Vậy đấy, bây giờ là năm giờ sáng, bên bờ một con kênh ở Amsterdam, tôi và Scully đang đội bộ tóc giả kiểu "Starsky & Hutch", thậm chí phần mai tóc cũng rất hoàn hảo. Tối hôm trước, chúng tôi có tổng cộng mười người, trong đó có Rob, chú rể. Cảnh tượng cuối cùng tôi thấy về cậu ta là khi cậu ta bị còng tay vào một chiếc giường trong khu đèn đỏ, phần thân dưới phủ đầy bọt cạo râu, còn em vợ tương lai của cậu ta thì đang vỗ vào mông một cô gái điếm, trong tay cô gái ấy còn cầm một con dao cạo. Đúng lúc đó, tôi nhìn Scully, cậu ấy cũng nhìn tôi, rồi nói: "Chuồn thôi?" Tôi gật đầu, bởi vì đến lúc đó, nếu cô dâu có đặt ra những câu hỏi hóc búa về bữa tiệc độc thân không có phụ nữ tham gia, bạn có lẽ chẳng hề muốn biết đáp án đâu. Thế là chúng tôi lén chuồn đi uống rượu, để mặc tám gã đàn ông đang đội tóc giả "Starsky & Hutch" (trong đó có một gã gần như khỏa thân, bị treo trên giường bằng chiếc còng tay lông xù màu hồng, trông có vẻ như đã bắt đầu nghi ngờ rằng cuộc phiêu lưu này chẳng phải ý hay ho gì) ở lại trong căn phòng nồng nặc mùi thuốc sát trùng và hương liệu rẻ tiền. Còn chúng tôi thì ra ngồi bên bờ kênh, vừa uống bia lon Đan Mạch vừa tán gẫu về những ngày xưa cũ.
Tên thật của Scully là Jeremy Potter, bây giờ mọi người đều gọi cậu ấy là Jeremy, nhưng hồi mười một tuổi, chúng tôi đều gọi cậu ấy là Scully. Cậu ấy là bạn học cũ của tôi và chú rể Rob Cunningham. Sau khi tốt nghiệp, chúng tôi dần ít liên lạc, nhưng ở thời đại này, chúng tôi lại kết nối lại với nhau bằng cách lười biếng nhất - mạng xã hội "Bạn cũ tái ngộ", "Facebook" các kiểu. Và giờ đây, Scully và tôi lại cùng hành động, đây là lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi mười chín tuổi. Bộ tóc giả "Starsky & Hutch" là ý tưởng của Scully, chúng làm cho hai đứa trông như đang đóng vai anh em trong một bộ phim truyền hình nào đó, Scully là gã lùn mập, còn tôi là gã cao kều để ria mép rậm rạp. Xét đến việc sau khi tốt nghiệp tôi kiếm được không ít tiền nhờ làm người mẫu, có lẽ tôi nên nói thêm rằng, tôi chính là gã cao ráo, ngoại hình khá khẩm hơn, nhưng thực tế thì, khi đã đội bộ tóc giả "Starsky & Hutch" có phần mai tóc kia rồi, chẳng ai có thể trông đẹp đẽ được.
Hơn nữa, tóc giả còn làm người ta hơi ngứa ngáy.
Chúng tôi ngồi bên bờ kênh, uống cạn bia, rồi cứ thế trò chuyện, ngắm mặt trời mọc.
Lần cuối tôi gặp Scully là khi cậu ấy mới mười chín tuổi, đầy rẫy những hoài bão lớn lao. Khi đó, cậu ấy vừa gia nhập Không quân Hoàng gia Anh với tư cách học viên, chuẩn bị lái máy bay, đồng thời dùng máy bay để buôn lậu ma túy, để vừa có thể giúp đỡ đất nước vừa kiếm được khối tài sản kếch xù. Ý tưởng này cũng chẳng khác gì những suy nghĩ điên rồ khác của cậu ấy hồi còn đi học. Thường thì các kế hoạch của cậu ấy đều thất bại, đôi khi còn kéo cả bọn tôi vào rắc rối.
Sự nghiệp Không quân Hoàng gia Anh của cậu ấy chỉ kéo dài sáu tháng, kết thúc sớm bởi một loại bệnh chân không tên nào đó. Và giờ đây, mười hai năm sau, cậu ấy đã là giám đốc cấp cao của một nhà máy sản xuất kính hai lớp. Cậu ấy kể với tôi rằng, kể từ sau khi ly hôn, cậu ấy chỉ còn lại một căn nhà nhỏ hơn mức cậu ấy nghĩ mình xứng đáng có, và một chú chó Golden Retriever.
Cậu ấy có quan hệ ngoài luồng với một người phụ nữ trong nhà máy kính, nhưng không trông mong cô ấy sẽ vì mình mà bỏ bạn trai, cậu ấy có vẻ thấy như vậy thoải mái hơn. "Tất nhiên, sau khi ly hôn, đôi khi mình vẫn thức giấc trong nước mắt. Ừ, đúng là như vậy." Cậu ấy từng nói thế một lần. Tôi rất khó hình dung cảnh cậu ấy khóc, nhưng khi nói câu đó, cậu ấy cũng nở một nụ cười rạng rỡ đặc trưng của Scully.
Tôi kể cho cậu ấy nghe chuyện của mình: vẫn đang làm người mẫu, giúp bạn bè quảng bá cho cửa hàng đồ cổ, vẽ thêm tranh. May mắn thay, tranh của tôi vẫn bán được. Mỗi năm tôi đều tổ chức một triển lãm nhỏ tại một phòng tranh "bé xíu" ở Chelsea, ban đầu những người mua tranh đều là người quen, nhiếp ảnh gia, bạn cũ, đại loại thế, nhưng giờ tôi đã có khách hàng cố định. Chúng tôi nói về những ngày xưa cũ mà dường như chỉ còn Scully nhớ, khi bộ ba cậu ấy, Rob và tôi còn là một khối thiêng liêng không thể phá vỡ. Chúng tôi nói về những đau khổ tuổi dậy thì, về Caroline Minton (cô ấy giờ đã kết hôn với một mục sư giáo xứ, phải gọi là Caroline King), về lần đầu tiên chúng tôi liều lĩnh đi xem phim người lớn, chỉ là cả hai chẳng ai nhớ nổi tên bộ phim đó.
Lúc này Scully nói: "Mấy hôm trước mình nghe tin về Cassandra."
"Cassandra?"
"Bạn gái cũ của cậu đấy, Cassandra. Còn nhớ không?"
"...Không nhớ nổi."
"Cô bé ở Reigate ấy. Cậu từng viết tên cô ấy lên tất cả các cuốn sách." Trông tôi chắc hẳn rất ngốc nghếch, hoặc là đang say mèm, hay mắt nhắm mắt mở, bởi cậu ấy lại nói: "Cậu gặp cô ấy trong kỳ nghỉ trượt tuyết. Ôi trời, đó là mối tình đầu của cậu đấy. Cassandra."
"Ồ," tôi nói, rồi nhớ ra, tôi nhớ lại tất cả mọi thứ, "Cassandra."
Tôi thực sự đã nhớ ra.
