Hà Nội Cũ Nằm Đây

Lượt đọc: 107 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Tôi là thi sĩ

❊ ❊ ❊

“Tôi đã vào tới Huế. Việc tôi cần làm trước hết là đóng chặt cửa phòng, ngồi viết bức thư này gửi anh.

Tôi cần kể anh nghe những nỗi vinh nhục trong mấy năm tôi sống ở Hà thành. Mà tất cả những vinh nhục đó đều ở trong nghề làm thi sĩ của tôi. Tôi đã bỏ học để làm thi sĩ. Tôi đã ăn cắp, ăn trộm để làm thi sĩ…, thôi thì chẳng còn thiếu tật gì. Vậy mà tôi cứ vênh mặt đeo cái danh từ to tát ấy trong một năm trời đấy. Âu là nghiệp dĩ tự trời! Bây giờ khi đã tỉnh ngộ, tôi thù văn chương hơn thù một thằng hung nó giết hụt mình, và thề không bao giờ để nó quyến dụ như xưa nữa.

Dạo ấy, một buổi tôi được hân hạnh khoác tay mấy nhà văn, nhà báo đi ăn chả cá và đi hát cô đầu. Được ăn với văn nhân, được nằm ngả nghiêng thân mật với văn nhân, đó là cái mộng tôi nuôi từ lâu lắm.

Trước giờ hẹn, tôi chải chuốt cực kỳ cẩn thận. Tất cả những thứ dùng trong người tôi đều mới hết. Soi gương, tôi thấy mình sang trọng quá, đến nỗi tôi ngỡ tôi sắp sửa đi làm bạn với những ông Hoàng. Tôi luyện điệu bộ, dáng dấp cho có vẻ trang nghiêm, đứng đắn, tôi sắp đặt những lời ăn nói để chốc nữa, tiếp các bậc văn nhân kia cho xứng với giá trị của dòng tôn thất đất kinh kỳ.

Đã đến giờ. Tôi nóng ruột, lo rằng mình hoặc vô duyên hoặc đã vụng về mời chẳng khéo lời nên các văn gia giận không cho mình cái may mắn được theo hầu.

Nhưng không, những văn gia yêu kính của tôi đã đến kia rồi. Tôi đứng trên bao lơn gác vui mừng nhìn xuống, một đoàn xe tay kiểu mới rầm rộ đỗ, trong số đó, tôi thấy có cả mấy cô rất đẹp, dáng chừng là nữ sĩ.

Tôi hồi hộp, luống cuống xức thêm nước hoa vào đầu, vào mùi xoa, quần áo. Tôi gò lại cái nút ca vát cho bé hơn tí nữa, vì đó là mốt mới của giới ăn chơi Hà Nội. Tôi đếm lại số tách uống nước và số ghế ngồi xem có đủ không.

Chờ đến năm phút mà chưa thấy ai lên, tôi chợt nghĩ ra các ông bạn, bà bạn danh giá của tôi có lẽ đang đợi chủ nhân xuống nghênh tiếp rồi mới chịu lên. Hối hận mình thiếu xã giao, tôi vội chạy xuống dưới nhà. Vừa bước hết bậc thang, tôi đã nghe thấy tiếng gắt nhau, mắng nhau ầm ĩ. Thì ra các văn gia đang nhường nhau trả tiền xe, nhưng ai nấy đều vỗ túi để phân trần là chẳng có một đồng chinh nhỏ. Tôi sợ nếu họ cứ vỗ túi phân trần với nhau thế mãi, ắt sẽ xảy ra xung đột, vì tôi thấy mặt người nào cũng sát khí đằng đằng, tôi vội nhanh nhảu chạy ra, nghiêng mình chào trân trọng, rồi tươi cười tranh giả tiền cho tám anh xe vừa vặn chẵn một đồng bạc giấy.

