiệu từ chối để sau cùng bất đắc dĩ nhận lời mời.

Sáng hôm sau.

Khổ chủ và ba chúng tôi lên chuyến xe điện Hà Đông. (Nguyễn thi sĩ không đi vì bận đo giầy).

Sau chín mươi phút xe điện chịu khó đỗ nhiều hơn chạy, chúng tôi đến Hà Đông. Lê tiên sinh vác cái cặp bụng căng báo chí tiếng Tây và tiếng Việt cũ, tài liệu linh tinh và bài vở mới viết đi trước, ra dáng lắm. Gã chủ báo tương lai xin rước chúng tôi lên xe tay. Một đoàn xe cọc cạch chạy dài đưa chúng tôi ra ngoài tỉnh. Xe qua những ruộng ngô, lúa, đậu. Lâu lắm mới thoát ra ngoài thành phố Hà Nội, chúng tôi khoan khoái duỗi chân thẳng cẳng trên lưng anh xe mà ngắm cánh cò bay, trâu gậm cỏ, mặt trầm ngâm làm bộ đang nghĩ văn tả cảnh, nhưng thực thì không tiên sinh nào nghĩ văn chương vì trên đồng ruộng vùng này sao mà nhiều “hoa thôn dã” thế.

Những bông “hoa thôn dã” hát véo von hai bên ruộng. Chúng tôi có cảm tưởng ngay rằng cuộc đi chơi này thật thú vị. Và chúng tôi cũng có cảm tình với gã chủ báo ít tuổi, mặt mũi măng sữa, ngây ngô kia lắm.

Suy nghĩ còn đang miên man thì gã chủ báo tương lai hò cả đoàn xe đứng lại. Thì ra chúng tôi đã ở trên một con đường làng lát gạch, một bên là cái ao đầy bèo, váng nước; một bên là thôn xóm, nhà gianh chen chúc, tối tăm.

Chó sủa rầm rộ, trẻ con xúm lại kêu:

- Ê ê, ông Tây! Ông Tây, ê ê! Chúng bay ôi!

- Cái gì mà ê ê, ông Tây! Lũ khỉ con! Im đi cho chó nó im, kẻo ầm làng xóm.

Gã chủ báo trẻ tuổi xua lũ trẻ. Chúng im ngay, ngơ ngác nhìn gã mặt đang đỏ lên như gấc chín.

Một bà già đứng trong vườn chuối gấn đấy lầu nhầu:

- Cái nhà cậu Giự ấy mọi khi về chỉ mặc áo the rách thì chó nào nó thèm sủa. Lần này về đánh bộ Tây vào, lại ra dáng, mắng đuổi trẻ con.

Không biết Giự - ông chủ báo tương lai của chúng tôi - có nghe thấy lời bà cụ già không? Chúng tôi thấy mặt anh chàng càng đỏ gắt lên, và ngơ ngác nhìn quanh như chờ ai vậy.

Bốn anh xe đứng lau mồ hôi, thở, sẵn sàng chìa tay ra đón tiền. Giự càng có vẻ loay hoay, bối rối. Anh đập vụng về hai tay vào hai túi áo và nhìn vào một cái ngõ sâu. Đây là giờ phút nghiêm trọng của vấn đề kinh tế. Cố nhiên những kẻ được rước đi một cách có tổ chức như chúng tôi đây đều không “mang sẵn tiền lẻ”. Và dĩ nhiên là vấn đề tiền nong phải dành cho khổ chủ.

Gã chủ báo tương lai liếc nhìn bàn tay chúng tôi, thấy những bàn tay ấy không hoạt động thì lại nghển cổ cò nhìn vào cái ngõ sâu. May quá, có một người đàn bà từ trong ngõ đi ra.

Gã chủ báo tỏ ngay vẻ mừng rỡ, buột miệng reo như đứa trẻ:

- Kìa chị cả, chị trả tiền xe giúp. Tôi không sẵn tiền lẻ.

Người đàn bà mặc váy nâu cũn cỡn, cái áo cánh cũng cũn cỡn và bẩn thỉu không kém gì cái váy, dụi cặp mắt toét nhoèn, nhìn cậu em, nhìn chúng tôi, rồi đưa bàn tay sần sùi xuống giây lưng bao, lần lần tìm cái nút.

Hỡi ơi, cái ruột tượng lép của người đàn bà quê mùa thiểu não! Trái đất này còn, tôi còn nhớ mãi cái ruột tượng nâu, quắt lại như khúc lòng lợn, bọc quanh cái bụng ỏng và cạp váy và đụp chứa bao nhiêu rận, rệp, bao nhiêu mồ hôi trong đó. Người đàn bà lập cập giở nút, dốc ra từng đồng xèng Bảo Đại, đếm, đếm, đếm một cách tiếc rẻ và hoảng hốt. Những đồng tiền chen chúc nhau reo trên bàn tay người chị và trên bàn tay người em trai đang châu đầu vào nhau như là để làm một việc rất to tát kia khiến chúng tôi động lòng thương hại, và nhất là ân hận…

Tôi nghe tiếng người đàn bà hỏi thều thào:

- Những khách nào thế?

Giọng người em đáp rất nghiêm trang:

- Các ngài ấy là… là… quan báo đấy. Chị về trước đi mà sửa soạn…

Giọng người đàn bà run run:

- Sửa soạn gì?

Người em hơi gắt:

- Giết gà, mổ vịt làm đồ nhắm chứ sửa soạn gì. Về mau!