"Đúng rồi," Scully nói, "Cô ấy để lại lời nhắn cho mình trên Facebook. Cô ấy đang điều hành một đoàn kịch cộng đồng ở phía Đông London, cậu nên nói chuyện với cô ấy đi."
"Thật sao?"
"Mình nghĩ là vậy, ý mình là, xem mấy dòng trong lời nhắn của cô ấy thì có vẻ cô ấy vẫn chưa quên chuyện của cậu đâu. Cô ấy có hỏi về cậu."
Tôi nhìn ra con kênh trong ánh sáng ban mai, tự hỏi rốt cuộc cậu ấy đã say đến mức nào. Bản thân tôi cũng đã say thêm vài phần. Tôi nói vài điều mà giờ chẳng nhớ nổi, rồi hỏi Scully có nhớ khách sạn của chúng tôi ở đâu không, vì tôi đã quên sạch, cậu ấy nói cậu ấy cũng không nhớ, còn bảo Rob có địa chỉ khách sạn, chúng tôi nên đi tìm cậu ấy, cứu cậu ấy khỏi tay cô gái điếm xinh đẹp có còng tay và dao cạo kia. Để làm được việc này, chúng tôi phải biết làm sao để quay lại nơi cậu ấy bị bỏ lại. Khi tìm kiếm manh mối, tôi lấy từ túi sau quần ra một tấm thẻ nhỏ có ghi địa chỉ khách sạn, thế là chúng tôi quay lại đó. Và việc cuối cùng tôi làm trước khi rời bờ kênh, kết thúc cái đêm kỳ quặc này, là giật phăng bộ tóc giả "Starsky & Hutch" ngứa ngáy kia xuống và ném xuống kênh.
Nó nổi lềnh bềnh trên mặt nước.
Scully nói: "Cậu biết đấy, thuê bộ tóc giả này là phải đặt cọc đấy. Nếu cậu không muốn đội thì phải đưa cho mình chứ." Rồi cậu ấy lại nói: "Cậu nên nhắn tin trả lời Cassandra đi."
Tôi lắc đầu. Tôi muốn biết người đang trò chuyện với cậu ấy trên mạng rốt cuộc là ai, và cậu ấy đã nhầm ai với Cassandra, bởi tôi biết, người đó tuyệt đối không thể là Cassandra.
Chuyện về Cassandra là thế này: cô ấy là nhân vật do tôi hư cấu ra.
Khi đó tôi khoảng mười lăm, sắp mười sáu tuổi. Tôi rất vụng về, vừa trải qua giai đoạn phát triển nhảy vọt của tuổi dậy thì, đột nhiên cao hơn hầu hết bạn bè, điều này khiến tôi rất nhạy cảm về chiều cao của mình. Mẹ tôi mở một trường đua ngựa nhỏ, tôi giúp đỡ lặt vặt ở đó, nhưng những cô gái tháo vát, tỉnh táo và giống như những con ngựa ở đó làm tôi sợ hãi. Ở nhà, tôi viết mấy bài thơ dở tệ, vẽ vài bức tranh màu nước, đa số là ngựa con trên đồng cỏ, còn ở trường - trường chúng tôi chỉ toàn nam sinh - tôi chơi cricket khá tốt, thỉnh thoảng tham gia biểu diễn kịch, lúc rảnh rỗi thì cùng bạn bè nghe nhạc (lúc đó CD mới xuất hiện, nhưng đầu đĩa CD rất hiếm và đắt đỏ, nên chúng tôi dùng máy hát đĩa than và loa lấy từ bố mẹ hoặc anh chị). Khi không nói chuyện âm nhạc hay thể thao, chúng tôi nói về con gái.
Scully lớn tuổi hơn tôi một chút, Rob cũng vậy. Họ sẵn lòng chấp nhận tôi vào nhóm nhỏ, nhưng cũng thích trêu chọc tôi. Họ cư xử như thể tôi là một đứa nhóc, nhưng tôi đâu phải vậy. Họ đều đã ngủ với con gái rồi, thực tế mà nói, cách nói này không đúng lắm, họ ngủ với cùng một cô gái - Caroline Minton, cô ấy rất nổi tiếng vì ai cũng chiều, và chỉ cần người ở bên cô ấy có một chiếc xe máy, cô ấy luôn sẵn sàng.
Tôi không có xe máy. Tôi chưa đủ tuổi, mẹ tôi cũng không mua nổi (bố tôi mất từ khi tôi còn nhỏ vì một tai nạn do quá liều thuốc mê, lúc đó ông chỉ đi bệnh viện làm một ca phẫu thuật nhỏ ở ngón chân. Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn luôn tránh xa bệnh viện). Tôi từng gặp Caroline Minton vài lần ở các buổi khiêu vũ, nhưng cô ấy làm tôi sợ, và dù có xe máy, tôi cũng không muốn lần đầu tiên của mình là với cô ấy.
Scully và Rob đều đã có bạn gái. Bạn gái của Scully lúc đó cao hơn cậu ấy, ngực nở nang, mê bóng đá, điều đó có nghĩa là Scully phải giả vờ mình cũng thích bóng đá, đặc biệt là phải thích đội Crystal Palace; trong khi đó, bạn gái của Rob cho rằng Rob nên có sở thích chung với cô ấy, điều này có nghĩa là Rob không còn nghe nhạc điện tử pop giữa thập niên tám mươi mà chúng tôi thích nữa, mà bắt đầu nghe những ban nhạc hippie từ thời chúng tôi còn chưa ra đời, điều này thật tệ, nhưng Rob đã lục lọi được những cuộn băng video truyền hình cũ tuyệt vời từ bộ sưu tập của bố cô ấy, điều đó lại khá ổn.
Tôi không có bạn gái.
Thậm chí mẹ tôi cũng bắt đầu bình luận về chuyện này.
Chắc chắn là từ đâu đó đã nảy sinh trong tôi ý nghĩ này và cái tên này, nhưng tôi đã không nhớ nổi nữa. Tôi chỉ nhớ mình đã viết "Cassandra" vào vở bài tập. Sau đó, tôi cẩn thận, không nói gì cả.
"Cassandra là ai?" Scully hỏi trên xe buýt trường.
"Chẳng là ai cả." Tôi nói.
"Cô ấy chắc chắn là người nào đó. Cậu viết tên cô ấy vào vở toán kìa."
"Chỉ là một cô gái mình gặp trong kỳ nghỉ trượt tuyết thôi." Một tháng trước, tôi cùng mẹ, dì và các anh em họ đi trượt tuyết ở Áo.
"Chúng mình có thể gặp cô ấy không?"
"Cô ấy là người Reigate. Mình hy vọng là được."
"Ừ, hy vọng thế. Cậu thích cô ấy à?"
Tôi dừng lại, đợi một khoảng thời gian mà mình cho là phù hợp, rồi nói: "Cô ấy hôn rất giỏi." Sau đó Scully cười lớn, Rob muốn biết liệu chúng tôi có từng hôn kiểu Pháp ướt át, loại phải dùng đến lưỡi không, tôi nói: "Các cậu nghĩ sao?" Cho đến cuối ngày hôm đó, cả hai đều tin là có một người như vậy.
