QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 182 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 16

❊ ❊ ❊

-16-

Kiều Nhị đã rời đảo. Hôm tiễn chân nàng ra cầu Jetty, tôi đã khóc, tôi đã giống mọi người. Hơn cả mọi người , tôi khóc nhiều. Kiều Nhị bước đi không vững. Từ hôm được loan báo chuyển trại, đêm nào nàng cũng thao thức, trằn trọc. Kiều Nhị sợ hãi một tai họa sắp xảy ra trên đất Mỹ. Nàng chỉ tin tôi. Chỉ tôi mới hiểu tâm sự nàng và thương yêu nàng. Sự thật về nàng chắc chắn, vẫn còn phong kín bằng mong đợi nồng nàn của anh nàng, bằng kỷ niệm tha thiết của chàng kỷ sư điện tử. Nàng nói với tôi rằng, mọi cách, nàng sẽ lên Vermont tá túc nhà cô bạn thân của nàng. Người Mỹ dễ cảm thông chuyện hải tặc hại nàng. Và nàng sẽ nhờ viên chức của Sở Di Trú Hoa Kỳ lo liệu cho nàng định cư ở Vermont mà khỏi cần gặp mặt anh nàng. Kiều Nhị đã có những ngày tháng đìu hiu tại thành phố Burlington, nơi cô Hân sắp tới, nơi mùa thu lá rộ muôn mầu. Nàng chờ đứa con của chúng tôi ra đời rồi sẽ lao mình vào cuộc mưu sinh bên Mỹ. Tôi yên tâm vì cô Hân gần gũi nàng. Kiều Nhị đã ghi địa chỉ của bạn nàng, cùng số điện thoai vào cuốn sổ tay của tôi. Bạn nàng, qua thư Mỹ sang đảo, tôi biết rất thân nàng và sẵn sàng cưu mang nàng. Cùng một hoàn cảnh, người ta dễ cảm thông. Cô Bội Ngọc, bạn nàng, vượt biển năm 1980. Cô cũng bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp no nê rồi đem nhốt ở một đảo hoang. Bội Ngọc điêu đứng gấp triệu lần Kiều Nhị. Cô mang bầu với tên hải tặc nào đó. Được giải thoát sau bốn tháng, cô định cư tại California, vùng Orange Country. Gia đình cô, bạn bè cô, đồng bào cô nhìn cô, nhìn tai họa cô gánh chịu như nhìn kẻ lạ mặt, nhìn sự ghê tởm đáng phỉ nhổ. Cô đành ly khai xã hội Việt Nam lưu vong, theo một người Mỹ lên Vermont sống. Thư Bội Ngọc kể lể ngọn ngành : Cô bảo cô đầy đủ hạnh phúc. Kiều Nhị sẽ nương nhờ Bội Ngọc, nay đã là bà Debbie Pulver Le.

Nàng rời đảo, nhiều thay đổi trong “gia đình” tôi. Ông công chức qua khu B, ông nhà buôn qua khu C. Tôi đổi chỗ nằm, xuống dưới để ông nhà báo lên gác tránh tiếng xấu cho cô Hiền, cô Thi. Sinh hoạt Pulau Bidong vẫn đều đều, buồn tẻ. Phái đoàn Úc chưa vào. Họ nghỉ hè thật. Cô Christmas cũng chưa vào. Vụ kiện tụng của anh Sĩ đình nữa. Anh Sĩ đã theo cô Mayt ra Trengganu nhận diện hải tặc Mã Lai. Tòa án Trengganu muốn kéo dài để chuyện ô nhục của dân tộc họ chìm trong lãng quên. Mỗi ngày anh Sĩ cãi nhau với cô Mayt một lần. Cô Mayt chán quá, cuốn gói về Singapore nghỉ hè ! Các thuyền nhân bị bà Angie xù tập thể đã hết cười. Thanh niên Học mãn án khổ sai lao động… tẩm quất. Thanh niên Quang nhờ Cao Ủy chuyển thư Sungei Bisi. Anh ta mô tả Sungei Bisi “rùng rợn” và “sa mạc” hơn Pulau Bidong. Quang muốn trở lại Pulau Bidong mơ ước hôm nào phái đoàn Canada hỏi “tại sao mày ghét chuột yêu mèo”. Còn anh Hải thì thay thế ngườ rời đảo, phục vụ nhà đèn. Anh trực đêm mỗi tuần ba lượt. Ông nhà báo rất hài lòng chỗ làm việc ăn lương mì gói, sữa hộp, gà tươi bồi dưỡng của anh Hải. Cao ủy Long tín nhiệm anh Hải ngay. Trực đêm có thể đi trong giờ giới nghiêm, đi sửa đèn khắp chỗ.