Họ rầm rộ trèo lên thang gác. Gót giầy tây đóng cá, gót bọc sắt giẫm ầm ầm, đến nỗi cái cầu thang ốm yếu sẵn phải trĩu mình xuống. Bà cụ chủ chạy ra trợn mắt nhìn, làu nhàu chửi rủa bằng những câu tục nhất của những người đàn bà An nam.

Bây giờ đến cuộc giới thiệu quý danh các danh nhân. Tôi nắm những bàn tay thân ái một cách hân hoan cảm kích, tôi nghiêng đầu chào những bộ mặt hoa một cách niềm nở, hữu tình.

Tôi lóng cóng pha nước đưa mời từng người một, đánh diêm châm hầu thuốc lá từng người, lăng xăng chạy đi, chạy lại, rồi đỏ mặt khi nghe những câu khen ngợi của các nhà báo, nhà văn đã hết sức phục văn tôi.

Cuộc đàm luận chứa toàn lời ca tụng về tôi đúng nửa giờ. Tôi cảm thấy no nê vì những lời ca tụng ấy mà quên hẳn việc mời các bạn đi chả cá, nếu nhà văn chính luận Quốc Hồn không cười rất lớn để phá tan cái không khí văn chương bằng vấn đề “nghệ thuật vị nhân sinh”:

- Thôi Hồng Vân thi sĩ hãy cho đi chén đã, đói lắm rồi.

Hồng Vân thi sĩ! Các ngài nghe thấy gì chưa? Ông Quốc Hồn vừa gọi tôi là Hồng Vân thi sĩ đấy! Thực là danh giá cho tôi. Vậy thì tôi còn đợi gì mà không mở tủ sách moi nốt cái món tiền dành mua xe đạp để tối nay đem đi khao cực kỳ long trọng cái mỹ hiệu “Hồng Vân thi sĩ” của tôi!

Tôi nhét tập giấy bạc vào ví, rồi dẫn đầu cả một đội binh danh sĩ ra ngoài phố. Tôi ngửa mặt nhìn thiên hạ, tôi đi ngầm với bất cứ ai rằng: đừng vô phúc mà chạm đến các bạn tôi, vì cô nữ sĩ của tôi đây sẽ làm ngay bài thơ đăng báo chửi, nhà báo của tôi kia sẽ viết ngay một bài thời sự đại hải tràng giang để nói xấu kỳ cho kẻ vô phúc ấy phải đến tòa báo mà xin lỗi bằng vài chục bạc mới tha. Trêu vào nhà báo, nhà văn, tức là chạm phải vía hung thần. Ấy, tôi yên trí thế, là vì các bạn tôi thường nghiêm nghị tự trỏ vào ngực bảo tôi rằng: “bọn chúng ta là thần linh cả, vì bọn ta sống trên một thế giới tinh thần cao khiết”.

Nhưng lúc này, khi mà những cặp chả cá đã bốc mùi thơm ngào ngạt trên chiếc hỏa lò than nóng, khi mà mùi mắm tôm sặc sụa trên mặt chiếc bàn bừa bãi những bánh đa, bún, lạc rang, rau mùi, và rượu đổ ra lênh láng, tôi mới thấy cái câu nói trên kia hơi sai nghĩa. Vì các văn nhân của tôi ăn một cách tục tĩu vô cùng. Tôi không ngờ những miệng hoa kia ban nãy ngâm cho tôi nghe những câu thơ Đường bằng một giọng êm như tiếng nhạc cung thiềm, vậy mà, lúc này những miệng hoa ấy ăn hung tợn như gấu ăn trăng. Tôi không ngờ những văn nhân của tôi lúc này ăn dữ dội tựa một bọn người chạy lụt đói bảy ngày và nói bẩn quá những kẻ tầm thường, đểu cáng.

Song việc đó không làm tôi ngã lòng sớm, vì tôi nghĩ: các bạn có yêu tôi thì mới chiếu cố thực thà như vậy.

Khi các bạn đã hả hê, ngồi vươn bụng thở, hoặc đứng lên đi bách bộ, thi sĩ Kiếm Thần xướng lên vấn đề đi hát để khao trước một tập thơ của tôi sắp ra đời.

