THIÊN NHÃN PHONG THỦY SƯ

Lượt đọc: 2507 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 890
"Ngoại truyện: Bát tinh và sức khỏe"

❊ ❊ ❊

Khi đọc bình luận của một người bạn, tôi chợt nhớ ra hình như vấn đề về Bát tinh và sức khỏe trước đây chỉ mới được nhắc đến sơ qua, chưa được tổng hợp lại một cách tập trung.

Nhân tiện trường hợp của người bạn này, chương này tôi sẽ nói chi tiết hơn.

Tôi sẽ phóng to số WeChat của anh ấy để mọi người cùng xem.

Về phần ảnh đại diện thì trước đó đã nói khá nhiều rồi, ở đây tôi xin phép không nhắc lại nữa, chương này sẽ tập trung nói về Bát tinh.

Số đuôi của tài khoản WeChat này là 1999.

19 chỉ từ trường "Diên Niên", chúng ta hãy bắt đầu từ "Diên Niên" trước.

Diên Niên đại diện cho năng lực.

Người có năng lực thường có xu hướng mạnh mẽ, bởi vì những người quá ôn hòa thường thiếu quyết đoán, không thể đảm đương vai trò của một nhà lãnh đạo.

Nếu quá mạnh mẽ, xét về phương diện sức khỏe, người đó dễ phải chịu áp lực lên tim, vùng đầu, tinh thần và giấc ngủ; vai, gáy và cột sống cũng là những bộ phận chịu áp lực nặng nề.

Có câu nói rằng: "Bị cuộc sống đè gãy cột sống".

Trạng thái đối lập với việc bị đè gãy cột sống chính là khí phách hiên ngang.

Nếu khí không đủ thì khó mà chống đỡ được lồng ngực và lưng.

Vì vậy, gốc rễ vẫn nằm ở chỗ "người sống nhờ một hơi thở".

Khi tính cách mạnh mẽ hoặc phải đối kháng với áp lực lớn, hơi thở thường ngắn, thô và căng thẳng, việc kháng áp lâu dài sẽ làm gia tăng áp lực lên tim, não hoặc xương cốt.

Đặc biệt là người bạn này lại có số 1999.

Bản thân số 9 đã mang áp lực lớn, lại còn ba số 9 liên tiếp, hơn nữa còn là số 9 trong Diên Niên 19, nên áp lực tạo ra là điều có thể hình dung được.

Diên Niên ngũ hành thuộc Kim, Kim khắc Mộc, mà Mộc chủ về gan.

Người sử dụng từ trường Diên Niên nên chú ý nhiều hơn đến tính khí của bản thân.

Tiếp theo, hãy nói về "Thiên Ất".

Thiên Ất còn được viết là Thiên Nhất hoặc Thiên Y, ngũ hành thuộc Thổ, Thổ chủ về nâng đỡ, đại diện cho tài phú, sự lương thiện, bao dung, tín ngưỡng và tình yêu (cũng có thể đại diện cho chính đào hoa).

Nếu Thiên Ất quá nặng, lòng tốt quá mức dễ bị lừa gạt.

Thổ khắc Thủy, cũng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch và mạch máu não.

Nếu Thiên Ất quá nặng, tốt nhất nên học cách buông bỏ và làm việc thiện giúp người.

Tiếp theo, hãy nói về "Sinh Khí".

Sinh Khí ngũ hành thuộc Mộc, đại diện cho sức sống và sự lạc quan.

Người vui vẻ thường có nhân duyên với quý nhân tốt hơn, vì vậy từ trường Sinh Khí cũng có thể đại diện cho quý nhân và cơ duyên.

Tuy nhiên, người vận khí tốt cũng dễ trở nên lười biếng, an phận thủ thường.

Người tâm lớn thường không câu nệ tiểu tiết, dễ dẫn đến bất cẩn.