Mẹ tôi rất vui khi tôi gặp được ai đó. Với những câu hỏi của bà, ví dụ như bố mẹ Cassandra làm gì, tôi chỉ nhún vai.
Tôi và Cassandra đã "hẹn hò" ba lần. Mỗi lần hẹn hò, tôi đều bắt tàu đến London, rồi tự mình đi xem phim. Chuyện này theo cách riêng của nó, rất kích thích.
Lần hẹn hò thứ hai của chúng tôi (thực tế là tôi đi xem phim "Nanny McPhee" một mình ở Quảng trường Leicester), trong phiên bản tôi kể cho mẹ, cơ bản là tay trong tay cùng đi xem triển lãm tranh mà bà gọi là "bức họa". Nhưng trong phiên bản tôi miễn cưỡng tiết lộ với Rob và Scully (và trong suốt cả cuối tuần, còn có vài người bạn khác ở trường, họ nghe tin đồn từ miệng của Rob và Scully - những kẻ vốn tự nhận là giữ bí mật - nên muốn đến xác nhận với tôi), ngày hôm đó thực tế là lễ kỷ niệm ngày tôi mất trinh, địa điểm là căn hộ của dì Cassandra ở London, dì ấy không có nhà, còn cô ấy có chìa khóa. Tôi có (làm bằng chứng) một túi bao cao su nhỏ, thiếu một cái, là cái tôi đã vứt đi, và một bộ bốn bức ảnh đen trắng, đó là thứ tôi tìm thấy trong chuyến đi London đầu tiên, nó bị vứt trong giỏ của buồng chụp ảnh tại ga Victoria. Cô gái trong ảnh cùng tuổi với tôi, có mái tóc dài thẳng (tôi không chắc lắm về màu tóc, nâu sẫm? đỏ? nâu nhạt?), khuôn mặt rất thân thiện, có vài nốt tàn nhang, không đến nỗi nào. Tôi bỏ ảnh vào túi, mang đến lớp mỹ thuật, vẽ một bức phác thảo dựa trên bức ảnh thứ ba. Tôi thích bức này nhất, cô ấy nghiêng nửa mặt, trông như đang gọi một người bạn vô hình nào đó sau bức màn mỏng. Cô ấy trông rất ngọt ngào, giàu sức hút. Nếu cô ấy có thể là bạn gái tôi, tôi sẽ rất hạnh phúc.
Tôi treo bức phác thảo lên tường phòng ngủ, ở nơi tôi có thể nhìn thấy từ trên giường.
Sau lần hẹn hò thứ ba (hôm đó xem "Who Framed Roger Rabbit"), tôi mang một tin xấu đến trường: vì công việc của bố Cassandra, cả gia đình họ phải chuyển đến Canada (ít nhất là theo tai tôi nghe, nơi này đáng tin hơn Mỹ một chút), tôi chắc là phải rất lâu nữa mới gặp lại cô ấy. Chúng tôi không hẳn là chia tay, nhưng phải đối mặt với thực tế, hồi đó điện thoại quốc tế đối với bọn trẻ tuổi dậy thì đắt đỏ lắm. Mọi chuyện kết thúc.
Tôi rất buồn. Ai cũng nhận ra tôi đau lòng đến mức nào. Họ nói họ rất sẵn lòng gặp cô ấy, có lẽ Giáng sinh cô ấy sẽ về? Tôi chắc chắn rằng, đến Giáng sinh, chẳng ai nhớ nổi cô ấy nữa.
Quả đúng như vậy. Giáng sinh tôi đi hẹn hò với Nicky Blevins, còn bằng chứng duy nhất về việc Cassandra từng xuất hiện trong cuộc đời tôi, chỉ là cái tên cô ấy viết trong hai cuốn vở bài tập, và bức phác thảo bằng bút chì trên tường phòng ngủ, phía dưới viết "Cassandra, ngày 19 tháng 2 năm 1985".
Sau khi mẹ tôi bán trường đua ngựa, trong quá trình chuyển nhà, bức tranh đó đã biến mất. Lúc đó tôi đang học ở Học viện Mỹ thuật, tự thấy bức phác thảo bút chì cũ kỹ đó là bằng chứng cho việc mình từng hư cấu ra một cô bạn gái, cảm thấy xấu hổ nên chẳng hề để tâm.
Tôi nghĩ mình đã suốt hai mươi năm không nghĩ đến Cassandra.
Mẹ tôi bán trường đua ngựa, căn nhà phụ và đồng cỏ cho một nhà phát triển bất động sản, đối phương xây dựng một khu dân cư ngay nơi chúng tôi từng sống. Như một phần của giao dịch, mẹ tôi nhận được một căn nhà riêng lẻ nằm ở cuối phố Sutton. Cứ mỗi hai tuần tôi lại đến thăm bà ít nhất một lần, thường là tối thứ Sáu đến, sáng Chủ nhật rời đi, lịch trình ổn định như chiếc đồng hồ quả lắc trong phòng khách của bà nội.
Mẹ lo tôi sống không hạnh phúc. Bà bắt đầu nhắc đến việc bà có không ít con gái của bạn bè rất phù hợp. Lần này tôi đến thăm bà, giữa chúng tôi xảy ra một cuộc trò chuyện đặc biệt gây khó xử. Ban đầu bà hỏi tôi liệu có thể giới thiệu cho bà người chơi đàn organ ở nhà thờ mà bà thuộc về hay không, đó là một thanh niên cùng tuổi với tôi, người rất tốt.
"Mẹ, con không phải người đồng tính."
"Đồng tính thì có gì không tốt chứ, con yêu. Rừng nào chim nấy, có người thậm chí còn kết hôn rồi. Được rồi, cũng không hẳn là kết hôn thật, nhưng dù sao cũng là một chuyện."
"Dù mẹ có nói vậy, con vẫn không phải người đồng tính mà."
"Mẹ chỉ nghĩ, con cứ mãi không kết hôn, lại còn vẽ tranh, làm người mẫu cho người ta."
"Con từng có không ít bạn gái mà mẹ. Mẹ cũng từng gặp vài người trong số họ rồi còn gì."
"Điều đó chẳng nói lên gì cả, con yêu. Mẹ chỉ nghĩ, có thể con có điều gì muốn nói với mẹ."
"Con không phải người đồng tính, mẹ ạ. Nếu con là, con sẽ nói với mẹ thôi." Sau đó tôi nói: "Hồi ở Học viện Mỹ thuật, con từng hôn Tim Carter ở một buổi khiêu vũ, nhưng lúc đó cả hai đều say khướt, hơn nữa cũng chẳng làm gì thêm."
Bà mím môi. "Thế là đủ rồi, chàng trai trẻ." Sau đó, như thể muốn xóa đi mùi vị khó chịu nào đó trong miệng, bà đột ngột chuyển chủ đề, nói: "Con tuyệt đối không đoán được tuần trước mẹ đã đụng phải ai ở siêu thị Tesco đâu."
"Ừm, con không đoán được. Là ai ạ?"
"Bạn gái cũ của con đấy. Mẹ nên nói là bạn gái đầu tiên của con."
