Nếu phải dùng một từ để khái quát và hình dung về triều chính thời Thành Hóa, thì chỉ có thể là: Hỗn loạn tột cùng.
Điều này cũng chẳng có gì lạ, năng lực lãnh đạo của đồng chí Chu Kiến Thâm quả thực rất đáng thất vọng. Ngay cả vợ mình mà ông ta còn không quản nổi, thì làm sao quản được đám thư ký bên cạnh?
Trong tình cảnh đó, chính trường thời Thành Hóa bỗng chốc trở nên muôn màu muôn vẻ nhưng cũng đen tối vô cùng. Các phái chính trị đua nhau xuất hiện, trăm hoa đua nở, tập hợp lại trong cái giang hồ hỗn loạn này để mở một kỳ "Đại hội Võ lâm" với đủ loại chiêu trò quái đản và những pha phạm quy không thể ngăn cấm.
Dưới đây, chúng ta bắt đầu giới thiệu các đại môn phái tham gia đại hội (xếp hạng không theo thứ tự).
Xuân phái
Tên đầy đủ: Phái nghiên cứu Xuân dược.
Chưởng môn: Lương Phương.
Thành phần đệ tử: Thuật sĩ, phiên tăng.
Tuyệt kỹ độc môn: Nghiên cứu hóa chất (xuân dược, nay thường gọi là Viagra), nghiên cứu kiến thức sinh lý vệ sinh.
Tiên phái
Tên đầy đủ: Phái Tu đạo thành tiên.
Chưởng môn: Lý Tư Tỉnh.
Thành phần đệ tử: Hòa thượng, đạo sĩ.
Tuyệt kỹ độc môn: Luyện đan (thuộc loại hình hóa học), tu đạo.
Giám phái
Tên đầy đủ: Phái Nội giám hoạn quan.
Chưởng môn: Uông Trực, Thượng Minh.
Thành phần đệ tử: Thái giám.
Tuyệt kỹ độc môn: Công tác ngầm (đặc vụ), mách lẻo.
Hậu phái
Tên đầy đủ: Phái Hậu cung lão bà.
Chưởng môn: Vạn Quý phi.
Thành phần đệ tử: Cung nữ, thái giám, ngoại thích.
Tuyệt kỹ độc môn: Khóc lóc, ăn vạ, treo cổ (tuyệt kỹ này sau thời gian dài diễn biến, nay đã được phổ cập sử dụng).
Hỗn phái
Tên đầy đủ: Phái Hỗn ngày qua ngày.
Chưởng môn: Vạn An.
Thành phần đệ tử: Tập đoàn văn quan.
Tuyệt kỹ độc môn: Sống lay lắt qua ngày, đàn hặc (kiện cáo).
Đó chính là năm đại môn phái tung hoành giang hồ thời bấy giờ. Muốn kể lại lai lịch ân oán của họ, xin quý vị hãy an tọa, nghe ta từ từ kể lại:
Giang hồ là gì? Nơi nào có con người, nơi đó có giang hồ.
Chuyện kể rằng hơn hai nghìn năm trước, cao thủ tuyệt thế Doanh Chính thống nhất võ lâm, vinh dự nhậm chức Võ lâm minh chủ đời thứ nhất, giang hồ liền rơi vào những năm tháng hào hùng với các phái mọc lên như nấm, máu chảy thành sông.
Trong vô số môn phái, tư cách lâu đời nhất và trình độ cao nhất là hai đại phái: Giám phái và Hậu phái.
Địa vị của hai phái này đại khái tương đương với Thiếu Lâm và Võ Đang. Trong đó, tên gọi lịch sử của Hậu phái là "Ngoại thích", còn Giám phái là "Quyền yêm" (hoạn quan nắm quyền).
Dù cả hai đều phục tùng sự điều khiển của Minh chủ (Hoàng đế), nhưng từ ngày thành lập, họ đã là kẻ thù không đội trời chung, luôn tìm cách triệt hạ lẫn nhau. Suốt hàng nghìn năm chưa bao giờ yên ổn, và trong môn phái luôn xuất hiện lớp lớp cao thủ.
Ví dụ như Triệu Cao, Đơn Siêu, Lý Phụ Quốc, Ngư Triều Ân của Giám phái, hay Lữ Hậu, Dương Kiên, Vi Hậu của Hậu phái, tất cả đều là những bậc cao nhân tung hoành một thời, giành lấy vinh quang tột đỉnh cho môn phái mình. Ngoài những lúc đấu đá, thỉnh thoảng hai phái cũng bắt tay hợp tác. Một khi tình huống này xảy ra, Minh chủ sẽ nhân cơ hội đục nước béo cò, không ngừng khơi gợi mâu thuẫn giữa hai bên để duy trì địa vị minh chủ của mình.
Tất nhiên, đôi khi nếu võ công của Minh chủ không cao, cũng có khả năng bị cao thủ của hai phái này đoạt ngôi, như Dương Kiên đã thành công thoát khỏi Hậu phái để trở thành Võ lâm minh chủ mới.
Đến thời Thành Hóa, tình trạng này vẫn không thay đổi, Hậu phái và Giám phái vẫn như nước với lửa, còn các môn phái khác cũng nhân cơ hội này mà khai trương hoặc bành trướng, đó chính là ba phái còn lại mà chúng ta đã nhắc đến.
Xuân phái là môn phái phụ thuộc của Hậu phái. Chưởng môn Lương Phương vốn là nhân viên thu mua vật phẩm cho Vạn Quý phi. Nhờ gan dạ, lòng dạ đen tối, dám tham ô công quỹ, công việc vô cùng xuất sắc nên được đề bạt làm chưởng môn Xuân phái, tự lập môn hộ.
Ở đây cũng phải biểu dương thái độ cần cù nghiêm túc của đồng chí Lương Phương. Mọi người đều biết ông ta nghiên cứu xuân dược, nhưng làm nghề này thực sự không dễ dàng, vì bản thân ông ta là một hoạn quan. Trong tình trạng "thấy mà không ăn được" và lý thuyết tách rời thực tế, mà vẫn có thể làm việc bán mạng như vậy, quả thực đã thể hiện tinh thần nghiên cứu và tố chất nghề nghiệp xuất sắc.
Đó là Xuân phái, giờ chúng ta nói về Tiên phái.
Tiên phái cũng là một môn phái có lịch sử lâu đời. Nhân vật nổi tiếng nhất của phái này chắc là Từ Phúc thời Tần - người được cho là đã đi du học ở Nhật Bản. Đến triều Thành Hóa, Tiên phái cũng ngẩng cao đầu. Chưởng môn Lý Tư Tỉnh vốn là một tiểu công vụ viên ở nha môn Giang Tây, sau đó đổi nghề lên kinh thành "Bắc phiêu" (lập nghiệp tại Bắc Kinh), tiện thể làm thêm vài vụ lừa đảo.
Sau đó, trong quá trình hành nghề, ông ta gặp chưởng môn Xuân phái Lương Phương rồi trở thành tùy tùng của Lương chưởng môn. Lương chưởng môn cũng rất tán thưởng ông ta, ủng hộ ông ta tự lập môn hộ, phát huy sở trường, luyện đan tu đạo cho Minh chủ Chu Kiến Thâm, từ đó một bước tạo nên danh tiếng cho Tiên phái.
Tiếp đến là Giám phái lừng danh. Phái này cực kỳ hưng thịnh vào thời Minh, trước có Trịnh Hòa, Vương Chấn, sau có Lưu Cẩn, Ngụy Trung Hiền, có thể nói là nhân tài đông đúc. Thế nhưng đến triều Thành Hóa, phái này lại xảy ra phân liệt.
Giống như phái Hoa Sơn có Khí tông và Kiếm tông, Giám phái cũng chia thành Đông Giám phái và Tây Giám phái. Hai vị chưởng môn ai làm việc nấy, đấu tranh kịch liệt. Chưởng môn Đông Giám phái là Thượng Minh có căn cơ thâm hậu, kế thừa truyền thống, không ngừng phát triển doanh nghiệp phụ thuộc truyền thống của phái là "Đông Xưởng", vững vàng làm tốt công tác đặc vụ như thám thính tình báo, vu khống trung lương.
Còn chưởng môn Tây Giám phái là Uông Trực, từ sau khi được đại quân của Hàn Ung đưa đến kinh thành, chịu một nhát đao trở thành hoạn quan, đã phấn đấu vươn lên, phá bỏ mô hình phát triển truyền thống, tích cực tiến thủ (nịnh nọt), nỗ lực tranh thủ sự tin tưởng của Minh chủ Chu Kiến Thâm. Với tinh thần sáng tạo "người khác không có thì ta có, người khác có thì ta ưu việt hơn", ông ta mở "Tây Xưởng" tại Tây An môn. Tôn chỉ lập xưởng của ông ta có thể tóm gọn trong một câu: "Không có tệ nhất, chỉ có tệ hơn".
Hậu phái thì không cần giới thiệu nhiều. Vạn Quý phi thời Thành Hóa có thể nói là "một nữ đương quan, vạn phu mạc địch". Bà ta không chỉ là chưởng môn Hậu phái, mà còn là vợ kiêm bảo mẫu của Minh chủ Chu Kiến Thâm. Chiêu thức độc môn "Gió gối đầu" và "Đơn kiện gối đầu" quét sạch võ lâm, không ai cản nổi.
Cuối cùng là Hỗn phái. Phái này vốn tên là Thần phái, từng là đại phái ngang hàng với Giám phái và Hậu phái, từng xuất hiện vô số cao thủ tuyệt đỉnh như Lý Tư, Hoắc Quang, Phòng Huyền Linh, Vương An Thạch, Tam Dương. Thế nhưng đến tay chưởng môn Vạn An, môn đình quạnh quẽ. Vạn chưởng môn võ nghệ xoàng xĩnh, ngoài việc kiên trì luyện "Công phu dập đầu" và "Công phu nịnh hót" ra thì không có bản lĩnh gì khác, dần dần trở thành phụ thuộc của Hậu phái và Giám phái, mãi đến hơn mười năm sau tình hình này mới được cải thiện.
Tóm lại, tình hình võ lâm thời Thành Hóa là như thế này: Hậu phái, Xuân phái và Tiên phái là quan hệ đồng minh, có thể gọi là "Liên minh phiếm Hậu". Trong Giám phái tồn tại mâu thuẫn nội bộ, đối ngoại thì đối đầu với Hậu phái. Đáng thương nhất là Hỗn phái, dù là Giám phái hay Hậu phái đều không dám đắc tội, đúng như tên gọi, chỉ biết ngoan ngoãn sống qua ngày.
Trên đây là tình hình năm đại môn phái võ lâm, tin rằng quý vị đã nhìn ra, đây đều là những cái gọi là tà phái. Nếu quý vị vẫn đang chờ đợi sự xuất hiện của danh môn chính phái, e rằng chỉ có thể thất vọng mà về, bởi vì tình hình giang hồ lúc này hoàn toàn có thể tóm gọn trong một câu:
Thời đại này, chẳng còn người tốt nữa rồi.
Phong vân lục năm phái
Các phái đã tề tựu đông đủ, kịch hay cũng đến lúc lên sàn.
Chưởng môn Xuân phái Lương Phương, một nhà bán buôn dược phẩm và thu mua vật phẩm xuất sắc. Con đường phát tài của ông ta chủ yếu có hai cách: một là tặng quà cho Vạn Quý phi, hai là chế tạo xuân dược dâng cho Hoàng đế. Hai bên đều lấy lòng, ai cũng thích ông ta, nên trong một thời gian, ông ta cực kỳ đắc thế.
Dù là hoạn quan nhưng ông ta không phải thành viên Giám phái. Thủ lĩnh hoạn quan thời đó là Tư lễ thái giám Thượng Minh và Hoài Ân đều từng cố gắng thu phục ông ta, nhưng câu trả lời của Lương Phương lại là: "Các người là cái thá gì? Sang chỗ khác mà mát mẻ đi."
Dựa vào thế lực chống lưng, ông ta mặc sức xâm chiếm tài sản. Kho nội tàng của đồng chí Chu Kiến Thâm vốn có rất nhiều tiền riêng, nhưng chỉ vài năm đã bị vị nhân huynh này dùng sạch bách, khiến Minh chủ đại nhân tức đến mức mấy ngày không ăn nổi cơm.
Nhưng Lương chưởng môn cũng có một ưu điểm, vì bản thân ít đọc sách, không có kiến thức, so với Vương Chấn, Ngụy Trung Hiền thì đẳng cấp kém xa. Ngoài việc vơ vét tiền bạc, thì cũng chỉ giúp Vạn Quý phi phá thai trong hậu cung, những việc ác lớn hơn ông ta cũng không làm nổi (không phải không muốn, mà là trình độ không tới). Ông ta không bao giờ ngờ rằng, việc có ảnh hưởng nhất mà mình từng làm lại là chiêu mộ một người.
Người đó chính là chưởng môn Tiên phái sau này - Lý Tư Tỉnh.
Nếu hỏi trong năm phái ai được Chu Kiến Thâm sủng tín nhất, chắc nhiều người sẽ trả lời là Hậu phái hoặc Giám phái, nhưng thực tế, người mà Chu Kiến Thâm coi trọng nhất chính là chưởng môn Tiên phái tầm thường Lý Tư Tỉnh.
Về điểm này, thực sự không cần kinh ngạc, tiếng lòng của Chu Kiến Thâm có thể nói rõ nguyên nhân cho chúng ta:
"Ta thật sự vẫn muốn sống thêm năm trăm năm nữa!"
Xuân dược cũng tốt, tai mắt cũng tốt, vợ cũng tốt, chỉ cần giữ được cái mạng này, lúc nào cũng có thể tìm lại.
Sinh mệnh là quý giá nhất, Chu Kiến Thâm đã nhận thức được điều này một cách sáng suốt.
Vì vậy, Lý Tư Tỉnh - kẻ tự xưng có thể trường sinh bất lão - đương nhiên trở thành sủng thần của Chu Kiến Thâm. Còn bản thân ông ta cũng có thể nói là "nỗ lực không ngừng", không thỏa mãn với việc dùng tu đạo thành tiên để lừa gạt Minh chủ, trong khi luyện đan còn đưa thêm sản phẩm phụ vào dây chuyền sản xuất - xuân dược, bắt đầu cướp miếng cơm của lãnh đạo cũ là Lương Phương.
Như vậy, một người đa tài như Lý Tư Tỉnh đã trở thành nhân vật "hot" nhất. Chưởng môn Hỗn phái Vạn An và đại đệ tử Lưu Cát, nhị đệ tử Bành Hoa đều nhờ quan hệ của ông ta mới vào được nội các làm quan lớn.
Thế nhưng vị chưởng môn này vẫn chưa thỏa mãn, ông ta còn định phát triển đa ngành, thế mà lại thò tay vào công việc đặc vụ, tự tổ chức nhân sự thám thính tin tức cho Minh chủ đại nhân. Lần này coi như chọc vào tổ ong bắp cày rồi, đám đặc vụ Đông Xưởng, Tây Xưởng đều đang há miệng chờ ăn cơm bằng nghề này, ngươi Lý Tư Tỉnh là cái thứ gì?! Dám phá bỏ độc quyền, gây ra cạnh tranh!
Chưởng môn Giám phái Thượng Minh, Uông Trực xắn quần, cầm hung khí, chuẩn bị tấn công kẻ vô danh tiểu tốt này.
Nhưng kết quả của cuộc đấu tranh lại nằm ngoài dự đoán của họ.
Cuộc đấu tranh giữa Lý Tư Tỉnh và đám thái giám hãy để lại sau, trước tiên hãy nói về hai môn phái khác.
Hậu phái thì không có gì để nói, Vạn Quý phi vẫn sống cuộc sống của bà ta, ba ngày hai bữa đi tuần hậu cung, sau đó nhìn về hướng Đông cung của Thái tử với ánh mắt không cam lòng, chỉ có vậy thôi.
Tiếp đến là Hỗn phái xuất hiện, cá nhân tôi cho rằng đây là môn phái thú vị nhất.
Trước năm Thành Hóa thứ năm (1469), Nội các là một nơi trang nghiêm thần thánh, thành viên Nội các khi đó là Thương Lộ và Bành Thời.
Thương Lộ cũng có thể coi là người quen cũ, ngay từ trận bảo vệ Bắc Kinh, ông ta đã lộ mặt, đứng ra ủng hộ chủ trương của Vu Khiêm, nhưng điều khiến ông ta nổi tiếng hơn là thành tích thi cử - liên tiếp đỗ ba lần đứng đầu (Liên trung tam nguyên). Nhớ ngày bảng vàng yết ra, người khác còn đang trợn mắt tìm tên, ông ta chỉ nhìn thoáng qua rồi quay về ngủ. Người đồng hương hỏi sao không tìm tên mình, ông ta thản nhiên chỉ vào bảng vàng nói:
"Tốn công làm gì, người đứng trên cùng chẳng phải là ta sao!"
Ngoài Hoàng Quan bị Chu Đệ trả thù xóa tên thời Tĩnh Nan ra, ông là người duy nhất thời Minh hoàn thành động tác khó này. Thực tế chứng minh, ông làm quan cũng rất xuất sắc, còn Bành Thời cũng là trạng nguyên xuất thân, làm quan thanh liêm. Dưới sự dẫn dắt của họ, đế quốc Đại Minh tiến về phía trước một cách có trật tự.