Nếu từ trường Sinh Khí quá nặng, sự lười biếng sẽ không có lợi cho sự nghiệp, lâu dần dễ sinh ra oán khí (hoặc ấm ức trong lòng), gây tổn thương dạ dày và đường ruột.

Tiếp theo là "Phục Vị".

Phục Vị ngũ hành cũng thuộc Mộc, đại diện cho sự tiếp nối, là từ trường tiêu hao liên tục, dễ gây lo âu và thiếu cảm giác an toàn.

Sự tiêu hao tinh thần liên tục không mấy thân thiện với tim và não bộ.

Tiếp theo là "Lục Sát".

Lục Sát ngũ hành thuộc Thủy, đặc điểm là linh hoạt, ôn hòa, tâm tư tinh tế nhạy cảm, cảm xúc bất an (ưu uất, tự kỷ...), cũng dễ dẫn đến nội tâm trống rỗng và có duyên với người khác giới.

Về sức khỏe, cần chú ý nhiều hơn đến các vấn đề tinh thần. Cũng dễ bị nhiễm ẩm hàn (xuất hiện tình trạng tay chân lạnh, cung hàn, tiêu chảy, v.v.).

Tiếp theo là "Họa Hại".

Họa Hại ngũ hành thuộc Thổ, dễ đâm đầu vào ngõ cụt, ưa sĩ diện, ăn nói khéo léo (nếu dùng vào mặt tiêu cực thì là cãi chày cãi cối, ngụy biện, đặc điểm này thể hiện khá rõ ở nhân vật mẹ của Minh Nhất trong "Tu Tiên"), dễ xung động cố chấp, tính khí xấu, nhẹ dạ cả tin, khả năng phân tích yếu (dễ bị lừa).

Từ trường Họa Hại chủ yếu ảnh hưởng đến khoang miệng, mắt, tai, khí quản, cổ họng, lồng ngực, v.v., cũng dễ hình thành các "khối u" trên cơ thể (những thứ mọc lồi lên).

Tiếp theo là "Ngũ Quỷ".

Ngũ Quỷ ngũ hành thuộc Hỏa, đặc điểm là có tài hoa, suy nghĩ không ổn định, nhiều chiêu trò, không cam chịu bình lặng, dễ ghét bỏ người khác, hỏa khí lớn.

Hỏa khí lớn sẽ gây hại cho hệ miễn dịch, dễ xảy ra các bệnh đột phát.

Đặc biệt cần lưu tâm đến tim, phổi và các bệnh phụ khoa.

Cuối cùng là "Tuyệt Mệnh".

Tuyệt Mệnh ngũ hành thuộc Kim, đặc điểm là quản lý cảm xúc kém, không khéo léo, thành kiến chủ quan sâu sắc, tính cách xung động, cực đoan, dám nghĩ dám làm, mạo hiểm, phản ứng nhanh, trọng nghĩa khí bạn bè.

Tính cách cực đoan này sẽ vắt kiệt cơ thể, thận là gốc của tiên thiên, dễ xuất hiện các tình trạng sức khỏe liên quan đến thận như bệnh tiểu đường, các vấn đề về hệ tiết niệu sinh dục, v.v. Tính khí nóng nảy cũng sẽ gây hại cho gan.

Vận khí và tình trạng sức khỏe của một người tốt hay xấu đều phụ thuộc vào công đức và phúc báo.

Độ lớn của công đức và phúc báo một mặt là do tích lũy, mặt khác là do sự tiêu hao.

Có câu nói rằng: "Lửa thiêu rừng công đức".

Vì vậy, bất kể từ trường nào nặng, "chung quy lại vẫn là phải tu dưỡng tính khí".

Trong khi tu dưỡng tính khí, cũng có thể tận dụng các trợ lực từ bên ngoài một cách hợp lý.

Ví dụ, người lười biếng có thể bổ sung thêm một chút từ trường Diên Niên.

Ví dụ, người trầm cảm có thể thanh lọc bớt từ trường Lục Sát.

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:603
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »