Từ ngày trú ngụ dưới bãi sông, tôi thấy trong tâm hồn tôi có một cái gì mới mẻ, dường như một sự tiếp xúc hỗn độn hình bóng về tình cảm không rõ rệt.
Những buổi tối con sông mờ giăng, đoàn người lặng lẽ đi bên bờ sông kéo chiếc thuyền ngược gió, ngược dòng... Bộ mặt tối tăm khổ hạnh của bác thợ máy Gia Lâm và bác đồ tể chiều chiều uống say, ngồi bên chum nước, mài dao... Tất cả, hình này lẫn bóng kia, màu này pha màu khác, tựu chung dệt nên một bức tranh gây ấn tượng khá sâu sắc.
Tôi thân thuộc dần dần. Người ta thôi không ngờ tôi nữa.
- Cái nhà ông ấy trông hiền quá nhỉ!
Tôi làm gì ai mà chẳng hiền. Tôi hiền cùng ngoại vật, hiền cả trong tư tưởng.
Bọn tôi, bác thợ máy và bác đồ tể. Hai bác ở cách tôi mấy ruộng dâu, tối thường rủ nhau cùng đến nhà tôi học. Tôi vui lòng bỏ thì giờ buổi tối dạy hai bác học tính, làm luận, địa dư, cách trí. Tôi lại nhận cả chân dạy lớp học Truyền bá quốc ngữ nữa. Phần thưởng khiến tôi vui thỏa nhất là nhìn những bộ mặt nghèo khổ kia sáng ra trên những dòng chữ đen, trên những con số khó mà họ vừa hiểu biết.
Tôi ở bãi đã được hai tháng. Bây giờ trời bắt đầu rét. Gió lùa vào những gian nhà lá, rét thấu xương. Tôi không kêu ca. Người ta chịu được, mình cũng phải chịu được. Hãy giản dị đi rồi sẽ quen. Khi giản dị, người ta mới thấy cái đẹp đúng nghĩa của cuộc đời.
Một chiều. Tôi ngồi bó tay trước chiếc bàn gỗ mọt. Mấy tờ giấy trắng trước mắt. Bụi bốc mờ trên đường đê cao. Sóng vỗ ngoài sông ở sau nhà. Khóm chuối góc sân, xơ xác. Tôi mới cầm bút, bắt đầu một truyện dài. Sự bắt đầu là cả một thách thức. Tôi rụt rè, sợ lòng mình, sợ những hình, những bóng. Loáng như một lưỡi thép chạm vào xương, hình bóng đoàn người lầm lì đi ngược dòng nước, giờ hiện ra dưới ngòi bút không động đậy. Ánh nắng nhạt cháy trên trang giấy, đẹp như vàng son. Tôi ước gì những tư tưởng tôi ngỏ trên giấy cũng đẹp như màu vàng son, những tư tưởng chói lòa, mắt trần không đọc được, ở đấy rồi biến ngay vào vũ trụ, bay lên những hành tinh. Nhưng than ôi, xác thịt con người vốn nặng, tư tưởng từ cái sọ tối như địa ngục thoát ra, có bao giờ có cánh. Tuy nhiên, tôi cũng muốn viết thử một câu. Câu gì chả được, miễn có một đường tơ vương cho vui bút giấy. Nắng tắt, giời tối rất mau. Đoàn ngựa của bọn “dô kề” quần thảo ngoài bãi cát sông đã lên đê. Bỗng một cảm giác gì làm ghê rợn não cân, tôi nhìn quanh.
Một hình thể xương thịt hiện ở góc nhà tự lúc nào không biết. Tôi đẩy ghế đứng dậy, có lẽ để tự vệ, có lẽ để... Hà! Tôi không thể nói rõ lý trí tôi lúc đó.
Nó tiến ra ngoài chỗ sáng, gần tôi. Một con bé, rách rưới chừng mười hai tuổi, ấy là đoán theo gương mặt, mà nếu đoán theo vóc người thì phải rút tuổi nó đi chút nữa.
- Con bé này, mày vào tự lúc nào?
Nó nhìn tôi không chớp và không đáp. Tôi hỏi nữa, một lúc lâu, nó mới nhếch miệng, giọng rất nhỏ:
- Cháu chui qua lỗ vách thủng kia. Cháu quen nhà này lắm, trước kia ông ngoại cháu ở đây. Ông ngoại cháu chết rồi.