Đúng lúc này, Vạn An tiến vào Nội các.
Vạn An, người Mi Châu, Tứ Xuyên, đỗ tiến sĩ năm Chính Thống thứ mười ba (1448). Vị nhân huynh này đọc sách rất giỏi, năm đó thi cử đứng thứ tư toàn quốc, đứng đầu Nhị giáp. Tiếc là nhìn biểu hiện sau này của ông ta, ông ta thực sự là nạn nhân của nền giáo dục ứng thí, đại diện điển hình cho việc điểm cao năng lực thấp.
Sau khi vào nội các, ông ta không màng chính sự, chỉ dồn tâm trí làm một việc - chạy quan hệ. Ông ta tận dụng triệt để nguồn lực họ hàng của mình, thế mà lại nhận họ hàng với Vạn Quý phi.
Họ hàng gì nhỉ?
Theo lời đồng chí Vạn An tự kể, thì em gái của mẹ vợ em trai Vạn Quý phi chính là thiếp của ông ta, đây đúng là họ hàng gần đáng kinh ngạc!
Thế là ông ta chạy đến nhà em trai Vạn Quý phi, vừa khóc vừa nhận mối quan hệ này, rồi vinh dự tuyên bố: "Ta, Vạn An, cuối cùng đã tìm được người thân rồi!"
Dù họ hàng là thật hay giả, Vạn An quả thực đã có cơ hội thăng tiến. Năm Thành Hóa thứ mười bốn (1478), Thương Lộ về hưu, Vạn An trở thành Nội các thủ phụ.
Từ đó, dưới sự lãnh đạo "anh minh" của ông ta, lịch sử tập đoàn văn quan bước sang một thời đại mới - thời đại Hỗn phái.
Phái biệt danh
Hỗn phái khác với các phái khác, nhờ các nhân vật giang hồ nể mặt, nhiều tinh anh của Hỗn phái đều được đặt biệt danh. Nghe rất vang dội, không thể không bàn kỹ.
Chưởng môn Hỗn phái Vạn An, giang hồ tặng biệt danh "Vạn Tuế các lão".
Năm Thành Hóa thứ bảy (1471), Vạn An cùng hai thành viên khác trong nội các là Thương Lộ và Bành Thời vào diện kiến Chu Kiến Thâm để bàn việc quốc gia. Bành Thời vừa mở lời bàn vài việc, đang nói đến đoạn cao trào, đột nhiên nghe thấy bên cạnh hô lớn:
"Vạn tuế!"
Quay đầu nhìn lại, Vạn chưởng môn đã quỳ trên mặt đất dập đầu rồi.
Thương Lộ, Bành Thời trợn mắt há mồm, ngẩn người một lúc, đành thở dài ngao ngán, cũng quỳ xuống dập đầu hô theo.
Cảnh tượng kỳ lạ này xảy ra hoàn toàn là do tiếng hô vạn tuế của Vạn An, điều này liên quan đến một vấn đề lễ nghi nghiêm túc.
Thời Thanh, quan viên thương thảo việc với nhau, nếu bưng chén trà lên thì có nghĩa là bản thân không muốn nói nữa, mời người đi cho, tức là "bưng trà tiễn khách".
Còn thời Minh, diện thánh cũng có một bộ lễ nghi, triều kiến xong, hô vạn tuế nghĩa là "Hoàng thượng tạm biệt, lần sau chúng thần lại đến".
Không biết Vạn chưởng môn có phải vội đi vệ sinh hay không, chưa bàn được mấy câu đã vội vã hô tạm biệt, khiến Nội các cực kỳ xấu hổ, trở thành trò cười cho văn võ bá quan trong triều, do đó mới có danh hiệu vinh dự này: "Vạn Tuế các lão".
Đại đệ tử Hỗn phái Lưu Cát, giang hồ tặng biệt danh "Lưu Bông Gòn".
Lưu Cát, người Hà Bắc, đỗ tiến sĩ năm Chính Thống thứ mười ba (1448), là bạn học cùng khóa với Vạn chưởng môn, năm Thành Hóa thứ mười một (1475) trở thành thành viên Nội các. Phẩm hạnh người này cũng tương đương Vạn An, nhưng có một điểm mạnh hơn Vạn An - mặt dày hơn.
Thời Minh phong trào đàn hặc thịnh hành, ngôn quan cũng thích lo chuyện bao đồng, hạng người như Lưu Cát đương nhiên trở thành đối tượng tấn công chính của ngôn quan. Nhưng vị nhân huynh này khả năng chịu đựng tâm lý rất tốt, ngôn quan nói gì thì coi như không nghe thấy, nên bạn bè giang hồ tặng ông ta một nhã hiệu: "Lưu Bông Gòn".
Ý là gì?
Bông gòn thì không sợ bị "đàn" (búng/đàn hặc)!
Tiểu đệ Hỗn phái Nghê Tiến Hiền, giang hồ tặng biệt danh "Ngự sử rửa chim".
Nghê Tiến Hiền, người An Huy, bán mù chữ, bái nhập môn hạ Vạn chưởng môn, là đệ tử cuối cùng (quan môn đệ tử). Bản thân không có tài cán gì, nhưng lại có một phương thuốc gia truyền, nghe nói sau khi pha thành bột thuốc hòa vào nước có thể chữa được ED (tên khoa học). Vạn chưởng môn chắc hẳn đã tự mình thử nghiệm nên vui mừng, để vị huynh đài này làm Ngự sử.
Nếu đặt vào ngày nay, ông ta không cần đi làm Ngự sử gì cả, đầu quân vào ngành dược phẩm chắc chắn sẽ làm hưng thịnh ngành này, vượt qua cả hãng Pfizer, làm rạng danh đất nước.
Xét đến đóng góp to lớn của ông ta cho Vạn chưởng môn, bạn bè giang hồ rất tôn trọng tặng ông ta biệt danh: "Ngự sử rửa chim".
Lưu Dực - người còn sót lại trong nội các - về cơ bản cũng là ngày ngày sống lay lắt. Còn đám Lục bộ Thượng thư bên dưới thực sự không hổ danh là đệ tử ưu tú của Hỗn phái, tuân thủ chương trình môn phái, mỗi ngày ngồi trong nha môn uống trà tán gẫu, chẳng làm việc gì, tuân thủ nghiêm ngặt môn quy.
Do biểu hiện xuất sắc của Nội các và quan viên các bộ thời Thành Hóa, nhân dân đặc biệt trao tặng họ danh hiệu vinh dự tập thể:
Ba thành viên Nội các tập thể nhận danh hiệu vinh dự: "Ba các lão dán giấy".
Sáu bộ Thượng thư tập thể nhận danh hiệu vinh dự: "Sáu thượng thư nặn bùn".
Đây là sự khẳng định của quần chúng dành cho họ.
Thán phục, thán phục, đúng là lũ gì đâu không!
Dưới đây chúng ta nói về môn phái cuối cùng - Giám phái. Lý do để nó lại cuối cùng là vì những màn kịch đen tối nhất, những nhân vật độc ác nhất thời Thành Hóa đều bắt nguồn từ phái này, nhưng cũng diệt vong từ phái này.
Lịch sử phấn đấu của Uông Trực
Trong đám tù binh đông đảo mà Hàn Ung mang về, Uông Trực không phải là người nổi bật, cũng chẳng có sở trường gì. Sau khi bị "cắt" (tịnh thân), ông ta ngoan ngoãn làm thái giám. Nhưng vận may của ông ta rất tốt, khi phân công sau khi đào tạo thái giám, ông ta may mắn được phân vào hậu cung hầu hạ một vị phi tần của Hoàng đế - Vạn Quý phi.
Thực tế chứng minh, dù Uông Trực không có tài nghệ gì, nhưng thái độ phục vụ rất đoan chính, trình độ phục vụ cũng rất cao, dỗ dành Vạn Quý phi rất vui vẻ. Qua lại vài lần, Vạn Quý phi tiến cử Uông Trực đến chỗ Chu Kiến Thâm để tiếp tục đào tạo chuyên sâu. Uông Trực cũng không phụ sự kỳ vọng, thăng tiến từng bước, cuối cùng trở thành thái giám Ngự mã giám.
Chúng ta từng giới thiệu, Ngự mã giám là cơ quan quan trọng chỉ đứng sau Tư lễ giám. Có thể leo lên vị trí này, có thể nói đã là người thành công trong giới thái giám. Thế nhưng Uông Trực không thỏa mãn, ông ta lại thò tay vào cơ quan quản lý thái giám bí ẩn nhất trong hoàng cung - Đông Xưởng.