Những buổi trà dàm tay tư của chúng tôi vẫn đầy rẫy đề tài. Riêng tôi, tôi biết thêm chuột đảo. Lũ chuột khốn kiếp này mà ở trại cải tạo Việt Nam thì đã là nguồn cung cấp chất đạm dồi dào cho tù nhân đói thịt khỏi cần treo giải thưởng 15 con chuột 1 hộp sữa đặc. Chuột đảo đông hơn thuyền nhân, con nào con nấy to sù dễ sợ. Chuột đảo nghênh ngang như Cảnh-sát Mã Lai. Chúng dám nhìn người, đùa bỡn trước khi chạy trốn. Tôi nằm ngủ không giăng màn, chuột mở nắp vung nồi thịt gà kho, tha lại chỗ tôi nằm mà thưởng thức. Ăn xong, chuột gậm cánh tay tôi. Tôi hoảng hồn vụt thức, chuột rúc rích chế nhạo. Tôi phải dọn xuơng gà và thay vội áo. Đêm đêm, nhớ Kiều Nhị, tôi khó ngủ. Và tôi giải sầu với chuột Mã Lai. Những con chuột ghê gớm hứa hẹn dịch hạch bất cứ lúc nào. Thế mà bệnh xá không chích ngừa dịch hạch cho thuyền nhân hay đã chích đủ thứ nhưng lười biếng giải thích. Chúng khôn vô cùng. Hễ thấy những thanh củi chờ ném chúng, chúng không lai vãng quanh giường của tôi. Tôi đã ngắm chuột mở nắp vung nồi thức ăn đậy kỹ, đè nặng. Tôi đã thấy chuột chọi nhau, dữ dội y hệt gà chọi . Chúng nhảy thật cao và đá nhau ngã bồm bộp. Chúng biết khiêu vũ, biết cười, biết chế nhạo người. Phái đoàn Canada sợ chuột, không dám ngủ tại đảo. Chiều chiều họ về Trengganu, sáng sáng họ vào. Họ đã bị chuột Mã Lai gậm nhấm móng chân!

Những cô nhi gia đình Âu Cơ đã tàn sát chuột đảo:15 xác chuột 1 hộp sữa đặc. Cô nhi mài nhọn giây kẽm làm ngạnh đàng hoàng, kiếm cành tre cắm lên đầu để lùng chuột. Trong vòng tuần lễ, chuột núi nạp mạng ngàn con. Giải thưởng rút xuống: 20 xác chuôt 1 hộp sữa đặc. Rồi 30 xác. Rồi không nhận chuột sơ sinh. Chuột núi di tản. Cô nhi và thuốc và bẫy truy nã chúng. Đến hôm xác chuột mất giá, giết chuột hết ăn giải thì sinh hoạt trại lắng đọng. Chuột thóat đại nạn, tiếp tục sinh trưởng và tiếp tục lộng hành. Ban đêm thuyền nhân sợ chuột Mã Lai, ban ngày thuyền nhân sợ hãi cảnh sát Mã Lai. Cả hai đều đã gây phiền toái cho những kiếp người lưu lạc tạm dừng chân trong quán trọ trước cổng thiên đường .

Tính ra, Kiều Nhị rời đảo đã quá tuần lễ. Chắc chắn, nàng đã bỏ Marang. Đọc thư của anh Quang tôi ái ngại thân phận Kiều Nhị. Sungei Bisi mới là cửa thiên đường . Để vào hẳn Thiên Đường, nàng còn gặp nhiều lận đận. Mà Thiên Đường ấy, nàng đã nguội lạnh.

– Cậu nghĩ gì thế ?

– Về Kiều Nhị.

– Nghe nói bên ấy tổ chức chặt chẽ hơn bên này. Người ta chia từng khu vực, cơm ăn nước uống, ngày ba bữa có nhà thầu lo liệu. Cậu nghĩ nổi điều gì cho con bé mà nghĩ.