Linh tính cho tôi nghĩ ngay đến lão già say rượu. Tôi lại nhớ đến một hai đêm tôi nằm mơ thấy lão. Lão đã ngồi ở chỗ tôi ngồi, lão đã nằm ở chỗ tôi nằm, khốn nạn, gian nhà lá chật hẹp này, đâu là không có hơi hướng lão. Tôi chú ý ngắm con bé. Nó nhìn lên nóc nhà, giọng phều phào:
- Ông cháu, ngày sống, có giữ cho cháu một cái gói đựng mấy hào. Ông cháu bảo phải để dành vài hào phòng khi về quê quán. Ông cháu dù thèm rượu, dù đói đến đâu cũng không hề mó đến mấy hào của cháu. Cháu đến xin ông cho cháu lấy đi. Bây giờ ông cháu chết rồi, cháu cũng chưa chắc được người ta thả cho về quê, thôi thì cháu lấy mấy hào ấy mua hương hoa thăm mả ông cháu vậy.
Nói rồi, con bé trỏ lên mái rạ, chỗ ông nó giấu gói tiền. Tôi bắc ghế lên giường, trèo vạch mái ra xem, quả nhiên có một gói giấy nhỏ. Con bé đón lấy cái gói bỏ vào túi, len lén ra cửa, rồi lủi đi. Cái thân hình tiều tụy mất vào bóng tối...
Con bé kỳ dị làm tôi nghĩ ngợi. Ngày hôm sau, tôi nói chuyện này với bác thợ máy và bác đồ tể. Hai bác không hề biết lão già kia có con bé cháu ấy. Ở đây, ai cũng chỉ biết lão độc có một thân một mình.
Cách đó ba ngày, con bé lại đến. Mặt nó có một vẻ ngơ ngác, buồn khổ lạ lùng. Nó đứng cạnh bàn tôi làm việc, nhìn khắp gian nhà, mắt đỏ mọng lên.
Tôi cố dịu giọng cho nó khỏi sợ:
- Em đến gian nhà cũ này vì em nhớ đến ông ngoại em phải không?
Em bé gật đầu. Tôi bắt đầu lưu ý đến nó hơn, vì tôi thấy lòng tôi nao nao một niềm thương xót.
- Em ở đâu? Có bố mẹ không?
Con bé cúi nhìn xuống đất. Một lát, nó ngẩng nhìn tôi, rồi lại vẫn cái dáng điệu sợ sệt như tối nọ, nó lủi ra ngoài.
Sau đó, hơn một tháng sau, con bé không đến nữa. Một buổi, tôi lang thang đi về vùng ô Yên Phụ. Xuống một con đường dốc, tôi chợt thoáng thấy hình dáng con bé khốn khổ kia sau một bờ rào tre bao quanh cái sân đất hẹp và ba gian nhà lá. Tôi dừng lại. Bờ rào thưa, cho tôi nhìn rõ những người trong sân. Con bé đang vo gạo bên chum nước. Có một mụ đàn bà to béo ở trong nhà ra, quát tháo ầm ĩ, tay cầm thanh củi.
- Con ranh này, tao sai mày đi mua tương ngoài hàng kia mà mày đi mất nửa ngày. Bà thì đánh tan xác mày ra...
Mụ xăm xăm đến con bé, vụt đồm độp xuống nó. Con bé trước còn giơ tay đỡ, sau tay đau quá, nó rụt lại ôm lấy đầu, chìa lưng ra cho mụ vụt. Nó không kêu, không giãy. Tôi điên tức, muốn vào can thiệp nhưng vào làm sao, can thiệp thế nào? Thành ra, hôm đó ra về, tôi nuôi cái buồn, cái tức trong lòng, như chính thân tôi đã bị ai hành hạ. Tối hôm ấy, bác thợ máy và bác đồ tể đến học, tôi kể lại cảnh kia cho họ nghe.
Bác đồ tể đập tay vào đùi tôi, cười vang nhà:
- Ối mẹ ôi, đó là nhà con mụ Mít. Tối nào mưa dầm gió bấc, ông có muốn đi giải sầu thì tôi xin hướng dẫn. Nhiều mẻng sộp lắm ạ!
Tôi thấy một cái gì vang vỡ trong lòng. Con bé mới từng ấy tuổi, gày gò như thế! Có lẽ đâu!
Bỏ qua, tôi không nói gì đến chuyện ấy nữa. Mười giờ, bác thợ máy và bác đồ tể học xong ra về. Tôi làm việc, vừa cầm bút thì có một cái bóng lẻn vào. Con bé ấy! Vẫn dáng điệu sợ hãi, nó ẩn sau lưng tôi, làm như có ai theo đuổi, cần tôi che chở.
Tôi biết ý, ra cài cổng.
Trong ánh lửa đỏ mờ, tôi nhận thấy nó lạ hơn mọi bữa. Mặt nó bôi phấn sáp, lông mày vẽ vụng về. Nó mặc cái áo lụa hoa đào, tuy giời rét đứt ruột. Vai áo rách sã một miếng, tỏ ra bị ai giằng xé. Nó run bần bật. Tôi cầm bàn tay gày nhỏ của nó, bảo:
- Em không sợ, đã có ta bênh vực. Con mụ béo đánh đuổi phải không?
Con bé tròn mắt nhìn tôi. Nó lạ, sao tôi biết con mụ béo.
- Ta biết. Con mụ ấy bắt em tiếp khách chứ gì?
Con bé ôm mặt khóc nức nở.
- Ông ơi, ông chết đi để cháu bơ vơ một thân một mình, người ta đày đọa cháu thế này...
Nó điên cuồng, cào cấu mặt mũi, móc ngón tay vào chỗ áo rách, xé toạc thêm ra.
- Cháu không nghe lời nó được. Cháu sợ lắm... Nó bôi son, trát phấn vào mặt cháu. Nó bắt cháu cởi áo nâu ra mặc áo lụa này vào. Nó dỗ dành cháu. Dỗ không được, nó đánh. Cháu chạy. Một người đàn ông say rượu đuổi cháu đến đây...
Tôi không nói gì, lặng yên nhìn con bé khốn khổ như một con nai con bị kẻ đi săn dồn đuổi. Tôi ngồi trước ngọn đèn con. Ngoài giời mưa rét. Con bé mệt, nằm ngả đầu trên một cánh tay co quắp. Nó rên se sẽ. Tôi đặt tay vào trán nó. Da nóng như than. Tôi đỡ nó vào giường, đắp chăn. Nó lên cơn sốt rét, run lập cập. Tôi thức suốt đêm hôm ấy, lòng hoang mang, khổ não vô cùng.
- Nếu ta không cứu vớt, nó bị đọa lạc, sẽ rơi xuống vực.
Sớm hôm sau, để yên nó ngủ tôi đi lấy trước một món tiền tại một nhà xuất bản. Tôi đến nhà mụ Tú Bà. Con mụ thấy tôi nhận là anh họ con bé, và thấy tôi đến giả tiền chuộc nó ra, thì hí hửng, rất khả ố.
Đưa tiền và lấy giấy tờ của mụ Mít xong, tôi về bãi. Con bé đã thức dậy, thấy tôi về, nó vội ngồi lên. Nó ngơ ngác nhìn tôi, nhìn một lượt khắp gian nhà, rồi lại vẫn dáng sợ sệt, nó lẻn ra cửa như mọi bận.
Tôi kéo tay nó lại:
- Ta chuộc cho em ra rồi. Bây giờ em có thể yên thân ở đây với ta.
Nó trố mắt nhìn tôi rồi bưng mặt khóc.
Hôm ấy Chủ nhật. Hai vợ chồng bác thợ máy đi qua ngõ, chừng ngày lương, dắt nhau lên phố sắm sửa chăng. Tôi gọi vợ chồng bác thợ máy vào. Tôi kể chuyện đêm qua con bé bị người ta ép, phải trốn đến đây, và sau cùng tôi nhờ vợ chồng bác đem nó về, nuôi nó. Vợ bác thợ máy, vốn hiền lành, phúc hậu, vui vẻ xin nhận nó làm con nuôi, bởi bác đang hiếm hoi chưa có mụn con nào. Vợ chồng bác xin đem con bé về ngay lúc đó để thuốc thang cho nó khỏi bệnh. Nhìn ba cái bóng đi khuất bờ rào, tôi mỉm cười, rất bằng lòng.
Tôi ngồi phác họa tương lai con bé. Trong khi ấy trời hửng nắng, sau mấy ngày gió bấc, mưa dầm.
Tiểu thuyết thứ Bảy, số 432 năm 1942