Uông Trực tự tổ chức người ra ngoài thám thính tin tức, báo cáo mọi cử động của kinh thành và các địa phương để thể hiện năng lực thu thập tình báo của mình, chính là hy vọng Chu Kiến Thâm có thể giao quyền kiểm soát Đông Xưởng cho ông ta. Trong một thời gian, khắp trong ngoài kinh thành đều là mật thám thường phục của Uông Trực, không kể ngày đêm thám thính tin tức, bắt người giam người, khí thế vô cùng mạnh mẽ.
Có được những "thành tích chính trị" này, Uông Trực đắc ý đi báo cáo với Chu Kiến Thâm, chuẩn bị tiếp quản Đông Xưởng - tổ chức đặc vụ lớn nhất nhà Minh - để làm một vố công tác ngầm.
Minh chủ đại nhân nghe báo cáo của ông ta, đánh giá rất cao và bày tỏ hy vọng ông ta tiếp tục nỗ lực. Thế nhưng Minh chủ dường như đã nghiện diễn thuyết, ở trên nói thao thao bất tuyệt, nói rất có lý lẽ, chỉ là không nói đến vấn đề mấu chốt. Uông Trực quỳ đến tê chân, cuối cùng không nhịn được xen lời:
"Hoàng thượng, việc Đông Xưởng nên xử lý thế nào ạ?"
Minh chủ bị ngắt lời nhưng không tức giận, chỉ cười phẩy tay nói:
"Người đó làm cũng không tệ, cứ thế đi."
Giấc mơ Đông Xưởng của Uông Trực cứ thế tan thành mây khói.
Người mà Minh chủ nói đến chính là đương kim chưởng ấn thái giám Đông Xưởng - Thượng Minh. Đây không phải là một người đơn giản.
Thượng Minh vào cung từ rất sớm, làm việc vô cùng gọn gàng, tính cách cực kỳ cẩn thận (chú ý đặc điểm này), Đông Xưởng dưới tay ông ta hoạt động rất khởi sắc. Để mở rộng nguồn tài chính, ông ta còn làm thêm nghề tay trái - bắt cóc tống tiền.
Thượng chưởng môn có một điểm sáng được công nhận - đối với công việc rất nghiêm túc trách nhiệm, đối với nghề tay trái cũng vậy. Ông ta vừa nhậm chức liền lập một cuốn danh sách, ghi chép tường tận địa chỉ, hoàn cảnh gia đình của các hộ giàu có trong kinh thành, và liệt kê bảng xếp hạng theo độ giàu có.
Đồng thời ông ta còn có nền tảng triết học vững chắc, luôn tin rằng thế giới là một chỉnh thể liên hệ, mọi việc đều có liên quan. Mỗi khi Đông Xưởng có vụ án, ông ta đều liên kết các hộ giàu có này với vụ án, sau đó lần lượt đến tận nhà bắt người, nhốt vào ngục, đợi gia đình mang tiền chuộc đến mới thả.
Đây thực sự là một việc làm vô cùng thất đức, nhưng bất ngờ thay, dù ông ta luôn làm như vậy, danh tiếng lại không tệ. Nhiều người nhắc đến ông ta vẫn thỉnh thoảng khen ngợi, quả thực là một việc vô cùng kỳ lạ.
Đó là vì Thượng chưởng môn còn một ưu điểm lớn - coi trọng chữ tín. Dù bắt cóc nhưng ông ta không bao giờ ngược đãi con tin, hơn nữa tiền đến là thả người, không bao giờ "xé vé" (giết người). Người nhà con tin từng giao dịch với ông ta cũng không khỏi cảm thán: "Nhận tiền là làm việc, đúng là người thành thật."
Ngoài ra, dù ông ta cướp của người giàu mà không giúp người nghèo, nhưng cũng không hại người nghèo, chưa bao giờ ra tay với hộ giàu, không gây hấn với bách tính bình thường, nên trong tầng lớp quần chúng trung hạ lưu rất có tiếng tăm. Ông ta thâm niên rất cao nhưng chưa bao giờ bắt nạt người đi sau, nhân duyên rất tốt, còn thường xuyên tặng quà cho Minh chủ đại nhân và Vạn chưởng môn hậu cung, quan hệ quần chúng cũng rất tốt.
Một người như vậy, Uông Trực đương nhiên không lay chuyển nổi.
Thế nhưng Uông Trực thực sự là một người rất cố chấp, ông ta hạ quyết tâm phải phá vỡ thế độc quyền của Thượng Minh, tạo ra cục diện mới cho công tác đặc vụ. Không chịu nổi sự yêu cầu liên tục của ông ta, năm Thành Hóa thứ mười ba (1477), Chu Kiến Thâm cuối cùng đặc phê cho Uông Trực mở doanh nghiệp kiểu mới - Tây Xưởng.
Uông Trực mới nhậm chức đã dốc hết tâm huyết vào việc này, ông ta lập tức ban bố quy định và phương châm chỉ đạo, đại khái có thể tóm tắt là:
"Thứ Đông Xưởng không hại được, chúng ta hại; thứ Đông Xưởng không trị chết được, chúng ta trị; thứ Đông Xưởng không làm được, chúng ta làm!"
Từ đó về sau, đặc vụ Tây Xưởng trở thành danh từ đồng nghĩa với cái chết. Thủ đoạn của họ còn tàn độc hơn Đông Xưởng, bách tính bình thường vào Tây Xưởng gần như tương đương với vào cửa ải quỷ môn quan, đừng hòng sống sót mà ra. Trên dưới kinh thành lòng người hoang mang, nghe thấy tên là biến sắc.
Tây Xưởng làm việc chăm chỉ ngày đêm, nhưng không lâu sau, Uông Trực lại buồn bã phát hiện, dù là thành tích hay danh tiếng, Tây Xưởng của ông ta luôn không đuổi kịp Đông Xưởng. Điều này cũng rất tự nhiên, dù sao Đông Xưởng cũng có lịch sử lâu đời và sự tích lũy văn hóa đặc vụ, trong thời gian ngắn Tây Xưởng quả thực không thể theo kịp.
Uông Trực là người không chịu thua, ông ta không muốn cúi đầu dưới Thượng Minh, cũng không muốn chờ đợi. Để thay đổi cục diện này, ông ta phát động cấp dưới đề xuất các gợi ý hợp lý hóa, và khiêm tốn tiếp thu ý kiến.
Rất nhanh, một cấp dưới hiến cho ông ta một kế: muốn nhanh chóng vượt qua Đông Xưởng, phải giải quyết vài nhân vật trọng yếu, như vậy mới có thể trong thời gian ngắn tạo ra uy tín, đánh bóng thương hiệu Tây Xưởng.
Sau này chứng minh, đây là một kế sách tồi.
Thế nhưng Uông Trực lại cảm thấy đề nghị này vô cùng hay, lập tức chuẩn bị đưa vào thực thi.
Phương châm đã xác định, vậy thì nên lấy ai ra làm vật tế thần?
Uông Trực vắt óc suy nghĩ, cuối cùng tìm được một nhân vật mà lúc bấy giờ không ai dám đắc tội. Hắn quyết định làm gương, dùng người này để xây dựng uy tín của chính mình.
Vị huynh đài sắp gặp xui xẻo này tên là Đàm Lực Bằng, cũng là một thái giám. Tuy ông ta không ở kinh thành, nhưng lại là nhân vật số ba có địa vị chỉ đứng sau Tư lễ thái giám Hoài Ân và Đông xưởng thái giám Thượng Minh, đương nhiệm chức Nam Kinh trấn thủ thái giám.
Nhà Minh tuy đã dời đô về Bắc Kinh, nhưng Nam Kinh vẫn là cố đô, chức Nam Kinh trấn thủ thái giám xưa nay vốn là một vị trí vô cùng quan trọng. Hơn nữa Đàm Lực Bằng có hậu thuẫn vững chắc, có quan hệ cá nhân với rất nhiều hoàng thân quốc thích. Mặc dù thường xuyên phạm pháp, nhưng chưa từng có ai dám gây khó dễ cho ông ta.
Thế nhưng lần này Uông Trực quyết định gây khó dễ cho ông ta. Dù cùng là thái giám, nhưng vì thương hiệu của Tây xưởng, đành phải hy sinh huynh đài vậy.
Hắn đã hạ quyết tâm, lập tức bắt tay vào việc, thu thập rất nhiều bằng chứng phạm tội của Đàm Lực Bằng (việc này vô cùng dễ dàng), rồi thêu dệt lung tung, cuối cùng đưa ra kết luận tội đáng chém đầu.
Đàm Lực Bằng không thể ngờ rằng, Uông Trực lại dám lấy mình ra làm vật tế thần. Tuy nhiên, vị huynh đài này cũng chẳng phải kẻ dễ bắt nạt, ông ta phái người vào kinh trong đêm, chạy chọt khắp nơi. Kết quả là chuyện lớn hóa nhỏ, chỉ bị quở trách vài câu rồi thôi.