- To chuyện thế kia à, cậu! Chết chửa! Nhà làm gì có… có…

Người em khẽ quát

- Tôi bảo thế thì cứ thế. Về nói trước cho ông cụ biết.

Người chị vội vàng buộc lại thắt lưng, rồi im lặng tất tả đi vào ngõ.

Gã chủ báo tiến đến phía chúng tôi, tươi cười xin mời đi. Gã huyên thiên chỉ cái đình làng giới thiệu là các cụ xây từ đời Tiền Lê, chỉ cây gạo kể rằng những đêm sáng trăng thường có con tinh xõa tóc đưa võng hát. Tiếng cười nói của gã và tiếng giầy lộp cộp của chúng tôi làm chó làng lại sủa ồn ào.

Đến một cái xóm đường đầy bùn do trận mưa đêm qua, gã chủ báo mời chúng tôi vào một căn nhà vách rơm mái giạ mà gã gọi là tệ xá.

Chúng tôi đang loanh quanh chưa biết ngồi đâu, vì cả căn nhà ba gian tối như hũ nút chỉ có hai cái giường tre xô lệch không giải chiếu thì một ông cụ già râu tóc hoa râm, khăn áo tề chỉnh bước vào vái dài chúng tôi mà nói:

- Kính chào các quan báo!

Cụ ngừng lại gãi tóc:

- Các quan yêu em nó mà chiếu cố thế này, chúng cháu lấy làm xấu hổ…, nhà gianh vách nát… xin các quan tha thứ cho…

Thì ra người đàn bà kia đã chạy về báo tin cho ông bố biết.

Nói rồi, ông cụ vội đi trải chiếu, rửa khay chén gọi con lấy giẻ lau giầy cho chúng tôi.

Khay chén rửa rồi mà chưa thấy con gái đem nước sôi ra và chưa thấy ai lau giầy cho khách, cụ bèn đứng dậy vào nhà sau, tức là vào bếp.

Chúng tôi nhìn cảnh nhà ông chủ báo, nhìn nhau để cùng tỏ ý hoài nghi, chán ngán. Bỗng tôi nghe thấy tiếng sì sào phía bếp đưa lên. Hẳn là họ đang bàn tính về mâm cơm đãi khách.

- Khổ lắm. Mày không biết nhà độ này túng lắm...

- Túng thì cũng phải cho chu đáo chứ!

- Nhưng khốn nỗi không có một xu, bắt đâu được gà.

- Đi vay hàng xóm. Ông đừng bêu riếu tôi… Người ta là người sang trọng…

Tiếp đến tiếng ai sụt sịt. Than ôi, tôi nghe rõ giọng ôn tồn đau khổ của người bố già và cái giọng gắt gỏng hỗn láo của ông con mà chúng tôi gọi là ông chủ báo tương lai đó.

Lòng tôi đau thắt lại. Tôi lịm đi, không nói được, không cười được cho đến lúc nghe thấy tiếng lưỡi dao quèn quẹt liếc vào miệng vại, tiếng con gà kêu giẫy chết, tiếng bát đũa khua lịch kịch…

Thế rồi một mâm cơm thịnh soạn bưng lên.

Ông cụ thắp mấy nén hương trên bàn thờ, đặt mâm cơm lên khấn vái một lúc, rồi chờ hết nửa tuần nhang ông cụ bưng mâm cơm đó xuống chỗ chúng tôi ngồi.

Ông cụ lại gãi tóc:

- Nhân các quan chiếu cố, chúng cháu có làm mâm cơm, trước cúng tổ, sau xin mời các quan… xơi.

Rượu rót ra chén, ông cụ mời đưa cay. Chúng tôi ăn uống cầm chừng. Riêng tôi mấy lần bị nghẹn vì bên tai còn rõ rệt từng câu nói dịu ngọt khổ não của ông già, từng lời gắt gỏng của ông con hỗn láo.

* * *

Sau hôm đó, gã Giự chủ báo tương lai không đến thăm chúng tôi nữa.

Bẵng đi một dạo, chừng ba tháng. Chúng tôi thất vọng, không còn bàn tán đến tờ báo sắp ra đời, không buồn nhìn đến cái “ma-két” của Lê thi sĩ thì một buổi kia, có kẻ quen gã chủ báo tương lai cho chúng tôi biết rằng Giự đã lợi dụng buổi mời chúng tôi về quê gã để làm con tin trước mặt ông bố già. Sau đó ba ngày, ông bố già đã bị ông con ép buộc đem nhà đất cầm cố lấy ba trăm bạc đưa ông con quý đi… mở báo.

Thế rồi không bao giờ thấy ông con mở báo để làm “quan lớn báo”, ông bố già tội nghiệp chết ngất đi mấy lần, và nhà đất thì bị cầm. Bây giờ ông bố bơ vơ mà ông con thì mất hút.

Sau tin đó ít lâu, một hôm chúng tôi đang ngồi uống trà trên gác một tửu lâu, chợt trông thấy ông cụ đã giết gà thết rượu chúng tôi ngày nọ đi thất thểu ở dưới hè, quần áo tả tơi, che chiếc ô cũ lom khom lẫn vào đám người thành thị.

Tôi mủi lòng thương xót và tự hỏi:

- Có lẽ ông cụ đi tìm ông con trai quý… Cũng có thể ông cụ đi tìm chúng tôi để mà than khóc đó chăng?

Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 469/1943

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026