Cả bọn ồn ào biểu đồng tình. Tôi không có can đảm chối. Và bây giờ tôi lại được cái hân hạnh dẫn đầu các văn nhân thi sĩ xuống Khâm Thiên. Cả mấy nữ sĩ cũng đi dự cuộc vui, điều này khiến tôi ngạc nhiên hơn hết. Ái Hoa đặt bàn tay ngọc lên vai tôi nói ngọt ngào:

- Hồng Vân ạ, bấy nay yêu tài Hồng Vân, bây giờ gặp mặt Hồng Vân, không hiểu sao tôi quyến luyến khôn cùng… Tôi muốn Hồng Vân cắt nghĩa tôi nghe duyên cớ ấy…

Tôi sung sướng nhìn Ái Hoa, Ái Hoa nữ sĩ đã yêu tôi!

Trong nhà cô đầu, các bạn tôi hút thuốc phiện như thần, nghịch đùa như quỷ. Tôi thì ngớ ngẩn chẳng biết gì, chỉ ngồi bên Ái Hoa, Ái Nguyệt nghe Kiếm Thần gõ trống.

Gần nửa đêm, Ái Hoa, Ái Nguyệt bảo tôi đưa về nhà. Tôi mừng rỡ vì được dịp may đi với hai người ngọc giữa đêm khuya. Tôi giúi tiền cho Kiếm Thần chi hát hộ. Một lát sau, giữa đường vắng, ba chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện. Khi đưa Ái Nguyệt đến nhà rồi, chì còn một Ái Hoa đi cạnh tôi.

Chúng tôi thú thực mối tình. Rồi trước lúc chia tay, Ái Hoa hẹn sẽ làm tặng tôi một bài thơ trên một tờ Nhật báo. Tôi vui mừng như được mọc đôi cánh để lên trời.

Sau lần đó, các văn nhân thi sĩ đối với tôi đã là bạn chí thân. Chúng tôi đã “mày tao”, đã dốc túi chia nhau tiêu từng xu, từng hào một.

Các anh các chị ấy luôn luôn thúc giục tôi làm thơ, họ bảo rằng về văn nghiệp, tôi sẽ có một tương lai to tát lắm.

Mỗi khi làm xong được mấy bài thơ, hoặc đoản thiên tiểu thuyết, tôi lại để dành tiền đi mua bánh đậu xanh, chè tàu, thuốc lá, rồi viết giấy đạt mời các bạn văn thơ đến họp mặt dự tiệc trà và phê bình tác phẩm của tôi. Ái Hoa, Ái Nguyệt tranh nhau ngâm thơ tôi, Kiếm Thần, Quốc Bảo tranh nhau đọc đoản thiên của tôi rồi cả bọn vỗ tay ầm ầm tán thưởng. Mỗi lần như thế, tôi lại thấy người tôi lớn hơn một chút, và danh giá to hơn một chút.

Dần dần, tôi nhận thấy Ái Hoa, Ái Nguyệt, hai người có ý ghen tỵ nhau để yêu tôi và để được tôi yêu. Tôi thường niềm nở, đi chơi với cả hai người, thường mua quà tặng cả hai người, nhưng thực tình thì tôi yêu quý Ái Hoa hơn bởi Ái Hoa có một giọng rất hay để ngâm thơ, mà nàng lại dùng giọng ấy để ngâm thơ và bình văn tôi thì còn có thi vị nào bằng!

Từ đấy tôi mê man về yêu đương, văn chương và bạn hữu.

Tiền cha mẹ tôi ở Huế gửi ra tháng tháng, tôi dùng để mời các bạn đi ăn, đi hát, để mua cho Ái Hoa, Ái Nguyệt đủ các tặng vật đắt tiền.

Tiêu pha liều lĩnh quá, tôi phải vay lãi bà chủ trọ và nợ ba bốn tháng cơm. Bà cụ đã có ý ghét tôi, càng ghét lũ bạn tôi hễ đến là giẫm ầm ầm thang gác, cười nói như bọn giặc.