Uông Trực không đánh đổ được Đàm Lực Bằng, nhưng lại nhận được sự tán thưởng của Chu Kiến Thâm, được ban cho danh hiệu "dám làm việc, công chính vô tư". Được lãnh đạo khen ngợi, Uông Trực lập tức tinh thần phấn chấn, liên tiếp gây ra mấy vụ việc kỳ quặc.
Đầu tiên là mấy viên quan Hình bộ, vừa đi công tác ngoại tỉnh trở về, vừa vào đến kinh thành đã bị người của Tây xưởng bắt giữ, tống vào ngục đánh một trận tơi bời, cũng chẳng nói họ phạm tội gì, rồi lại thả ra. Khiến mấy người này ngơ ngác, cứ ngỡ mình đang nằm mơ.
Sau đó là một vị Bố chính sứ ngoại tỉnh vào kinh làm việc, còn chưa kịp tìm chỗ ở đã bị người của Tây xưởng lôi đi đánh một trận, ăn cơm tù mấy ngày.
Tất nhiên đây đều là do Uông Trực chỉ đạo. Hành vi của hắn nhìn qua rất khó hiểu, nhưng thực chất chỉ muốn chứng minh một điều:
Hắn có thể vào bất cứ lúc nào, với bất cứ lý do gì, giải quyết bất cứ ai.
Lúc này Uông Trực trong có sự sủng ái của hoàng đế, ngoài có tay chân của Tây xưởng, trong mắt nhiều người, hắn đã là một thái giám thành công thực thụ.
Thế nhưng Uông Trực không cho là như vậy:
Thành công ư? Ta mới chỉ bắt đầu thôi.
Hắn không thỏa mãn với thành tích hiện tại, khiêm tốn cho rằng cần phải tiến bộ không ngừng. Để củng cố uy quyền của mình hơn nữa, hắn quyết định tìm kiếm mục tiêu đả kích trọng điểm thứ hai. Chẳng bao lâu sau, hắn đã tìm thấy.
Người bị nhắm đến lần này tên là Dương Diệp. Bản thân ông ta tuy chỉ là một quan nhỏ, không mấy nổi tiếng, nhưng cũng chẳng phải hạng tầm thường, tằng tổ phụ của ông chính là Dương Vinh, một trong "Tam Dương" lừng lẫy. Do gây ra chuyện ở quê nhà, ông cùng cha mình là Dương Thái đến kinh thành tạm trú.
Đối với Uông Trực, đây là một cơ hội tuyệt vời, lần này hắn chuẩn bị làm một vố lớn.
Tất nhiên, hắn không ngờ rằng, việc này cuối cùng cũng giải quyết chính bản thân hắn.
Uông Trực phái người bắt Dương Diệp và cha ông là Dương Thái, tống vào đại lao.
Trong ngục, Uông Trực bắt đầu giở trò lưu manh. Hắn ra lệnh cho người biểu diễn tiết mục tủ của ban nhạc Đông xưởng là "gảy đàn tỳ bà" với Dương Diệp.
Cái gọi là "gảy đàn tỳ bà", không phải là diễn tấu âm nhạc, mà là một loại nghệ thuật hành vi độc đáo. Cụ thể mà nói, là dùng lưỡi dao sắc bén cạo vào xương sườn người khác. Nghe nói khi hành hình đau đớn vô cùng, đủ để khiến bạn hối hận vì đã được sinh ra. Chiêu này thời khai quốc ngay cả lão Chu cũng chưa nghĩ ra, là phát minh sáng tạo độc quyền của Đông xưởng.
Đáng thương cho Dương Diệp tiên sinh, bị "gảy" đủ ba lần, thể lực không chống đỡ nổi, thế mà chết ngay trong nhà tù.
Uông Trực lại không chịu dừng tay, nhất định phải làm đến cùng. Hắn tiếp tục vu khống, phán cha của Dương Diệp là Dương Thái tội tử hình, chém đầu.
Lúc này Tây xưởng cũng đã kiêu ngạo đến đỉnh điểm. Ví dụ như chú của Dương Diệp là Dương Sĩ Vĩ, đương nhiệm Binh bộ chủ sự (cấp trưởng phòng), Tây xưởng không hề làm bất cứ thủ tục pháp lý nào, lệnh bắt cũng không có, đã xông vào tận nhà bắt người giữa đêm hôm khuya khoắt, khiến gà bay chó sủa. Hàn lâm thị giảng Trần Âm ở nhà bên cạnh nghe thấy động tĩnh, vô cùng tức giận, mang dáng vẻ của một vị quan lớn, đứng cách tường quát lớn:
"Các ngươi làm xằng làm bậy như vậy, không sợ vương pháp sao?!"
Thế nhưng đám đặc vụ Tây xưởng bên kia lại khá có khiếu hài hước, cũng đáp lại qua tường:
"Ngươi là cái thá gì, không sợ Tây xưởng sao?!"
Sự việc làm lớn chuyện, Uông Trực lại chẳng hề bận tâm, dù sao bản thân Dương Diệp cũng chẳng phải nhân vật ghê gớm gì. Nhưng sự phát triển sau đó của sự việc đã phá tan ảo tưởng của hắn.
Hắn không ngờ rằng, dù Dương Vinh đã qua đời nhiều năm, nhưng uy tín rất cao, là tấm gương của tập đoàn văn quan, con cháu ông gặp nạn, các đại thần sao có thể bỏ qua!
Người phản ứng đầu tiên là Nội các thủ phụ Thương Lộ, ông phái người điều tra rõ nỗi oan của Dương Diệp, triệu tập nội các họp, chỉ trích tội ác của Uông Trực, đồng thời viết một bản tấu chương gửi cho Chu Kiến Thâm, yêu cầu phế bỏ Tây xưởng, bãi miễn Uông Trực, trong đó có một câu vô cùng sắc bén:
"Không đuổi Uông Trực, thiên hạ sớm muộn cũng đại loạn!"
Chu Kiến Thâm nổi giận. Tuy tính tình ôn hòa, nhưng nhìn thấy câu này ông cũng tức đến mức không chịu nổi, hét lớn:
"Dùng một tên thái giám, cũng sẽ khiến thiên hạ đại loạn sao?!"
Ông vô cùng kích động, lập tức gọi người bên cạnh, truyền khẩu dụ của mình:
"Bảo Thương Lộ trả lời cho rõ, rốt cuộc là ai xúi giục ông ta! Chủ mưu là ai!"
Chu Kiến Thâm hiếm khi nổi giận, nhưng đã nổi giận thì tuyệt đối không bỏ qua. Theo lẽ thường, Thương Lộ sắp gặp đại họa rồi.
Nhưng vận may của ông lần này thực sự không tồi, bởi người phụng mệnh truyền chỉ là Tư lễ thái giám Hoài Ân.
Hoài Ân, người Sơn Đông, họ gốc là Đái. Thời Tuyên Đức, do cha phạm tội bị tịch biên gia sản, ông bị ép vào cung làm hoạn quan, đổi tên là Hoài Ân, trải qua ba triều đại, cuối cùng trở thành Tư lễ thái giám nắm quyền hành lớn.
Đây là một nhân vật vô cùng mấu chốt, chính ông đã nhiều lần cứu vãn cục diện, và vào thời khắc cuối cùng đã xoay chuyển tình thế, đưa Chu Hựu Đường lên ngôi hoàng đế.
Hoài Ân phụng chỉ lên đường, ông vừa mới nếm trải cơn thịnh nộ của Chu Kiến Thâm, nhưng không ngờ rằng, người đang chờ đợi ông ở nội các lại là một người khác còn phẫn nộ hơn.
Hoài Ân đến nội các, vừa hay Thương Lộ, Lưu Cát, Vạn An đều ở đó, ông liền không nói hai lời, truyền khẩu dụ của Chu Kiến Thâm:
"Tấu chương là ai viết, kẻ nào xúi giục?!"
Đây là hai câu hỏi vô cùng nghiêm khắc, cho thấy hoàng đế đã giận rồi, hậu quả rất nghiêm trọng. Thế nhưng Thương Lộ lại nằm ngoài dự liệu của tất cả mọi người, ông không những không hề sợ hãi, ngược lại còn đập bàn đứng dậy, lớn tiếng nói:
"Tấu chương là do ta viết, cũng là do ta chủ mưu, thì đã sao! Ngươi cứ trả lời hoàng thượng như vậy là được!"
"Uông Trực chẳng qua chỉ là một tên thái giám, vậy mà dám tự ý giam giữ xử tử quan viên triều đình, tự ý điều động tướng lĩnh biên cương và nhân viên nội cung, để hắn ngang ngược như vậy, thiên hạ tất sẽ đại loạn! Không trừ Uông Trực, vương pháp ở đâu!"
Thương Lộ vừa kích động, toàn thể thành viên nội các cũng kích động theo, người nói một câu, kẻ đáp một lời, có dấu hiệu muốn làm loạn.
Thời khắc mấu chốt, Hoài Ân giữ được bình tĩnh, ông trấn an Thương Lộ và những người khác, lập tức khẩn cấp báo cáo lại với Chu Kiến Thâm, thuật lại câu trả lời của Thương Lộ, hy vọng Chu Kiến Thâm cân nhắc kỹ lưỡng.
Nghe xong báo cáo của Hoài Ân, Chu Kiến Thâm cảm thấy một nỗi sợ hãi, ông nhận ra Thương Lộ nói đúng, Uông Trực đã trở thành một kẻ có tính đe dọa, phải hành động thôi.
Chẳng bao lâu sau, Chu Kiến Thâm hạ dụ, bãi miễn Tây xưởng, đuổi Uông Trực về Ngự mã giám.
Đối với nội các, đây là một thắng lợi vẻ vang, Thương Lộ và những người khác cùng nhau chúc mừng, vui mừng khôn xiết.
Nhưng cùng lúc đó, thái giám Ngự mã giám Uông Trực lại không hề chán nản, bởi hắn hiểu rõ, Chu Kiến Thâm nhu nhược sẽ không kiên trì được bao lâu, ông ta vẫn cần đến hắn, chẳng bao lâu nữa, hắn có thể quay lại vị trí cũ.
Sự sơ suất của Uông Trực
Uông Trực đã đúng.
Đối với Chu Kiến Thâm mà nói, đúng hay sai, trung thần hay gian thần, đều không quá quan trọng. Những trải nghiệm thời thơ ấu đã để lại dấu ấn sâu sắc cho Chu Kiến Thâm – cứ sống thoải mái là được.
Vì vậy thứ ông cần không phải là võ tướng khắc chữ sau lưng, cũng không phải văn quan chửi bới trên triều đình, ông chỉ thích một loại người – người biết nghe lời.
Uông Trực là một người biết nghe lời, không những hầu hạ Chu Kiến Thâm ngoan ngoãn, còn có thể cung cấp các loại dịch vụ giải trí, cấp trên như vậy tự nhiên sẽ không để hắn rảnh rỗi quá lâu.
Thế là chẳng bao lâu sau, Tây xưởng mở cửa trở lại, Uông Trực cũng trở thành xưởng trưởng mới.
Uông Trực một lần nữa đạt đến đỉnh cao sự nghiệp thái giám của mình.
Tuy nhiên chẳng bao lâu sau, hắn đã phạm phải một sai lầm, một sai lầm mà tiền bối của hắn từng mắc phải.
Giống như Vương Chấn, Uông Trực cũng có một giấc mơ cầm đao cưỡi ngựa.
Đã là thái giám, thì nên làm tốt công việc đầy hứa hẹn này, thế nhưng Uông Trực tiên sinh lại cứ thích thể hiện. Nhưng vấn đề là biên giới lúc bấy giờ khá bình yên, để đạt được mục đích của mình, Uông Trực đã quán triệt phương châm biên phòng mới: Người không phạm ta, ta cũng phạm người.
Sự thật chứng minh, Uông Trực quả thực là một kẻ hèn nhát chính hiệu, cái gọi là tấn công của hắn chẳng qua chỉ là giết sứ giả tiến cống của người ta, hoặc nhân lúc đại nhân nhà người ta không có ở nhà mà đi quấy nhiễu người già phụ nữ trẻ em. Đợi người ta đến báo thù, hắn lại trở thành người theo chủ nghĩa hòa bình, chuồn mất hút. Thế nhưng sau vài ba lần làm càn như vậy của hắn, Đạt Đát và các bộ lạc Liêu Đông thực sự đã bị chọc giận, liên tục đến biên giới nhà Minh gây sự.
Chu Kiến Thâm thắc mắc, biên giới vốn dĩ bình an vô sự đột nhiên truyền đến chiến báo khắp nơi. Ông không tin lời quỷ quái của Uông Trực, mà tự phái người đi nghe ngóng, lúc này mới phát hiện ra tất cả mọi chuyện đều do Uông Trực gây ra, lần này thì ông nổi giận thật rồi.
Đồng chí Chu Kiến Thâm yêu cầu không cao, chỉ muốn vợ con quây quần, sống những ngày tháng nhàn nhã, rảnh rỗi nghiên cứu mấy thứ hóa học như kim đan dược liệu, thế nhưng Uông Trực cứ không để ông được yên, ông bắt đầu bất mãn với Uông Trực.
Cảm xúc này nhanh chóng bị hai người nhận ra, họ quyết định lợi dụng cơ hội này để đánh đổ Uông Trực hoàn toàn. Hai người đó, một là Lý Tư Tỉnh, người kia là Thượng Minh.
Hai người họ quyết định bỏ qua những thành kiến trước đây, hợp tác chân thành. Thượng Minh tìm kiếm bằng chứng phạm tội của Uông Trực, còn Lý Tư Tỉnh thì thông đồng với Vạn An dâng sớ tố cáo, hai bên ai làm việc nấy, chuẩn bị cho đòn tấn công cuối cùng.
Năm Thành Hóa thứ mười bảy (1481), cơ hội đến rồi.
Năm nay, bộ lạc Đạt Đát bắt đầu tấn công biên giới, Chu Kiến Thâm nhận tin vô cùng bất mãn, lập tức gọi Uông Trực vào gặp, thẳng thắn nói với hắn:
"Rắc rối tự ngươi gây ra, tự ngươi đi mà giải quyết!"
Uông Trực chẳng dám thở mạnh, liền đi Tuyên Phủ ngay trong đêm, nhưng khi hắn đến nơi, người ta đã cướp bóc xong xuôi bỏ đi rồi. Uông Trực vội vàng báo cáo với hoàng đế rằng bên này đã xong việc, thần chuẩn bị quay về.
Đồng chí Chu Kiến Thâm đáp:
Ở đó rất cần ngươi, ở lại thêm mấy ngày đi.
Thượng Minh và Lý Tư Tỉnh nhạy bén cảm nhận được, Uông Trực sắp tiêu rồi, họ lập tức phát động đòn tấn công cuối cùng theo kế hoạch. Trong phút chốc, các bản tấu hạch tội bay tới tấp, vị thái giám ưu tú, tấm gương tiên tiến vốn có đột nhiên biến thành kẻ tiểu nhân hèn hạ, điển hình của sự suy đồi. Chu Kiến Thâm lập tức ra lệnh đóng cửa Tây xưởng, giáng Uông Trực làm Ngự mã giám Nam Kinh.
Lúc đi ra thì phong quang vô hạn, Uông Trực lủi thủi đi đến Nam Kinh, dọc đường màn trời chiếu đất, những vị quan địa phương từng tươi cười đón tiếp lúc này đã chẳng thấy bóng dáng đâu. Uông Trực không còn tham vọng gì khác, chỉ mong có thể an tâm làm một thái giám ở Nam Kinh.
Thế nhưng nước ta xưa nay có thói quen "đánh chó rơi xuống nước", Thượng Minh còn chê hắn chưa đủ thảm, lại tố cáo thêm một tội nữa, lần này thì Uông Trực đến Ngự mã giám Nam Kinh cũng không làm nổi, chỉ có thể làm một Phụng ngự nhỏ bé. Hắn lại cầm lên công cụ quét dọn vệ sinh hồi mới vào cung, dưới sự áp bức của thái giám cấp trên, bắt đầu làm những việc tạp vụ.
Đầu năm Thành Hóa vào kinh làm Phụng ngự, năm Thành Hóa thứ mười chín lại bị bãi miễn làm Phụng ngự, hơn mười năm từ chỗ vô danh đến quyền khuynh thiên hạ rồi lại trở về nguyên hình, tất cả như một giấc mộng.
Minh sử không ghi lại năm chết của nhân vật phong vân Uông Trực này, điều này chứng tỏ, người này đã không còn đáng nhắc tới.
Sự ra đi của Uông Trực, người vui mừng nhất đương nhiên là Thượng Minh, Đông Tây giám phái cuối cùng có thể thống nhất rồi. Nhưng ông không ngờ rằng, người xui xẻo tiếp theo chính là mình.
Nói về chưởng môn Tiên phái Lý Tư Tỉnh thì đúng là không đủ tình nghĩa, năm xưa lúc hạch tội Uông Trực, hắn đã chuẩn bị sẵn một bản dự phòng cho Thượng Minh, chưa qua cầu đã chuẩn bị rút ván rồi.
Rất nhanh, đám ngôn quan đã chĩa mũi dùi về phía Thượng Minh, lần lượt dâng sớ hạch tội ông, thế là chưởng môn Thượng Minh cuối cùng cũng bị minh chủ đại nhân phế bỏ võ công – đi quét dọn Minh Hiếu Lăng.
Tiên phái và Hậu phái đã đánh đổ Giám phái lừng lẫy một thời, trở thành bá chủ võ lâm. Tất nhiên, hai phái này cũng chẳng phải thứ tốt lành gì, giang hồ vẫn là giang hồ đó, nhưng ngay trong bóng tối bao trùm, hạt giống của ánh sáng bắt đầu nảy mầm.
Nói ra thật nực cười, người đích thân gieo hạt giống này lại chính là Lý Tư Tỉnh, vì chính nhờ hắn ban tặng, Thượng Minh và Uông Trực mới bị đuổi đi, từ đó khiến một người khác bước lên ngôi vị chưởng môn, người này chính là Tư lễ giám Hoài Ân.
Hoài Ân nhạy bén nắm bắt thời cơ, sắp xếp tâm phúc của mình là Trần Chuẩn lên vị trí xưởng công Đông xưởng, nắm giữ toàn bộ quyền hành của Giám phái, cẩn thận bảo vệ ngọn lửa ánh sáng, chờ đợi thời cơ đến.
Kiên trì đến cùng
Tôi luôn cho rằng, người tốt và người xấu không thể khái quát bằng nghề nghiệp cũng như trình độ học vấn. Đại thần đọc nhiều sách thánh hiền có rất nhiều kẻ xấu, mà trong đám thái giám vốn đa phần là mù chữ cũng có rất nhiều người tốt, Trịnh Hòa không cần phải nói, mà Hoài Ân thời Thành Hóa cũng là đại diện ưu tú trong số đó.
Ông vốn sinh ra trong gia đình quan lại, cơm no áo ấm, nhưng tai họa ập đến, cha bị bãi quan, nhà bị tịch biên, chính ông bị đưa vào cung, ép buộc làm hoạn quan. Đáng ghét nhất là, hoàng đế bệ hạ lại còn bắt ông phải cảm kích rơi lệ, ban cho cái tên gọi là "Hoài Ân".
Trưởng thành trong cảnh ngộ như vậy, nếu Hoài Ân chỉ toàn làm chuyện xấu thì cũng chẳng có gì lạ, nhưng lạ ở chỗ, vị huynh đài này lại là một người tốt chính hiệu.
Trong thời Thành Hóa quỷ khóc thần gào, yêu phong vần vũ, ông và Thương Lộ đã nỗ lực chống đỡ cục diện. Nhưng Hoài Ân thông minh hơn Thương Lộ nhiều, ông sớm nhìn ra kẻ chủ mưu thực sự của cục diện đen tối này không phải là Lương Phương, không phải Lý Tư Tỉnh, thậm chí cũng không phải Vạn Quý Phi, mà là Chu Kiến Thâm nhu nhược.
Bởi năm phái hỗn loạn này đều phục vụ cho hoàng đế, Xuân phái cung cấp hóa dược cho ông, Tiên phái cầu thần bái Phật cho ông, Giám phái dò la tin tức cho ông, Hậu phái chăm lo cuộc sống cho ông, Hỗn phái nịnh hót ông. Chỉ cần Chu Kiến Thâm còn sống, vở kịch xấu xí này sẽ còn diễn mãi.
Vì vậy khi Thương Lộ nản lòng thoái chí, nghỉ hưu về nhà, Hoài Ân vẫn kiên trì ở lại, bởi lúc này ông đã tìm ra phương pháp duy nhất để phá giải bức màn đen tối này – Chu Hựu Đường.
Ông từng cùng những người trong hậu cung giữ kín bí mật đó, cũng thường xuyên đi thăm đứa trẻ đáng thương này. Khi Trương Mẫn nói ra sự thật, ông đã chủ động đứng ra, làm chứng cho việc này. Ông chứng kiến sự trưởng thành của Chu Hựu Đường, và tin chắc rằng thiếu niên chịu nhiều khổ nạn này nhất định có thể trở thành vị minh quân anh chủ trong lòng ông.
Cuối cùng ông đã không thất vọng.
Nhưng lúc này, ông trời dường như cho rằng những khổ nạn Chu Hựu Đường phải chịu vẫn chưa đủ, vì vậy, ngài đã sắp đặt cho đứa trẻ này một thử thách cuối cùng, cũng là thử thách chí mạng nhất.
Sự việc bắt đầu từ một cuộc trò chuyện:
Tháng ba, năm Thành Hóa thứ hai mươi mốt (1485).
Chu Kiến Thâm lại một lần nữa đến nội tàng khố hậu cung để kiểm tra tiền riêng của mình. Do bận rộn với công việc luyện đan quan trọng, ông đã lâu rồi không đến. Thế nhưng khi mở cửa kho ra, cảnh tượng trước mắt khiến ông kinh ngạc.
Ông lập tức ra lệnh:
"Gọi Lương Phương tới đây!"
Lương Phương đến, Chu Kiến Thâm không nói gì, chỉ bảo hắn tự nhìn vào trong cửa kho.
Bên trong trống rỗng.
Hơn mười năm trước, nơi đây còn chất đầy vàng bạc châu báu, một cô bé chất phác lặng lẽ làm việc ở đây. Giờ đây đã là người đi nhà trống.
Chu Kiến Thâm chỉ vào nhà kho, lạnh lùng nói: Những thứ này đều là do ngươi tiêu xài đúng không.
Đáng lẽ minh chủ nổi giận, chưởng môn Lương nên cúi đầu nhận tội, thế nhưng vị huynh đài này lại đáp một câu:
"Số tiền này thần lấy đi tu sửa cung điện từ đường, cầu phúc cho hoàng thượng mà thôi."
Tiêu tiền rồi mà không nhận tội, coi hoàng đế là kẻ khờ!
Lần này thì minh chủ đại nhân nổi giận thật rồi, tức đến đỏ bừng mặt, nhưng ông nín nhịn hồi lâu, lại thốt ra một câu khó tin:
"Ta không quản ngươi, sau này tự nhiên có người tính sổ với ngươi!"
Câu này đại loại giống như câu nói thường dùng của học sinh tiểu học khi đánh nhau bây giờ: Mày đợi đấy, tao về nhà gọi người đến đánh mày!
Minh chủ mà sống đến mức này, cũng coi như là nhu nhược đến cùng cực.
Chu Kiến Thâm phẫn uất bỏ đi, thế nhưng trong tai Lương Phương, ý nghĩa của câu nói này đã thay đổi:
"Ta không quản được ngươi, sau này con trai ta sẽ đến đối phó với ngươi!"
Được thôi, đã vậy thì giải quyết con trai ngươi trước.
Lương Phương hiểu, muốn đạt được mục đích này, nhất định phải có sự giúp đỡ của một người. Thế là hắn chạy đến hậu cung, tìm Vạn Quý Phi.
Kể từ sau thất bại mười năm trước, Vạn Quý Phi đã im lặng rất lâu, nhưng lòng thù hận của bà đối với Chu Hựu Đường chưa hề tan biến. Đề nghị của Lương Phương một lần nữa thắp lên ngọn lửa báo thù trong bà. Quan trọng hơn, bà đã giết mẹ của Chu Hựu Đường, một khi Chu Hựu Đường lên ngôi, bà sẽ không có kết cục tốt đẹp.
Không thể đợi thêm được nữa, nhân cơ hội này đánh đổ hắn hoàn toàn đi, nếu không sau này chúng ta chắc chắn sẽ chết không chỗ chôn thân!
Năm nay, bà năm mươi lăm tuổi, hắn ba mươi tám tuổi, Chu Hựu Đường mười lăm tuổi.
Mặc dù đã quá ngũ tuần, "gió bên gối" của Vạn Quý Phi vẫn vô cùng mạnh mẽ. Dưới sự xúi giục liên tục của bà, Chu Kiến Thâm cuối cùng đã hạ quyết tâm.
Trước ngày đưa ra quyết định, Chu Kiến Thâm đưa ra một quyết định mấu chốt, ông tìm Hoài Ân, muốn bàn bạc về vấn đề thực thi.
"Ta muốn phế thái tử, ngươi xem làm thế nào cho tốt."
Hoài Ân đang quỳ trên mặt đất nghe thấy câu này, nhưng không nói gì, chỉ cởi mũ của mình xuống, dập đầu trước Chu Kiến Thâm.
Chu Kiến Thâm đợi hồi lâu, cũng không có hồi âm.
"Tại sao không nói gì?"
"Xin bệ hạ hãy giết thần đi." Một giọng nói trầm thấp đáp lại như vậy.
"Tại sao?" Chu Kiến Thâm kinh ngạc.
"Bởi vì dụ lệnh này của bệ hạ, thần sẽ không tuân theo."
