Tôi vốn là người có tính cách xuề xòa, nhưng ở tận sâu trong thâm tâm, đôi khi vẫn cảm thấy một chút giằng xé, thậm chí còn mang theo cả sự hủy diệt. Không biết đây là di chứng sau sang chấn thời thơ ấu, hay là căn nguyên từ chính bản tính của mình. Tôi rất khó lòng đạt được sự khoáng đạt, trong ngoài như một giống như Thanh Ngưu sư phụ.
Việc tôi yêu thích huyền học, tâm lý học và các loại hình tu linh cũng chính vì lý do này. Tôi muốn tìm kiếm một cơ duyên trong quá trình tu hành, để có thể phá bỏ sợi xích cuối cùng, thực hiện sự viên mãn của tự tính. Giống như nhà tâm lý học Carl Jung từng nói: Trở thành cái tôi chân chính ấy.
Tôi cũng không biết liệu Thanh Ngưu sư phụ có câu trả lời mà tôi đang tìm kiếm hay không. Nhưng tôi vẫn cảm thấy tò mò về "An thần tổ khiếu" mà họ đã nhắc đến trước đó. Thế nhưng, khi Thanh Ngưu sư phụ nghe tôi hỏi về "An thần tổ khiếu", ông lộ vẻ khó xử, ngập ngừng.
"Sao vậy ạ?" Tôi hỏi, "Có phải môn phái của các ông có quy định không được tiết lộ ra ngoài không?" Mỗi môn phái đều có quy tắc riêng, nếu không thể tiết lộ, tôi cũng không muốn làm khó người khác. Dù trước đó Thanh Ngưu sư phụ từng nói ông nợ tôi một ân tình, nhưng cũng không thể vì ân tình mà khiến ông trái lời sư huấn.
Ông đắn đo một lúc rồi ngập ngừng: "Chẳng phải là không thể tiết lộ, mà là... An thần tổ khiếu... rất khó nói cho rõ ràng. Hơn nữa, tôi từ trước đến nay chỉ giảng về phong thủy, chưa từng giảng về chuyện tổ khiếu bao giờ. Một là sợ giảng không thấu đáo, hai là sợ giảng không chuẩn xác."
Tôi thở phào nhẹ nhõm: "Vậy không sao, chúng ta cứ trò chuyện phiếm thôi, nói được đến đâu hay đến đó. Dù sao cũng đâu phải để thực hành tu luyện theo cái này, chuẩn hay không thì tôi cũng chỉ tìm hiểu cho biết thôi mà." Ông cũng thở phào: "Được thôi, vậy cứ tùy ý trò chuyện nhé!"
Tôi đề nghị: "Hay là chúng ta tìm chỗ nào ăn cơm rồi vừa ăn vừa nói chuyện nhé?" Ông xua tay từ chối: "Vừa ăn vừa nói lại càng không rõ ràng. Tôi khuyên cậu nên vẽ một tấm Cửu Cung đồ ra, đối chiếu mà xem thì có lẽ dễ hiểu hơn."
Tôi thuận theo, vẽ một tấm Cửu Cung đồ. (Gợi ý: Những điều về hồn phách và tinh khí thần dưới đây khá trừu tượng, khó hiểu. Mọi người hiểu được bao nhiêu thì tùy ý. Sau này sẽ còn nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Niệm nhiều lần rồi sẽ nhớ thôi.)
Thanh Ngưu sư phụ cầm bút, chỉ vào Cửu Cung đồ nói: "Chúng ta bắt đầu từ ngũ tạng trước nhé." Tôi nghe vậy, liền đánh dấu ngũ tạng lên hình.
Thanh Ngưu sư phụ bảo: "Lần trước trên đường chúng ta đã nói, ngũ tạng phân âm dương. Tâm, Phế là dương tạng. Can, Thận, Tỳ là âm tạng. Còn nhớ không?"
"Nhớ ạ." Tôi gật đầu.
Ông chỉ vào vị trí của Tâm và Phế trên hình rồi nói: "Dương tạng còn có phân loại. Tâm là Hỏa, là dương trung chi dương. Phế là Kim, chủ túc giáng, là dương trung chi âm."
"Vâng," tôi nhìn hình, bám sát tư duy của sư phụ rồi phân tích tiếp: "Âm tạng có Can, Thận, Tỳ. Can chủ Mộc, sinh phát hướng lên là dương. Can là âm trung chi dương. Thận chủ Thủy, thủy hướng xuống là âm. Thận là âm trung chi âm. Tỳ là Khôn Thổ, là âm trung chi chí âm."
Thanh Ngưu sư phụ gật đầu: "Trong ngũ tạng, những tạng mang tính dương gồm: Tâm (dương trung chi dương), Phế (dương trung chi âm), Can (âm trung chi dương)." Nói xong, ông ngước nhìn tôi, tôi gật đầu ra hiệu rằng đầu óc mình vẫn đang theo kịp.
Ông chậm rãi nói tiếp: "Trong Tâm tàng Thần. Trong Can tàng Hồn. Trong Phế tàng Phách."
"Vâng!" Tôi chăm chú lắng nghe, không chớp mắt.
Thanh Ngưu sư phụ bắt đầu giải thích cho tôi về Hồn, Phách và Thần. Giảng về hồn, phách, thần thì phải tiện thể giảng luôn về tinh, khí, thần. "Hoàng Đế Nội Kinh" có viết: Thiên chi tại ngã giả đức dã, địa chi tại ngã giả khí dã. Đức lưu khí bạc nhi sinh giả dã. (Bạc nghĩa là áp sát giao hòa). Cho nên, sinh chi lai vị chi tinh; lưỡng tinh tương bác vị chi thần; tùy thần vãng lai giả vị chi hồn; tịnh tinh nhi xuất nhập giả vị chi phách; sở dĩ nhậm vật giả vị chi tâm.
"Sinh chi lai vị chi tinh", "Tinh" đại diện cho nguồn gốc sự sống, ví như phấn hoa thụ phấn, hay tinh trứng... Tinh là phần tinh hoa quan trọng của hình thể con người, thiên về hữu hình.
"Lưỡng tinh tương bác vị chi thần", hai tinh âm dương hợp lại thì "Thần" hình thành, đó là động lực nguyên khởi của sự sống. "Hoàng Đế Nội Kinh" viết: "Hà giả vi thần? Huyết khí dĩ hòa, doanh vệ dĩ thông, ngũ tạng dĩ thành, thần khí xá tâm, hồn phách tất cụ, nãi thành vi nhân." Chỉ rõ rằng, theo sự phát triển của phôi thai, đến giai đoạn ngũ tạng hình thành, Thần mới sinh ra và trú ngụ tại Tâm.
"Tùy thần vãng lai giả vị chi hồn", "Hồn" là thứ đi theo Thần. Cho nên người ta mới có câu "thần hồn điên đảo". Chữ Hồn (魂) bên trái là chữ Vân (mây), chỉ luồng khí, ở trạng thái lưu động, biến hóa. Bên phải là chữ Quỷ, chỉ một nguồn năng lượng bí ẩn không thể nắm bắt trong cơ thể người. Hồn là "phụ khí chi thần", thiên về vô hình.
"Tịnh tinh nhi xuất nhập giả vị chi phách", "Phách" là thứ cùng ra vào với Tinh. Tinh phong tàng tại Thận. Cho nên phách lực có liên quan đến Thận. Thận khí không đủ thì lấy đâu ra phách lực? Gan sẽ nhỏ. Phách là "phụ hình chi linh", thiên về hữu hình (vì Tinh hữu hình, nó đi cùng Tinh).
Trương Cảnh Nhạc, người sáng lập phái Ôn Bổ, từng nói: "Phách chi vi dụng, năng động năng tác, thống dương do chi nhi giác dã." Phách liên quan đến các hoạt động bản năng cấp thấp, là phản ứng nguyên thủy, tương đương với phản xạ không điều kiện.
Tinh thần trước khi sinh gọi là hồn phách. Tinh thần sau khi sinh gọi là tinh thần. Hồn phách là tiên thiên, tinh thần là hậu thiên. Hồn phách đi cùng tinh thần, lần lượt phụ thuộc vào khí vô hình và hình hữu hình.
Trương Cảnh Nhạc nói: Tinh đối với Thần thì Thần là dương, Tinh là âm; Phách đối với Hồn thì Hồn là dương, Phách là âm. Cho nên Hồn tùy Thần mà vãng lai, Phách tịnh Tinh mà xuất nhập. Thần là dương trung chi dương, Hồn là dương trung chi âm; Tinh là âm trung chi âm, Phách là âm trung chi dương.
"Hoàng Đế Nội Kinh" viết: Dương khí toàn thăng, tắc "Hồn biến nhi vi Thần". Hồn là khí ban đầu của Thần, nên tùy Thần mà vãng lai. Âm khí toàn giáng, tắc "Phách biến nhi vi Tinh". Phách là nền tảng của Tinh, nên tịnh Tinh mà xuất nhập.
Tâm là chủ tể của ngũ tạng lục phủ, là nơi trú ngụ của tinh thần. Giữa Thần và Hồn có thể chuyển hóa cho nhau. Giữa Phách và Tinh cũng vậy. Hồn phách và tinh thần đều thuộc sự quản lý của Tâm.
"Tinh khí thần" có thể coi là ba mặt của một thực thể. Thực thể này Đạo gia gọi là "Khí" (炁). Ba mặt của nó chính là nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Đây là thứ có trước khi có nhục thể, nên gọi là tinh khí thần tiên thiên. Sau khi có cơ thể này, tinh khí thần tiên thiên bị ảnh hưởng bởi các loại dục vọng hậu thiên mà không thể tinh minh thuần nhất, không thể giữ vững sự sung mãn, chuyển hóa thành tinh khí thần hậu thiên rồi dần dần tiêu hao.
Nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần của cơ thể người ở trạng thái tiềm tàng, phân tàng tại ngũ tạng. Thứ hiển lộ ra ngoài chính là tinh khí thần hậu thiên. "Thần" là ý thức tinh thần và sức sống tư duy bên trong, thiên về vô hình. "Khí" là vật mang của "Tinh" và "Thần", nằm giữa hai thứ, là một loại vật chất tinh vi hơn "Tinh". Nghĩa là, "Tinh" là căn bản, là nền tảng vật chất. "Thần" là chủ đạo. "Khí" là trung gian và cầu nối, đóng vai trò then chốt.
Ba thứ thiếu một không được. Đây cũng là lý do tại sao cả Đạo gia và Phật gia đều rất chú trọng hơi thở. Luyện khí là để kết nối với "Thần". Người sống nhờ một hơi thở. Có câu: "Khí lai nhập thân, vị chi sinh. Thần khứ ư thân, vị chi tử."
Tính chất của tinh khí thần thường được biểu thị bằng ba loài vật. Hươu đại diện cho Tinh túc. Sức sống của hươu rất mạnh mẽ, mỗi năm chỉ giao phối một lần, tượng trưng cho tinh lực dồi dào và sức sống. Người tu hành không trọng dục, giữ tinh. Rùa đại diện cho Khí túc. Rùa cả năm không ăn vẫn sống, sức sống bền bỉ, là biểu tượng của sự trường thọ, thể hiện khí sung mãn và sự bền bỉ của sự sống. Người tu hành cần chú trọng hơi thở, chú trọng sự vận hành của khí trong cơ thể. Hạc đại diện cho Thần túc. Hạc bay nghìn dặm, nghỉ ngơi một chút lại có thể bay nghìn dặm, tượng trưng cho tinh thần mạnh mẽ và sức sống dồi dào, thần thái của hạc chỉ sau phượng hoàng, nên gọi là tiên hạc. Người tu hành không tham ngủ, nhắm mắt là dưỡng thần, ngồi thiền không phân ngày đêm.
Trương Cảnh Nhạc trong "Loại Kinh" đã luận giải từ hai góc độ "Khí tiên thiên" và "Khí hậu thiên". "Khí nghĩa hữu nhị: viết tiên thiên khí, hậu thiên khí. Tiên thiên giả, chân nhất chi khí (炁), khí hóa ư hư, nhân khí hóa hình, thử khí tự hư vô trung lai; hậu thiên giả, huyết khí chi khí, khí hóa ư cốc, nhân hình hóa khí, thử khí tự điều nhiếp trung lai... Tiên thiên chi khí (炁), khí hóa vi tinh; hậu thiên chi khí, tinh hóa vi khí. Tinh chi dữ khí, bản tự hỗ sinh. Tinh khí ký túc, thần tự vượng hĩ." Tinh và khí có thể chuyển hóa lẫn nhau. Tinh khí đầy đủ thì Thần tự khắc vượng.