"Nicky Blevins? Khoan đã, cô ấy kết hôn rồi mà, đúng không? Nicky Woodbridg?"
"Người trước cả cô ấy cơ, con yêu. Là Cassandra. Mẹ đứng xếp hàng thanh toán thì thấy cô ấy ở phía sau. Đáng lẽ mẹ phải ở trước cô ấy, nhưng mẹ quên chưa lấy kem cho đống quả mọng định ăn hôm nay, nên quay lại lấy, lúc quay lại xếp hàng thì cô ấy đã ở trước mẹ rồi. Mẹ nhận ra khuôn mặt đó, mẹ rất quen. Ban đầu, mẹ thấy cô ấy giống con gái nhỏ nhà Joan Simon, cái đứa bị khiếm khuyết ngôn ngữ ấy - hồi trước chúng ta có thể nói thẳng là nó nói lắp, nhưng giờ thì không thể nói thế được nữa - sau đó mẹ nghĩ, mẹ biết làm sao mình nhận ra khuôn mặt này, nó treo ở đầu giường con suốt năm năm cơ mà. Tất nhiên mẹ liền nói: 'Có phải là Cassandra không?' Cô ấy nói: 'Cháu đúng là Cassandra ạ.' Mẹ nói: 'Cháu nghe xong có thể sẽ cười, nhưng mẹ là mẹ của Stuart Innes.' Cô ấy nói: 'Stuart Innes?' Nói đoạn, trông cô ấy sáng bừng lên. Ừm, lúc mẹ bỏ đồ tạp hóa vào túi thì cô ấy cứ lảng vảng bên cạnh, cô ấy nói đã liên lạc với bạn con là Jeremy Potter trên "Facebook", họ còn nói về con nữa..."
"Ý mẹ là "Facebook"? Cô ấy và Scully trò chuyện trên "Facebook" ạ?"
"Đúng vậy, con yêu."
Tôi vừa uống trà vừa suy ngẫm, rốt cuộc mẹ tôi đã trò chuyện với ai. Tôi nói: "Mẹ thực sự chắc chắn đó là Cassandra treo ở đầu giường con sao?"
"Ôi, tất nhiên rồi, con yêu. Cô ấy kể cho mẹ nghe chuyện con đưa cô ấy đến Quảng trường Leicester như thế nào, còn cả lúc gia đình họ phải chuyển đến Canada, cô ấy đau lòng thế nào nữa. Họ đi Vancouver. Mẹ hỏi cô ấy có gặp cháu trai Leslie của mẹ ở đó không, nó đi Vancouver từ sau chiến tranh, nhưng cô ấy nói chắc là không, rõ ràng đó là một nơi khá lớn. Mẹ kể với cô ấy là con từng vẽ một bức phác thảo bút chì về cô ấy, cô ấy có vẻ hiểu rất rõ về hướng đi hiện tại của con. Mẹ kể với cô ấy là tuần này triển lãm tranh của con khai mạc, cô ấy còn khá phấn khích nữa cơ."
"Mẹ kể với cô ấy rồi ạ?"
"Phải rồi, con yêu. Mẹ nghĩ cô ấy sẽ rất vui khi biết." Sau đó mẹ tôi nói với giọng gần như khao khát: "Cô ấy thực sự rất đáng yêu, con yêu ạ. Mẹ nghĩ cô ấy làm việc trong đoàn kịch cộng đồng." Sau đó cuộc trò chuyện chuyển sang chuyện bác sĩ Dunning nghỉ hưu, ông ấy đã là bác sĩ gia đình của nhà chúng ta từ trước khi con chào đời, mẹ tôi nhắc đến việc trong phòng khám của ông ấy, giờ ông ấy là bác sĩ duy nhất không phải người Ấn Độ, còn bày tỏ cảm nhận của mình về chuyện đó.
Tối hôm đó, tôi nằm trên giường trong phòng ngủ nhỏ ở nhà mẹ, trong đầu hồi tưởng lại cuộc trò chuyện của chúng tôi. Tôi đã lâu không vào "Facebook", tôi tự hỏi có nên đăng nhập một chút, đi xem danh sách bạn bè của Scully, biết đâu trong đó có người giả mạo Cassandra này. Nhưng trong danh sách bạn bè của cậu ấy có quá nhiều người tôi không muốn gặp, thế là đành để mặc chuyện đó. Tôi rất tin rằng chắc chắn nó phải có một lời giải thích hợp lý, mọi chuyện có lẽ đơn giản thôi, rồi tôi chìm vào giấc ngủ.
Tôi tổ chức triển lãm tại phòng tranh "bé xíu" ở Chelsea đã hơn mười năm rồi. Trước đây, tác phẩm của tôi chỉ chiếm được một phần tư bức tường của họ, không một bức tranh nào có giá quá ba trăm bảng. Còn bây giờ, mỗi tháng mười hàng năm tôi đều tổ chức triển lãm cá nhân, kéo dài một tháng. Thú thật, tôi chỉ cần bán được khoảng mười bức tranh là có thể có kinh phí cho năm sau, bao gồm phí sinh hoạt và tiền thuê nhà các thứ. Những bức tranh không bán được trong triển lãm sẽ treo trên tường cho đến khi bán được, thường thì đến Giáng sinh là bán hết sạch.
Hai chủ phòng tranh là Paul và Barry vẫn gọi tôi là "mỹ thiếu niên" như mười hai năm trước khi tôi lần đầu tiên triển lãm ở chỗ họ, hồi đó cái tên này có lẽ còn khá đúng. Hồi đó, họ ăn mặc lòe loẹt, mặc áo sơ mi cổ mở, còn đeo dây chuyền vàng, còn bây giờ, họ đã trung niên, mặc những bộ vest đắt tiền, miệng nói về thông tin giao dịch chứng khoán nhiều đến mức khiến người ta cảm thấy tẻ nhạt. Nhưng tôi vẫn thích có họ đồng hành. Một năm tôi đi gặp họ ba lần, hàng năm vào tháng chín, họ sẽ đến studio của tôi, xem dạo này tôi vẽ gì, rồi chọn tác phẩm cho triển lãm; tháng mười, chúng tôi trưng bày tranh tại phòng tranh, cùng tham gia hoạt động khai mạc; đến tháng hai, chúng tôi sẽ gặp nhau để chốt sổ.
Người duy trì vận hành phòng tranh là Barry. Paul là đối tác của phòng tranh, anh ấy sẽ đến tham dự tiệc rượu, nhưng đồng thời còn làm việc ở bộ phận trang phục của Nhà hát Opera Hoàng gia. Tiệc rượu khai mạc năm nay vào tối thứ Sáu. Tôi mất mấy ngày chuẩn bị trưng bày trong căng thẳng, giờ phần việc này đã hoàn thành, những gì còn lại chẳng qua chỉ là chờ đợi, hy vọng khán giả thích tác phẩm của mình, để tôi không đến mức phải bẽ mặt. Tôi làm việc theo chỉ dẫn của Barry như mười hai năm qua: "Để ý sâm panh. Pha thêm chút nước trắng vào ly rượu. Đối với nhà sưu tầm mà nói, không có gì tồi tệ hơn việc gặp gỡ một nghệ sĩ say mèm, trừ khi người đó nổi tiếng vì say rượu, nhưng rõ ràng cậu không phải, con yêu ạ. Cậu phải hòa nhã, nhưng lại phải tỏ ra bí ẩn khó lường. Nếu có người hỏi về câu chuyện đằng sau bức tranh, cậu hãy nói: 'Tôi đã bị phong tỏa thông tin rồi.' Nhưng vì Chúa, cậu phải ám chỉ rằng đằng sau nó có một câu chuyện. Thứ họ mua chính là câu chuyện này đấy."
Những năm gần đây, tôi không còn mời người khác tham gia buổi xem trước triển lãm nữa. Một số nghệ sĩ vẫn làm vậy vì họ coi đó là một dịp giao lưu xã hội, nhưng tôi thì không. Tôi nghiêm túc coi nghệ thuật của mình là nghệ thuật và lấy làm tự hào về các tác phẩm (triển lãm lần trước có tên là "Những con người trong phong cảnh", và cái tên này thực sự phù hợp với tất cả các tác phẩm của tôi). Tôi hiểu rất rõ rằng mục đích duy nhất của buổi tiệc rượu là để giao lưu; nó nhắc nhở các nhà sưu tầm và những người sẽ thông báo tin tức triển lãm đến các nhà sưu tầm rằng buổi triển lãm đã bắt đầu. Sau khi nghe tôi nói thế, bạn sẽ không ngạc nhiên khi biết danh sách khách mời dự xem trước do Barry và Paul quyết định, chứ không phải tôi.
Buổi xem trước luôn bắt đầu vào lúc sáu giờ rưỡi tối. Suốt cả buổi chiều, tôi vẫn đang bận rộn bài trí, đảm bảo mọi thứ trông đều ổn thỏa, những năm qua tôi vẫn luôn làm như vậy. Điều duy nhất khác biệt trong sự kiện định kỳ này là Paul trông đặc biệt phấn khích, giống như một cậu bé đang đấu tranh tư tưởng, nóng lòng muốn cho bạn biết cậu đã mua món quà sinh nhật nào cho bạn. Ngoài ra còn có Barry, khi tôi đang bài trí, ông ta nói: "Tôi nghĩ buổi tiệc tối nay sẽ khiến cậu nổi danh khắp thế giới."
Tôi đáp: "Có một lỗi in ấn trong phần giới thiệu của bức tranh ở vùng hồ." Đó là bức tranh phong cảnh hoàng hôn trên hồ Windermere với kích thước cực lớn, trên đó còn vẽ hai đứa trẻ đang say sưa ngắm cảnh bên bờ hồ. "Giá của nó lẽ ra là ba nghìn bảng Anh, nhưng phần giới thiệu lại ghi ba trăm nghìn bảng Anh."
"Vậy sao?" Barry nói một cách ôn hòa, "Chà, chà." Nhưng ông ta không hề sửa lại tờ giới thiệu.
Điều này thật khó hiểu, nhưng nhóm khách đầu tiên đã đến, họ đến hơi sớm, nên bí ẩn này đành để lát nữa mới giải quyết. Một thanh niên mời tôi ăn món bánh su kem trên khay bạc. Tôi cầm ly sâm panh mà mình cần phải cẩn thận khi uống từ chiếc bàn ở góc phòng, chuẩn bị pha thêm chút nước vào đó.
Tất cả các tác phẩm đều được định giá rất cao, tôi khá nghi ngờ liệu một phòng tranh "nhỏ" có thể bán hết tất cả các tác phẩm với mức giá đắt đỏ như vậy hay không. Tôi có chút lo lắng về kế sinh nhai trong năm tới.
Barry và Paul luôn chịu trách nhiệm dẫn tôi đi quanh phòng, rồi nói: "Đây là họa sĩ, người đã vẽ nên tất cả những tác phẩm tuyệt đẹp này, Stewart Innes." Sau đó, tôi cứ phải bắt tay và mỉm cười liên tục. Đến cuối buổi tiệc, đáng lẽ tôi phải chào hỏi tất cả mọi người, còn Paul và Barry sẽ rất khéo léo nói: "Stewart, anh còn nhớ David chứ, anh ấy viết phê bình nghệ thuật cho tờ Telegraph..." Và tôi sẽ đáp lại một cách hoàn hảo: "Tất nhiên là nhớ rồi, dạo này anh khỏe không? Rất vui vì anh có thể đến hôm nay."
Trong phòng đông nghịt người, lúc này một người phụ nữ tóc đỏ nổi bật xuất hiện, cô ta chưa được giới thiệu với tôi đã hét lớn: "Đồ rác rưởi của phái hiện thực!"
Lúc đó tôi đang trò chuyện với nhà phê bình nghệ thuật của tờ Daily Telegraph, chúng tôi quay người lại, ông ấy hỏi: "Bạn của cậu à?"
Tôi nói: "Tôi nghĩ là không."
Cô ta vẫn đang gào thét, mặc dù cả buổi tiệc đã trở nên im phăng phắc. Cô ta hét lên: "Không ai có hứng thú với thứ rác rưởi này cả! Không một ai!" Sau đó, cô ta thò tay vào túi, lục lọi một lúc rồi lấy ra một lọ mực, hét lên: "Xem xem anh còn bán được nữa không!" Tiếp đó, cô ta hất lọ mực lên bức "Hoàng hôn trên hồ Windermere". Đó là lọ mực xanh đen.
Lúc đó Paul đang đứng cạnh cô ta, cậu ta giật lấy lọ mực từ tay cô ta và nói: "Đây là bức tranh trị giá ba trăm nghìn bảng Anh đấy, quý cô trẻ tuổi." Barry túm lấy cánh tay cô ta và nói: "Tôi nghĩ cảnh sát sẽ có vài điều muốn trò chuyện với cô." Vừa nói, ông ta vừa đưa cô ta vào văn phòng. Cô ta vừa đi vừa hét vào mặt chúng tôi: "Tôi không sợ! Tôi có lòng tự trọng của mình! Những họa sĩ như hắn chỉ biết bóc lột những người mua tác phẩm nghệ thuật dễ bị lừa gạt. Các người là lũ cừu ngu ngốc! Đồ phế thải của phái hiện thực!"
Sau khi cô ta rời đi, khách khứa bắt đầu xì xào bàn tán, họ quan sát bức tranh bị đổ mực rồi lại nhìn tôi. Người của tờ Telegraph hỏi tôi có muốn đưa ra bình luận gì không, và cảm thấy thế nào khi thấy một tác phẩm trị giá ba trăm nghìn bảng Anh bị hủy hoại. Tôi mơ hồ bày tỏ rằng mình tự hào khi là một họa sĩ, rồi nói vài câu đại loại như nghệ thuật luôn thay đổi trong chớp mắt. Sau đó, ông ấy nói rằng sự kiện tối nay có thể coi là một sự kiện ngẫu nhiên trong lịch sử nghệ thuật. Cuối cùng, cả hai chúng tôi đều đồng ý rằng dù đây có phải là sự kiện ngẫu nhiên trong lịch sử nghệ thuật hay không, thì người phụ nữ này cũng không được bình thường cho lắm.