"Ngươi không muốn sống nữa sao?" Chu Kiến Thâm phẫn nộ.
Hoài Ân ngẩng đầu, lớn tiếng nói:
"Hôm nay thần nếu không làm, bệ hạ giết thần, nhưng nếu thần làm, sau này thiên hạ người người đều muốn giết thần!"
"Cho nên dù vạn chết, cũng không làm."
Chu Kiến Thâm sững sờ, tên thái giám già ngày thường cung cung kính kính này lại dám giở trò này. Ông nhìn Hoài Ân bằng ánh mắt hung dữ hơn, nhưng phát hiện hoàn toàn vô dụng. Ánh mắt bình thản của Hoài Ân không hề có chút hoảng loạn.
Chu Kiến Thâm đột nhiên nhận ra, mặc dù ông là hoàng đế, làm chủ sinh tử của hàng vạn người, nhưng lại không thể chiến thắng được người trước mắt này.
Một người nếu không sợ chết, thì cũng chẳng còn gì để sợ nữa.
Ông vạn phần bất lực, đành phải nói với Hoài Ân:
"Ở đây không cần ngươi nữa, về Trung Đô giữ lăng đi!"
Cái gọi là Trung Đô, chính là quê nhà của lão Chu ở Phượng Dương, lúc bấy giờ đã khá hoang vu. Hoài Ân không hề động đậy, cũng không cầu xin, chỉ dập đầu, tạ ơn xong rồi lẳng lặng rời đi, chỉ để lại một Chu Kiến Thâm không còn cách nào khác.
Thế nhưng sự chấp nhất của Hoài Ân vẫn không thể lay chuyển được Chu Kiến Thâm, dưới sự xúi giục không ngừng của Vạn Quý Phi, ông vẫn quyết định phế thái tử.
Sự việc đến mức này, cũng thực sự là hết cách, Chu Hựu Đường tiên sinh duy nhất có thể làm cũng chỉ là ngửa mặt lên trời than một tiếng:
"Trời muốn diệt ta!"
Biết đâu cậu ta thực sự đã hét lên như vậy, bởi chẳng bao lâu sau, ông trời cũng không nhìn nổi nữa, nhảy vào nhúng tay một cái.
Năm Thành Hóa thứ hai mươi mốt, tháng tư, Thái Sơn động đất.
Thời cổ đại tuy không có Cục động đất phổ cập kiến thức khoa học, nhưng động đất cũng coi là chuyện thường tình, không có gì lạ lùng, nhưng trận động đất lần này thực sự không bình thường.
Phải biết rằng, trận động đất lần này lại là ở Thái Sơn, đó là nơi các đế vương cổ đại phong thiền, Tần Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế mới đủ tư cách lên đó, Quang Vũ Đế đồng chí liều mạng lên đó một lần, còn bị người ta chửi cho vài câu. Chu Nguyên Chương nghèo rớt mồng tơi đánh thiên hạ, kẻ trời không sợ đất không sợ, cũng không dám làm công việc này. Theo cách nói bây giờ, ngọn núi này có ý nghĩa chính trị vô cùng quan trọng.
Chu Kiến Thâm có chút hoảng sợ, ông lập tức phái người đi bói toán, xem rốt cuộc chỗ nào xảy ra vấn đề. Kết quả người bói toán đó loay hoay nửa ngày, đưa ra một kết luận:
"Ứng ở Đông cung."
Ý nghĩa là, Thái Sơn sở dĩ động đất là vì Đông cung không ổn định, ông trời đang nổi giận.
Chu Kiến Thâm nghe xong câu này, lập tức dừng hành động của mình lại. Ông còn muốn trường sinh bất lão cơ, vợ có thể đắc tội, ông trời thì không thể đắc tội.
Thế là, Chu Hựu Đường với sự giúp đỡ của ông trời, đã vượt qua cửa ải cuối cùng.
Thế nhưng, triều chính lúc này đã đen tối đến mức đưa tay không thấy năm ngón. Chu Kiến Thâm tuy không phế bỏ thái tử, nhưng cũng chẳng mấy khi quản lý triều chính. Lương Phương mặc sức tham ô nhận hối lộ, Lý Tư Tỉnh tùy tiện sắp đặt thân tín, làm loạn kỷ cương triều đình, còn Vạn An thì chỉ biết sống qua ngày một cách vô liêm sỉ.
Năm phe cánh lớn mất đi sự kiểm soát, bắt đầu hành động điên cuồng tùy ý, nhưng tất cả những điều này chẳng qua chỉ là bóng tối cuối cùng trước bình minh, bởi lẽ ánh sáng sắp sửa ập đến.
Mùa xuân năm Thành Hóa thứ hai mươi ba (1487), Chu Kiến Thâm cuối cùng đã phải hứng chịu cú sốc lớn nhất trong cuộc đời mình: Vạn Quý phi qua đời trong hậu cung.
Người phụ nữ đã đồng hành cùng ông suốt ba mươi tám năm ấy cuối cùng cũng rời xa. Bất kể mưa gió bão bùng, bà vẫn luôn thủ hộ bên cạnh người đàn ông này, nhìn ông từ đứa trẻ hai tuổi trưởng thành thành một người đàn ông trung niên bốn mươi tuổi, chưa từng gián đoạn, cũng chưa từng phản bội.
"Thiếp sẽ luôn ở bên cạnh người."
Suốt ba mươi tám năm đằng đẵng, bà đã thực hiện lời hứa của mình.
Bà không phải là kẻ xấu xa tột cùng, chỉ là ngọn lửa đố kỵ đã thiêu rụi lý trí của bà. Đối với bà, Chu Kiến Thâm đã trở thành một phần không thể thiếu trong sinh mệnh, bà không thể dung thứ cho bất cứ kẻ nào cướp mất ông.
Hèn hạ, tàn nhẫn, độc ác không phải bản tính của bà, nhưng đó là cái giá bà phải trả — vì tình yêu của chính mình.
Chu Kiến Thâm hoàn toàn suy sụp. Mấy chục năm trôi qua, thuốc độc và tiên đan đã sớm hủy hoại thân thể ông, cái chết của Vạn Quý phi lại càng chí mạng hơn khi phá hủy tinh thần ông. Ông đã đăng cơ hoàng đế, trở thành người thống trị đế quốc, nhưng tâm hồn ông vẫn thuộc về đứa trẻ cô độc, bất lực của hơn ba mươi năm về trước, đứa trẻ cần sự chăm sóc của bà.
Thời khắc hạ màn cuối cùng đã đến. Nàng tuy đi trước một bước, nhưng sẽ không cô đơn lâu đâu, chẳng bao lâu nữa ta sẽ đến bầu bạn cùng nàng. Những cuộc đấu đá trong hậu cung suốt mấy chục năm qua, thực ra nàng không hề hiểu rằng, dù nàng không có con, cũng chẳng có bất cứ ai thay thế được vị trí của nàng trong lòng ta. Ngai vàng và quyền thế đối với ta không quan trọng, ta cũng chẳng hề hứng thú, điều ta muốn chỉ là sự đồng hành của nàng, chỉ vậy mà thôi.
Kết thúc thôi, hãy để mọi thứ trở về điểm khởi đầu. Tại thời điểm đó, tại nơi chốn đó, chỉ có nàng và ta.
Tháng tám năm Thành Hóa thứ hai mươi ba, Chu Kiến Thâm đổ bệnh, mười ngày sau thì không qua khỏi, hưởng dương bốn mươi mốt tuổi.
Chu Kiến Thâm là một vị hoàng đế kỳ lạ. Dưới sự cai trị của ông, đế quốc yêu ma hoành hành, tối tăm mù mịt, nhưng bản thân ông lại không hề tàn nhẫn, cũng chẳng hôn quân. Ngược lại, tính cách ông ôn hòa, hiểu biết đạo lý, phân biệt được trung gian. Sở dĩ xuất hiện cục diện quái gở như vậy, chỉ vì ông có một nhược điểm chí mạng: mềm yếu.
Ông không trừng phạt những kẻ tiểu nhân tham ô tiền bạc của mình, cũng không quở trách những đại thần chỉ trích ông, bởi ông sợ hãi quyền lực, sợ hãi sự trừng phạt, sợ hãi tất cả mọi thứ. Suy cho cùng, ông chỉ là một người muốn sống những ngày tháng bình lặng mà thôi.
Ông đáng lẽ nên làm một bác nông dân chất phác, hoặc một tiểu thương phận sự, việc bị ép buộc chọn cái nghề hoàng đế này, đối với ông mà nói, thực sự là một bi kịch không hơn không kém.
Chu Kiến Thâm không phải một vị hoàng đế tốt, cũng chẳng phải một người tốt, ông chỉ là một kẻ nhu nhược, chỉ vậy mà thôi.