Ngày xuân sắp đến. Các bạn một hôm kéo đến nơi tôi trọ để họp mặt. Bàn luận hồi lâu, kết cục các bạn nhất quyết khuyên tôi nên xuất bản một cuốn văn mùa xuân. Coi đó là việc to tát quá, tôi rùng mình, giẫy nẩy lên mà chối, vì tôi vẫn cảm thấy văn chương mình hình như còn dở lắm. Nhưng các bạn văn cam đoan sẽ làm giúp tôi nhiều bài thật đặc sắc mà lại cho tôi làm tác giả. Các nhà báo thì hứa sẽ viết bài phê bình ca tụng nó, kỳ cho sách chạy hết, thu vài trăm bạc về đi hát mới nghe. Ái Hoa, Ái Nguyệt thì ôm lấy cổ tôi mà nói nựng như dỗ trẻ: “Anh nên cho đời biết tài anh để chúng em được thơm lây! Nếu không, tình nghĩa chúng ta kể từ đây là đoạn tuyệt…”.

Nghe những lời thúc giục, khuyến khích ngon lành ấy, tôi xin phép các bạn cho tôi mười phút để nghĩ cho lung đã. Tôi tưởng tượng hàng mấy ngàn cô gái đẹp nõn nà sẽ ấp ủ cuốn sách của tôi vào lòng, sẽ đặt nó xuống dưới gối thêu khi ngủ để mộng một cuộc viễn du khắp trời xuân xa lạ với nhà thi sĩ đa tình. Khắp mọi chỗ sẽ có sách tôi, mọi người sẽ đón đọc văn tôi, cuộc hội họp ở các văn phòng sẽ kính cẩn nhắc đến cái tên “Hồng Vân thi sĩ”. Thật là vinh dự. Vậy còn lo gì mà không cho cuốn “Hương xuân” ra chiếm một địa vị trên văn đàn Việt Nam?

Tôi ưng thuận. Và khi cuộc họp tan, anh Kiếm Thần dắt tôi đến nhà in điều đình việc in sách, in quảng cáo. Xong việc ấy, anh Quốc Bảo dắt tôi đến nhà Vạn Bảo để tôi len vào đám đông người cầm cho chú khách Tầu tất cả những quần áo tôi mới may để lấy tiền đặt cho ông chủ nhà in. Vừa xong việc, Ái Hoa, Ái Nguyệt kèm tôi đi đến nhà một me tây già để bắt tôi xỉa tiền ra chuộc hai bộ cánh tân thời mà vì thua chắn, hai ả đã phải cầm tạm từ tuần lễ trước.

Mấy ngày sau, khắp các mặt tường đầu phố, khắp các cửa hàng hiệu sách ở Hà thành, người ta đã thấy mảnh giấy vàng in hai chữ “Hương Xuân” và cái tên “Hồng vân thi sĩ” thực lớn bằng mực đỏ.

Mấy ngày sau nữa, trong khi khắp vỉa hè phố hàng Bồ, hàng Gai, các thầy đồ ngồi bán tranh Chuột, bán câu đối đỏ, chợ Đồng Xuân bán đào, bán quất, bán các thực phẩm dùng ngày Tết, thì ở khắp hiệu sách người ta cũng bày món hàng văn chương cao quý của tôi.

Đêm nào tôi cũng trằn trọc trong chăn với trăm thứ mộng tình tốt đẹp. Sáng nào tôi cũng dậy rõ sớm cạo mặt, chải dầu bóng, mặc bộ tây cũ còn sót lại nhưng tôi đã thuê là gần như mới, mắt đeo cặp kính trắng mà Kiếm Thần đưa tôi mượn cho có vẻ đại gia thi sĩ, rồi tay cắp một mớ báo cũ, một mớ sách mà tôi có ý để hở mấy chữ “Hương Xuân” và cái tên Hồng Vân thi sĩ cho người đi đường trông rõ. Tôi trịnh trọng bước xuống cầu thang, song phải bước rón rén kẻo bà cụ chủ nhà gọi giật lại hỏi nợ, hỏi tiền cơm thì khốn. Khi thoát được ra đường, tôi vênh mặt, nghênh ngang đi lấy điệu, nhìn người này, ngó kẻ kia, có lúc cúi gằm mặt xuống cho ra vẻ một nhà thơ hay một triết lý gia đang mải suy nghĩ.