Cữ trà trưa nay mới hiện diện ông nhà báo và tôi . Còn thiếu anh Hải, anh Học.

– Tôi rất lo sợ.

– Bác lo sợ chi?

– Sự thay đổi lối sống thường kéo theo sự thay đổi tâm hồn con người. Thổ ngơi của trái quýt Án Tử và hoàn cảnh xã hội của nước Sở. Cậu yêu Huế chứ?

– Huế đẹp và thơ..

– Tôi muốn nói Huế là một thành phố như tất cả thành phố miền Nam hai mươi năm sống với Mỹ.

– Cháu chưa hiểu.

– Huế chiến tranh, Huế nghèo nhưng Huế không hề bị đảo tung vì đô la Mỹ. Cách nhau ngọn đèo Hải Vân, Huế và Đà Nẵng đã là hai thái cực. Rồi người ta tìm một người Việt Nam hoàn toàn Việt Nam ở đâu. Cậu nhớ vụ chết đói ở miền Bắc tháng Ba năm Ất Dậu không ?

– Hồi ấy cháu chưa ra đời.

– Người ta chết đói xong thì chết no. Người ta ăn vội vàng, ăn trả thù đói và người ta chết no.

Ông nhà báo thở dài:

– Người ta sẽ chết đuối trên giòng sông vật chất Tây phương. Người ta sẽ biến thành nô lệ của tiện nghi. Người ta sẽ tranh đua hơn nhau quyết liệt. Và người ta sẽ chẳng còn là người ta nữa. Tỷ lệ người về Việt Nam ngày mai rất thê thảm. Tôi đã nhìn thấy ở đây. Có đứa đã nói rằng nó đái lên đất quê hương thay lời vĩnh biệt

Ông nhà báo cầm tay tôi :

– Bác sắp tạm biệt cháu.

Lần đầu tiên ông nhà báo xưng bác và gọi tôi bằng cháu. Giọng của ông bùi ngùi. Như thể một lời giăng giối

– Bác tự ví bác là con ngựa già, cháu ạ ! Không phải bác bon chen vượt biển để tìm thú vui vật chất đâu. Bác chưa hiểu bác sẽ là một ký sinh trùng ăn bám tiền trợ cấp xã hội Na Uy, một xác mục dưới huyệt sâu quê người mà mộ chí ngàn năm không hương khói. Nhưng bác đánh đu với số phận sang đây để chứng minh rằng bác đã đến, đã thấy. Trận chiến đầu, bác đã thắng. Bác về để thắng trận kế tiếp. Cháu đi cũng vậy.

Tôi nắm chặt tay ông nhà báo :

– Bao giờ bác về?

– Coi như từ giây phút này bác đã chào cháu. Bác đã có địa chỉ Hòa Lan của cháu, đia chỉ Vermont của Kiều Nhị. Các cháu sẽ nhận thư bác với tên Nguyễn Hồi Hương.

– Bác cần dạy cháu thêm điều gì nữa ?

– Tất cả ở trong câu hỏi “Tôi là ai, đang ở đâu, làm gì“.

– Cháu định cư nước nào thuận lợi ?

– Pháp. Paris lý tưởng nhất. Cháu sẽ trưc diện đấu tranh văn hóa, tư tưởng với cộng sản. Trực diện mới can đảm và không được sai lầm. Nếu cháu chinh phục hết Việt Kiều rời bỏ chế độ cộng sản, chỉ cần Paris thôi, cháu đã thắng trận thứ hai ngoạn mục. Cháu sẽ kiếm tìm chiến hữu. Mọi hò hét đao to búa lớn đã lạc hậu rồi. Trận chiến tư tưởng sẽ là trận chiến âm thầm của những tài năng mới. Trận thắng thứ ba rất quan trọng là lôi kéo người ngoại quốc hậu thuẫn mình. Một nhà báo nổi tiếng Pháp vào cuộc mạnh khôn lường. Phản chiến Mỹ và phản chiến thế giới đã thắng chúng ta, cháu nhớ kỹ điều đó. Muốn được thế giới hậu thuẫn, chúng ta cần thiết biểu lộ tài năng và nhân cách . Bác đã nói chuyện với bác sĩ Rémy Provendier, ông ta hứa bảo lãnh cháu vào Pháp. Cháu sẽ liên lạc với ông ấy.