Barry lại xuất hiện, ông ta đi từ nhóm người này sang nhóm người khác, giải thích rằng Paul đang chịu trách nhiệm xử lý quý cô trẻ tuổi kia, còn việc xử lý cô ta thế nào là tùy thuộc vào tôi. Khi ông ta tiễn khách ra ngoài, mọi người vẫn đang bàn tán đầy phấn khích. Barry bày tỏ sự xin lỗi, tán đồng rằng chúng ta đã gặp phải một khoảnh khắc đầy kịch tính, và giải thích rằng ngày mai phòng tranh vẫn mở cửa như thường lệ.
"Làm tốt lắm." Khi trong phòng tranh chỉ còn lại chúng tôi, ông ta nói.
"Tốt ư? Đây là một thảm họa."
"Ừm. 'Stewart Innes, nghệ sĩ có bức tranh trị giá ba trăm nghìn bảng Anh bị hủy hoại.' Tôi nghĩ cậu phải tha thứ cho cô ta chứ, phải không? Cô ta cũng là một nghệ sĩ, dù ở lĩnh vực nghệ thuật khác. Đôi khi cần một chút tiểu xảo để đưa cậu lên một tầm cao mới."
Chúng tôi đi vào phòng trong.
Tôi hỏi: "Đây là ý tưởng của ai?"
"Của chúng tôi." Paul nói. Cậu ta đang uống rượu vang trắng với người phụ nữ tóc đỏ trong phòng trong. "Được rồi, chủ yếu là của Barry. Nhưng nó cần một nữ diễn viên có kỹ năng diễn xuất tuyệt vời để hoàn thành, thế nên tôi đã tìm cô ấy." Cô ta nở một nụ cười rất đúng mực, trông có vẻ hơi lúng túng nhưng lại có chút đắc ý.
"Nếu màn trình diễn này không thu hút được sự chú ý mà cậu xứng đáng có được, chàng trai đẹp mã," Barry mỉm cười nói với tôi, "thì chẳng còn chuyện gì làm được nữa. Giờ thì cậu đã đủ quan trọng để bị người ta tấn công rồi đấy."
"Bức tranh hồ Windermere bị hủy rồi." Tôi chỉ ra.
Barry liếc nhìn Paul, cả hai khúc khích cười. "Nó đã bán được rồi, bao gồm cả vết mực trên đó, bán với giá bảy mươi lăm nghìn bảng Anh." Barry nói, "Như tôi vẫn thường nói, mọi người tưởng mình đang mua nghệ thuật, nhưng thực tế, họ đang mua câu chuyện."
Paul rót đầy rượu cho tất cả chúng tôi. "Tất cả những điều này đều nhờ vào cô," cậu ta nói với người phụ nữ đó, "Stewart, Barry, tôi nghĩ chúng ta nên cùng nâng ly. Cạn ly vì Cassandra."
"Cassandra." Chúng tôi lặp lại và uống cạn. Lần này tôi không để ý đến việc đừng uống quá chén, tôi đang cần cồn.
Sau đó, ngay khi tôi chưa kịp phản ứng lại cái tên này, Paul nói: "Cassandra, đây là chàng trai trẻ đầy cuốn hút và tài năng mà tôi nghĩ cô chắc chắn đã biết, Stewart Innes."
"Tôi biết," cô ta nói, "thực ra, chúng tôi là bạn cũ đấy."
"Kể nghe xem nào." Barry nói.
"Ừm," Cassandra nói, "hai mươi năm trước, Stewart đã viết tên tôi vào vở bài tập toán của anh ấy."
Cô ta trông rất giống bức phác họa của tôi, thực sự rất giống. Hay nói cách khác, giống như cô gái trong những bức ảnh kia đã lớn lên: đường nét khuôn mặt rất sâu, trông rất thông minh và tự tin.
Tôi chưa từng gặp cô ta trong đời.
"Chào cô, Cassandra." Tôi nói. Tôi thực sự không nghĩ ra ngoài câu đó còn có thể nói gì khác.
Chúng tôi đang ở trong quán bar dưới tòa nhà chung cư của tôi. Nó không chỉ là quán bar mà còn phục vụ cả đồ ăn.
Tôi nhận ra mình đang trò chuyện với cô ta như thể cô ta là một người bạn cũ đã quen biết từ thời thơ ấu. Tôi tự nhắc nhở bản thân rằng không phải. Tôi chỉ mới gặp cô ta tối nay thôi. Trên đôi bàn tay cô ta vẫn còn vương những vết mực.
Chúng tôi lướt qua thực đơn, gọi cùng một món - món ăn nhẹ từ rau củ - đợi đồ ăn mang lên, cả hai chúng tôi đều ăn món cuốn rau trước, rồi sau đó là món hummus.
"Cô là do tôi tưởng tượng ra." Tôi nói với cô ta.
Trước khi nói câu này, tôi đã nói vài điều khác, trước hết chúng tôi nói về đoàn kịch cộng đồng của cô, nói về việc làm thế nào cô kết bạn với Paul, nói về việc cậu ta đã cung cấp cho cô công việc này - màn trình diễn tối nay trị giá một nghìn bảng Anh - và nói về việc cô thiếu tiền thế nào, mặc dù cô nhận công việc này chủ yếu vì nó nghe như một cuộc phiêu lưu thú vị. Dù sao đi nữa, cô cho biết sau khi nghe tên tôi, cô không thể từ chối. Cô cảm thấy đây chính là định mệnh.
Sau đó tôi mới nói câu đó. Tôi lo cô sẽ nghĩ tôi bị điên, nhưng tôi vẫn nói: "Cô là do tôi tưởng tượng ra."
"Không," cô ta nói, "anh không có. Ý tôi là, rõ ràng là anh không có. Tôi đang sống sờ sờ ở đây này." Tiếp đó cô ta nói: "Anh muốn chạm vào tôi không?"
Tôi nhìn cô ta. Nhìn khuôn mặt, vóc dáng, đôi mắt của cô ta. Cô ta sở hữu tất cả những gì tôi từng mơ ước về một người phụ nữ, tất cả những gì tôi không tìm thấy ở những người phụ nữ khác. "Có," tôi nói, "rất muốn."
"Chúng ta ăn tối xong đã." Cô ta nói, rồi bổ sung thêm một câu, "Đã bao lâu rồi anh không gần gũi phụ nữ?"
"Tôi không phải đồng tính," tôi phản đối, "tôi từng có bạn gái."
"Tôi biết," cô ta nói, "lần gần nhất là khi nào?"
Tôi cố gắng nhớ lại. Là Brigitte ư? Hay là nữ thiết kế mà công ty quảng cáo phái đến cùng tôi đi Iceland? Tôi không chắc lắm. "Hai năm," tôi nói, "cũng có thể là ba năm. Chỉ là tôi chưa gặp đúng người."
"Anh từng gặp rồi." Cô ta nói. Cô ta mở túi xách, đó là một chiếc túi màu tím to lớn, mềm nhũn, cô ta lấy từ trong đó ra một thư mục bằng bìa cứng, mở ra rồi lấy từ trong đó một tờ giấy, các góc của nó đã ố vàng. "Thấy không?"
Tôi nhớ nó. Làm sao tôi có thể không nhớ chứ? Nó đã treo trên tường nhà tôi suốt mấy năm trời. Cô ta nhìn sang một bên, như thể đang nói chuyện với ai đó đằng sau tấm màn. Cassandra, trên giấy viết vậy, ngày 19 tháng 2 năm 1985. Trên giấy còn có một chữ ký, Stewart Innes. Nhìn thấy nét chữ của chính mình năm mười lăm tuổi, luôn khiến người ta vừa xấu hổ vừa thấy ấm áp.
"Năm 1989 tôi từ Canada trở về," cô ta nói, "lúc đó cha mẹ tôi ly dị, mẹ muốn quay về. Tôi muốn biết về anh, xem anh đang làm gì, thế nên tôi đã đến nơi anh từng sống. Ngôi nhà đã trống không. Cửa sổ đều vỡ vụn. Giờ không còn ai ở đó nữa. Họ đã phá bỏ trường đua ngựa, điều này làm tôi thấy khá buồn, tôi vốn rất thích ngựa từ khi còn là một cô bé, nhưng tôi vẫn đi vào ngôi nhà đó một vòng, tìm thấy phòng ngủ của anh. Mặc dù tất cả đồ đạc đã được chuyển đi, nhưng đó rõ ràng là phòng ngủ của anh, nó vẫn mang mùi hương của anh. Còn bức tranh này, vẫn còn đóng đinh trên tường. Tôi nghĩ không ai có thể bỏ sót nó."
Cô ta mỉm cười.
"Cô là ai?"
"Cassandra Carlisle. Ba mươi bốn tuổi. Từng là diễn viên. Nhà viết kịch thất bại. Hiện đang điều hành một đoàn kịch cộng đồng ở Norwood. Liệu pháp kịch nghệ. Có phòng khách cho thuê. Một năm bốn vở kịch, cộng thêm các buổi hội thảo, và một vở kịch Giáng sinh. Còn anh là ai, Stewart?"
"Cô biết tôi là ai mà." Sau đó tôi nói thêm, "Cô biết là trước đây tôi chưa từng gặp cô, đúng không?"
Cô ta gật đầu, nói: "Stewart đáng thương. Anh sống ở tầng trên đây, đúng không?"
"Đúng vậy, đôi khi hơi ồn ào. Nhưng ở đây đi tàu điện ngầm rất tiện, và tiền thuê nhà cũng không đắt."
"Vậy chúng ta thanh toán rồi lên lầu đi."
Tôi đưa tay định chạm vào mu bàn tay cô ta. "Chưa được đâu." Cô ta nói, trước khi tôi chạm vào, cô ta đã rút tay lại, "Chúng ta phải nói chuyện trước đã."
Thế là chúng tôi lên lầu.
"Tôi thích căn hộ của anh," cô ta nói, "giống hệt như nơi mà tôi tưởng tượng anh sẽ sống."
"Có lẽ giờ tôi nên cân nhắc đổi sang một nơi rộng hơn," tôi nói với cô ta, "nhưng ở đây thực sự rất ổn với tôi. Studio của tôi có ánh sáng rất tốt, mặc dù giờ là ban đêm nên cô không thấy được hiệu quả, nhưng điều đó thực sự rất quan trọng đối với việc vẽ tranh."
Cảm giác đưa một ai đó về nhà thật kỳ lạ. Nó cho phép bạn xem xét lại nơi mình đang ở, như thể trước đây bạn không sống ở đây vậy. Trong phòng khách có hai bức tranh sơn dầu của tôi, đó là kết quả từ quãng thời gian ngắn tôi làm người mẫu cho các nghệ sĩ (tôi không đủ kiên nhẫn để đứng hoặc tạo dáng lâu, tôi biết điều này hơi thất bại), trong bếp nhỏ có hai bức ảnh quảng cáo của tôi được phóng to, còn trên cầu thang thì bày những cuốn sách có tôi làm ảnh bìa, hầu hết đều là tiểu thuyết tình cảm.
Tôi dẫn cô ta tham quan studio, sau đó đi vào phòng ngủ. Cô ta tỉ mỉ quan sát chiếc ghế cắt tóc thời vua Edward VII của tôi, đó là thứ tôi cứu vãn được từ một di tích gần khu Shoreditch. Cô ta ngồi lên chiếc ghế đó, cởi giày ra.
"Người trưởng thành đầu tiên mà anh thích là ai?" cô ta hỏi.
"Câu hỏi này hơi kỳ lạ. Tôi nghĩ chắc là mẹ tôi? Không biết nữa, sao lại hỏi vậy?"
"Tôi khoảng ba hoặc bốn tuổi, người đó là một người đưa thư, tên là Ngài Người Đưa Thư. Ông ấy sẽ lái chiếc xe thư nhỏ của mình, mang cho tôi vài món đồ dễ thương - không phải mỗi ngày, mà là thỉnh thoảng thôi - những chiếc túi bọc giấy nâu, trên đó viết tên tôi, bên trong có thể là đồ chơi hoặc kẹo gì đó. Khuôn mặt ông ấy trông rất vui nhộn, cũng rất tử tế, mũi tròn tròn."
"Thật sự có người như vậy sao? Nghe giống như những nhân vật mà trẻ con thường hay tưởng tượng ra."
"Ông ấy lái xe thư cả trong nhà nữa. Chiếc xe đó không lớn lắm."
Cô ta bắt đầu cởi cúc áo. Chiếc áo màu vàng kem, trên đó dính vài vết mực. "Việc đầu tiên anh nhớ được là gì? Không phải loại chuyện mà người khác kể lại cho anh nghe, mà là chuyện anh thực sự nhớ được."
"Năm ba tuổi, đi biển cùng bố mẹ."
"Anh nhớ chuyện đó thật sao? Hay là anh nhớ việc có ai đó kể cho anh nghe chuyện đó?"
"Tôi không hiểu mấu chốt của việc này là gì..."
Cô ta đứng dậy, vặn người vài cái, bước ra khỏi váy. Cô ta mặc áo lót trắng, quần lót xanh đậm, đều hơi cũ, loại thông thường, không phải kiểu anh muốn mặc khi muốn gây ấn tượng với người yêu mới. Tôi tự hỏi sau khi cởi áo lót, ngực cô ta trông sẽ thế nào. Tôi muốn vuốt ve chúng, dùng đôi môi mình chạm vào chúng.
Cô ta đi từ chiếc ghế đến bên cạnh chiếc giường tôi đang ngồi.
"Giờ thì, nằm xuống đi. Nằm vào trong giường. Tôi sẽ nằm cạnh anh. Đừng chạm vào tôi." Tôi nằm xuống, hai tay đặt dọc theo cơ thể. Cô ta nhìn xuống tôi. Cô ta nói: "Anh trông thật đẹp. Thành thật mà nói, tôi không chắc anh có phải gu của tôi không. Nhưng năm mười lăm tuổi tôi lại thích kiểu như anh, trông vừa hiền lành vừa ngọt ngào, không có tính đe dọa. Nghệ thuật. Ngựa con. Trường đua ngựa. Và tôi cá là, trước khi một cô gái sẵn sàng, anh tuyệt đối sẽ không động đậy gì, đúng không?"
"Đúng," tôi nói, "tôi nghĩ là không."
Cô ta nằm xuống cạnh tôi.
"Giờ anh có thể chạm vào tôi rồi." Cassandra nói.
Cuối năm ngoái, tôi lại bắt đầu nhớ đến Stewart. Là do áp lực, tôi nghĩ vậy. Ở một mức độ nào đó, công việc của tôi tiến triển khá tốt, nhưng lúc đó tôi đã chia tay với Pavel, anh ta có lẽ không hẳn là người xấu, nhưng chắc chắn đã dính líu đến không ít những cô nàng Đông Âu ranh ma. Tôi bắt đầu cân nhắc việc hẹn hò qua mạng. Tôi đã mất cả một tuần ngu ngốc để đăng ký các trang web đưa bạn đến với những người bạn cũ, trên những trang web đó, giữa Jeremy Potter và Stewart Innes không có khoảng cách nào cả.
Tôi không cảm thấy mình có thể làm gì hơn. Tôi không có tâm lý chung thủy, cũng không quá để ý đến chi tiết. Khi bạn ngày càng lớn tuổi, luôn sẽ mất đi một vài thứ.
Ngài Người Đưa Thư luôn xuất hiện với chiếc xe thư nhỏ của ông ấy mỗi khi bố mẹ không có thời gian dành cho tôi. Ông ấy sẽ nở nụ cười kiểu chú lùn, nháy mắt với tôi, rồi đưa cho tôi một gói nhỏ bọc giấy nâu, trên đó viết chữ in hoa cỡ lớn "Cassandra", bên trong có thể là một viên sô cô la, một con búp bê hoặc một cuốn sách. Món quà cuối cùng của ông ấy là một chiếc micro nhựa màu hồng, tôi có thể vừa đi quanh nhà vừa hát, hoặc giả vờ như mình đang lên truyền hình vậy. Đó là món quà tuyệt nhất tôi từng nhận được trong đời.
Bố mẹ tôi không bao giờ hỏi về những món quà đó, và tôi cũng không muốn biết người thực sự gửi chúng cho tôi là ai. Chúng luôn đến cùng với Ngài Người Đưa Thư, ông ấy luôn lái chiếc xe thư nhỏ của mình xuyên qua sảnh, lái đến tận cửa phòng ngủ của tôi, mỗi lần gõ cửa ba cái. Tôi lúc đó là một cô bé giàu tình cảm, sau khi ông ấy gửi cho tôi chiếc micro màu hồng, lần tới gặp lại ông, tôi liền chạy tới, dùng hai tay ôm lấy chân ông ấy.
Chuyện xảy ra sau đó rất khó mô tả. Toàn thân ông ấy rơi xuống, giống như bông tuyết, lại giống như tro tàn. Một lúc sau tôi thực sự ôm được thứ gì đó, rồi sau đó chỉ còn lại một ít bột trắng, cuối cùng chẳng còn lại gì cả.
Sau này tôi cũng từng hy vọng Ngài Người Đưa Thư có thể quay lại, nhưng ông ấy không bao giờ xuất hiện nữa. Ông ấy đã kết thúc rồi. Có một khoảng thời gian, nhớ lại ông ấy thôi cũng khiến người ta thấy xấu hổ - tôi từng yêu một người như thế.
Căn phòng này thật kỳ lạ.
Tôi tự hỏi, tại sao mình lại cảm thấy một người có thể khiến tôi vui vẻ khi tôi mười lăm tuổi, thì bây giờ cũng có thể khiến tôi vui vẻ. Nhưng Stewart thực sự hoàn hảo: trường đua ngựa (có ngựa con), các bức tranh (điều này chứng minh với tôi rằng anh ấy rất nhạy cảm), còn rất ngây ngô với con gái (như vậy tôi sẽ là mối tình đầu của anh ấy), ngoài ra anh ấy còn khá cao, da ngăm đen và đẹp trai. Tôi cũng thích tên của anh ấy: mang chút dư vị Scotland, và (đối với tôi) nghe như một anh hùng trong tiểu thuyết vậy.
Tôi từng viết tên Stewart vào vở bài tập của mình.
Tôi chưa từng kể với bạn bè về điều quan trọng nhất liên quan đến Stewart - anh ấy là do tôi tưởng tượng ra.
Và giờ đây, tôi bò dậy từ trên giường, nhìn xuống hình bóng của một người đàn ông - một hình bóng cấu thành từ bột phấn hoặc tro tàn hoặc bụi bặm trên tấm ga trải giường bằng sa tanh - rồi tôi bắt đầu mặc quần áo.
Những bức ảnh trên tường cũng đang dần phai nhạt. Tôi không lường trước được điều này. Tôi không biết vài giờ nữa, thế giới của anh ấy còn lại gì, không biết mình có nên dừng lại đúng lúc, hài lòng với một ảo tưởng để tự an ủi bản thân, một thứ gì đó an tâm và thoải mái hay không. Cuộc đời anh ấy sẽ không thực sự chạm đến bất kỳ ai, đối với một vài người, anh ấy có lẽ chỉ là một bức ảnh, một bức tranh hay vài ký ức mờ nhạt, họ hầu như sẽ không bao giờ nhớ đến anh ấy nữa.
Tôi rời khỏi căn hộ này. Trong quán bar dưới lầu vẫn còn người, họ ngồi ở chiếc bàn trong góc, nơi trước đó tôi và Stewart từng ngồi. Nến đã gần cháy hết, nhưng tôi tưởng tượng những người đó có thể chính là chúng tôi. Một người đàn ông và một người phụ nữ đang trò chuyện, chẳng bao lâu nữa, họ sẽ đứng dậy khỏi bàn, rời đi, nến sẽ bị thổi tắt, đèn sẽ tắt ngóm, quán bar sẽ chuẩn bị sẵn sàng cho đêm tiếp theo.
Tôi gọi một chiếc taxi rồi ngồi vào trong. Một lúc - tôi hy vọng đây là lần cuối cùng - tôi nhận ra mình đang nhớ Stewart Innes.
Sau đó, tôi tựa vào ghế taxi, cứ thế để anh ấy ra đi. Tôi hy vọng mình có đủ tiền trả phí taxi, tôi nhận ra mình không biết đến sáng liệu trong túi xách còn có tấm séc nào không, hay có lẽ chỉ là một tờ giấy trắng. Sau đó, với một cảm giác thỏa mãn, tôi nhắm mắt lại, đợi chờ quay trở về nhà.
[1] "Starsky and Hutch", bộ phim hành động Mỹ ra mắt năm 2004, bối cảnh câu chuyện đặt vào những năm bảy mươi, hai nhân vật chính đều có mái tóc xoăn dày, tóc mai rất dài.
[2] Ở đây nguyên văn là moped, còn có thể gọi là xe đạp máy.