Qua hiệu sách nào tôi cũng nhìn vào. Thấy cô hàng sách nào xinh xinh, tôi bước hẳn vào trong, định tự giới thiệu, nhưng tôi lại hồi hộp, ngơ ngác ra bộ tìm một cuốn sách, đoạn bẽn lẽn quay ra. Gặp mặt bạn ngoài đường, bất luận thân hay sơ, lớn hay bé, tôi níu lấy, bắt tay thật mạnh, rồi nói huyên thiên về văn thơ, báo chí.

Tết đã qua, sự nô nức của thiên hạ mừng xuân đã nhạt, tôi cắp một chiếc cặp da rõ lớn đến các hiệu sách thu tiền, vì tôi yên trí sách của tôi lẽ tự nhiên là phải bán hết cả rồi.

Nhưng sự thực trái hẳn điều dự tưởng: sách tôi không một ai mua! Các cô hàng sách xinh đẹp nhăn nhó kêu rằng từ xưa tới nay, chưa có một cuốn nào khó bán như thế, dù là một cuốn sách tồi mạt hạng, một cuốn sách chỉ đáng để vứt đi, một cuốn truyện kiếm hiệp ba xu bẩn như miếng rẻ lau bàn ghế.

Tôi như bị người ta ném xuống cái vực sâu ba mươi trượng! Tôi lại hớt hải chạy đi khắp các hiệu khác, và vực sâu kia tôi càng thấy nó sâu hơn.

Về nhà, tôi bỏ cả ăn uống, nằm thẳng cẳng như chết dở.

Giữa lúc đó, tôi nghe tiếng giầy giẫm lộp cộp trên thang gác, tôi tưởng là các bạn đến để mình được chia xẻ nổi buồn, vội vàng ngồi nhỏm dậy nhưng kẻ vừa lên đó là… bà cụ chủ nhà và ông chủ nhà in. Ông này, mặt hầm hầm hỏi tôi món tiền thuê in sách. Tôi sợ hãi đứng khúm núm gãi đầu tìm lời khất. Ông đập bàn đập ghế cự tôi, và ông báo trước trong ba ngày không trả được, ông sẽ kiện tại tòa. Rồi ông hầm hầm đi xuống. Bà cụ chủ nhìn tôi như có vẻ mát ruột, bằng lòng lắm.

Tôi lập tức đi tìm các bạn, hy vọng lấy tình nhường cơm xẻ áo bấy nay họ sẽ cứu giúp tôi, song đập cửa từng nhà mới hay họ trốn mặt tôi.

Gặp Ái Hoa, Ái Nguyệt ngoài đường tôi cuống quýt vẫy, họ giục xe chạy thẳng, làm như chẳng quen tôi. Tôi tức giận, đến nhà Ái Hoa đập cửa, tên đầy tớ ra nhìn rồi nó thương hại kể tôi nghe: Ái Hoa, Ái Nguyệt chỉ là hai ả điếm làm nghề khiêu vũ trong các tiệm. Bọn văn nhân, thi sĩ của tôi xui chúng nó học thuộc lòng những bài thơ của tôi, tán phỉnh tôi để lợi dụng tính hiếu danh, hiếu thắng của tôi mà bóp lấy tiền, rồi chia cho cả bọn cùng tiêu. Việc bí mật này nó biết được là vì nó đã nghe trộm chủ nó và bọn văn sĩ nọ bàn định với nhau trước khi thi hành cái mưu kế nhét đầu tôi vào giọ.

Tôi ngã ngửa người, tức giận đến phát điên. Nhưng may trong khi điên như vậy, tôi chợt nghĩ ra một kế để gỡ thoát nỗi nguy nan. Tôi gửi điện khẩn vào Huế cho thày mẹ tôi nói là ốm nặng, hiện đang nằm ở nhà thương. Tôi phải nói dối, vì đã nhiều lần viết thư xin tiền nhà, tôi đều bị thày mẹ tôi cự tuyệt không cho, bởi tôi tiêu hoang phí lắm.

Quả nhiên mấy hôm sau, tôi lĩnh được “măng-đa”. Tức khắc, tôi đi trả tiền ông chủ nhà in, tiền cơm trọ. Rồi chán Hà thành, thù cả sự nghiệp văn chương, tôi xách va li ra ga vô Huế.

Trên toa xe lửa, tôi ngồi thu hình trong một xó, chán nản hết sự đời. Than bụi bám đầy tóc, đầy lỗ tai, lỗ mũi, đầy quần áo, tôi không muốn lau, muốn phủi, tôi chỉ muốn liều nhảy xuống đường tàu cho những bánh xe ghê gớm nọ sả xác tôi ra làm nghìn mảnh, nghiến bẹp cái sọ khốn nạn chỉ chứa một trí dại dột, cuồng ngu.

Tôi dựa đầu vào tấm cửa gỗ mà ngủ gật. Bỗng tàu chạy qua một cái cầu sắt, tiếng động ầm ầm, tôi choàng tỉnh. Khi ấy, tôi chợt thấy bên cạnh tôi, một bà cụ già cũng người xứ Trung kỳ đang cúi mở va li lôi ra một cuốn sách. Tôi thấy cái bìa sách quen quen, vội giụi mắt nhìn, thì ra đó là cuốn “Hương xuân”. Tôi có một cảm giác là lạ chạy khắp mình. Để ý dò nét mặt vị độc giả yêu quý, nhưng trên cái khuôn mặt già nua, khắc khổ ấy, tôi không nhận thấy một nét gì biểu lộ một xúc cảm đối với những dòng chữ dưới cặp kính của bà.

Tuy vậy mặc lòng, tôi vẫn có cảm tình với vị độc giả đầu tiên của mình. Tôi vẫn không ghét con người già nua ấy, vừa đọc vài câu lại lắc lư cái đầu tóc bạc theo tàu mà ngủ lia ngủ lịa, mặc cuốn sách rơi xuống dưới chân. Mỗi lần bị đánh thức bởi tiếng còi tàu thét, bà lão lại vội vàng tìm cuốn sách, nhặt lên, lau sạch bụi than, đọc vài dòng rồi lại ngủ, cuốn sách lại bị rơi xuống dưới sàn đầy vỏ cam, bã mía.

Tôi tưởng tượng đấy là một bà mẹ hiền từ, một vị phu nhân cao quý khi về nhà, sẽ dịu dàng đặt cuốn sách của tôi vào tay một cô con gái thân yêu. Rồi vị tiểu thư đó ngồi một mình trong chốn thâm khuê sẽ nâng niu nó, hé miệng hoa ngâm đọc từng dòng những lúc vén rèm chờ trăng xế, những lúc gây lư trầm ngồi gẩy khúc đờn tỳ…

Tôi ôm khối mộng ấy trong giấc ngủ ngồi mệt nhọc cho tới hồi khuya, tàu đến Huế.

Ra khỏi nhà ga, tôi bảo xe chạy theo xe bà cụ nọ nhưng chẳng mấy lúc chiếc xe ấy đã mất hút trong màn đêm đen kịt.

Tôi giục xe chạy thẳng về nhà. Cả nhà tôi đang ngủ, thấy chó sủa vang, và thấy tôi đẩy cửa xô vào thì hết thảy mọi người đều thức dậy.

Mẹ tôi mừng rỡ ôm chầm lấy tôi mà hôn hít. Tôi ngả đầu vào ngực mẹ tôi, khóc như một đứa trẻ thơ sắp thú một tội lỗi gì…”

Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 195/1938

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026