– Bác chuẩn bị chu đáo?

– Tàm tạm. Thằng Hải lo hết. Thêm thằng Học, mọi chuyện sẽ tốt đep.

– Dầu nhớt ?

– Nhà đèn có sẵn.

– Thực phẩm, nước ?

– Một thùng mì gói, hai can nước đủ sức xuống Singapore.

– Bác đợi cơ hội nào ?

– Mưa đêm. Hải sẽ cúp đèn khu vực cầu Jetty và lối đi từ nhà đèn tới sân phát thực phẩm.

– Task Force canh gác ?

– Không ai canh gác cả.

– Cháu hỏi bác một điều tâm cảm.

– Hỏi đi!

– Tại sao bác chọn cháu?

– Cháu là chiến hữu của bác hôm nay, ngày mai và mãi mãi. Cháu trẻ và ăm ắp thiên lương…

– Cháu bất tài.

– Bác nhận xét người ít khi sai. Bác tin rằng cháu sẽ xây dựng nổi một thứ uy quyền tự tạo.

– Nếu cháu phụ niềm kỳ vọng của bác?

– Cháu có tội với dân tộc.

– Nếu cháu cố gắng hết khả năng và nhiệt tình của cháu mà không đi đến đâu cả ?

– Chưa thấy nỗ lực nào không đi đến đâu. Mọi nỗ lực đều chuyển bước, một bước của cháu và nhiều bước của những ai cùng đi một đường.

– Cháu hứa sẽ không bao giờ phụ bác.

– Bây giờ, bác cháu mình lên bệnh xá.

Bác sĩ Rémy Provendier tiếp chúng tôi hết sức niềm nở. Ông nói người cha của bạn thân của ông là ông Pierre Bonfils rất nhiều thế lực ở Bộ ngoai giao Pháp. Tuần sau bác sĩ Rémy về Paris, ông sẽ làm ngay cái certificat d’hébergement và nhờ ông Pierre Bonfils đích thân nộp tại Bộ ngọai giao. Bác sĩ Rémy bảo tôi điền lý lịch xin định cư ở Pháp để khi ghé Kualar Lampur ông đến Tòa đại sứ Pháp can thiệp nhanh chóng. Ông khuyên tôi, thời gian chờ đợi chuyển trại, trau dồi Pháp ngữ.

Ông nhà báo tận tình lo mọi việc cho tôi. Tôi mang ơn ông vô cùng. Đời tôi chưa mang ơn ai. Tôi sợ mang ơn. Tôi sợ tất cả những ai đối xử tốt với tôi. Vì tôi sợ phải đền ơn và luôn luôn ngần ngại cách xử thế của mình. Tôi đến Pulau Bidong như mọi thuyền nhân, với một ước vọng bình thường. Số phận dẫn dắt tôi gặp ông nhà báo, gặp Kiều Nhị. Ông nhà báo soi sáng cái ước vọng bình thường của tôi. Và tôi thấy ước vọng đó thật tầm thường không xứng đáng công lao vượt biển của tôi. Ông nhà báo dạy dỗ tôi. Tôi biết nuốt cay đắng, mở to mắt nhìn sinh hoạt Pulau Bidong để truy nã thân phận tôi, thân phận dân tộc tôi. Kiều Nhị đã ra đi. Ông nhà báo sắp ra di. Tôi cũng sẽ ra đi, sẽ vĩnh biệt cái quán trọ trước cổng thiên đường này. Nhưng mà tôi sẽ ra đi với bổn phận làm chồng, làm cha và sứ mạng thiêng liêng. Tôi vốn khiêm tốn, vậy mà tôi phải nhắc hai tiếng sứ mạng. Chỉ tại ông nhà báo chọn lựa tôi…Thôi thì tôi cố gắng. Tôi không dám nói tôi sẽ thi hành sứ mạng vì tổ quốc tôi, vì dân tộc tôi, vì quê hương tôi. Mà tự nhủ lòng sẽ nỗ lực biến mình thành chiếc lá ngô đồng lạc lỏng bay trong bầu trời lưu vong ảm đạm, hy vọng thiên hạ cùng biết mùa thu đã sang. Để tạ tình ông nhà báo. Ta tình tri kỷ.

—>17


Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »