QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 67 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 4

❊ ❊ ❊

-4-

Điệu sáo báo tin thuyền nhân ghé đảo không làm tôi ngạc nhiên nữa. Tôi đã tuyên thệ với Cao Ủy những gì tôi khai trong hồ sơ tị nạn. Tôi cũng đã lăn tay, chụp ảnh, lãnh thẻ tị nạn. Qua ngót nhiều lần phơi dĩ vãng, hịện tại và tương lai với Cao Ủy Tị Nạn, với tình báo SB., với An ninh hội tề, tôi trở thành khách trọ chính thức của quán trọ trước cổng thiên đường. Thuyền nhân vật vã với thủ tục tị nạn như tù nhân vật vã với thủ tục đề lao. Mới hay, lên thiên đường khó, xuống địa ngục dễ. Thiên đường có cổng khoá kỹ lưỡng. Và ông thánh Pierre giữ chìa khóa, ông thánh Pierre “rejects” hay “accepts” thiện nhân. Ông thánh Pierre quyền uy có con dấu đóng mạnh trên “blue card”. Thiện nhân vào nước thiên đường sớm sủa hay nằm ăn vạ ở quán trọ vài năm là do con dấu diệu kỳ đó. Địa ngục sinh động hơn thiên đường nên có những chín cửa. Tuyệt nhiên chẳng cửa nào cần khóa và cần quỷ sứ giữ chìa khoá. Ác nhân tự do leo cầu vồng, tự do nếm đòn Diêm Vương và hoàn toàn tự do lựa nơi chốn định cư ở chín tầng âm ty, khỏi cần các phái đoàn mở hồ sơ phỏng vấn. “Thiên đường địa ngục hai bên” là thế. Với loài người, thiên đường và địa ngục được ngăn cách bởi biên giới thế gian. Với thuyền nhân, thiên đường và địa ngục gần gũi bằng những quán trọ. Gần gũi lắm và xa xôi lắm. Bởi vì, những quán trọ lại là những địa ngục tồi tệ.

Chúng tôi , tám người, sống chung trong căn nhà ọp ẹp. Pulau Bidong có hai loại nhà. Một loại nhà sang trọng gọi là “long house” do Cao Ủy Tị Nạn xây cất. Nhà hai tầng, mái lợp fibro-ciment, vách gỗ miếng bào nhẵn , sàn gỗ phẳng phiu. Một loại nhà bình dân do dân tị nạn lên núi chặt cây dựng tạm. Cao Ủy cho đinh, cho tôn. Năm 1979, Pulau Bidong chứa đến trên bốn chục ngàn thuyền nhân . Đông quá, Pulau Bidong phải lên núi cắm lều , nước uống, nước tắm rất khan hiếm. Một số thuyền nhân khác làm nhà để bán cho “đồng bào” nào nhiều nhẫn vàng, hột xoàn, đô-la! Sự vượt biển, dần dần khó khăn, Pulau Bidong nay còn khoảng năm ngàn dân tị nạn. Mức độ định cư giảm sút, chậm rì. Ngoài ba phái đoàn Pháp, Thụy Sĩ, Na Uy, Đan Mạch, Hoà Lan, Đức….không đến Pulau Bidong nữa. Điều đặc biệt là “long house” hay “short house” đều không có cửa. Thuyền nhân phải kiếm giấy dầu, bao gạo chế các kiểu cửa. Mục đích nhà không cửa để cảnh sát Mã Lai dễ kiểm soát sinh hoạt ban đêm. Chẳng nhà nào có cầu tiêu cả. Thuyền nhân kéo nhau đi cầu tiêu công cộng. Trong giờ giới nghiêm, đau bụng thì rán chịu hoặc ‘chơi” lên giấy, gói kỹ, sáng mai bỏ vào bao rác mang ra xà-lan đổ biển. “Short house” tiện nghi hơn “long house” nhờ cái phòng tắm riêng tự chế. Hàng tuần thuyền nhân được lãnh mì gói, gạo, đường , thịt gà hộp, thịt bò hộp. Hàng nửa tháng, được lãnh bắp cải tươi, gà tươi. Hàng tháng được lãnh dầu ăn , đậu nành, nước mắm , muối, kem đánh răng. Trẻ sơ sinh được lãnh sữa bột. Đàn bà được lãnh băng vệ sinh, và có thai thì được lãnh trứng bồi dưỡng. Thịt heo nằm trong giới răn của Hồi giáo nên miễn kể.

Cao Ủy Tị Nạn săn sóc thuyền nhân thật chu đáo. Thế nhưng xã hội loài người luôn luôn sẵn bọn đấu thầu nỗi khổ. Mã Lai, tên cai thầu tị nạn béo bở và bóc lột tàn nhẫn. Tai mắt của Cao Ủy Tị Nạn rặt người Mã Lai gốc Tầu, gốc Ấn Độ và Thái Lan nên Cao Ủy đâu biết gì. Thỉnh thoảng nhân viên đích thực của Cao Ủy đến đảo thì, vì là dân Thụy Điển, cô Christmas, đã ngó lơ để cảnh sát Mã Lai gọt trọc đầu thuyền nhân, đánh đập thuyền nhân và bắt thuyền nhân làm nô lệ. Một xà-lan nước ngọt, Cao Ủy Tị Nạn trả Mã Lai mấy ngàn đô-la. Nước ngọt ấy, tính theo tiêu chuẩn, mỗi thuyền nhân mười lít một ngày. Task Force, cảnh sát Mã Lai, nhân viên Cao Ủy xử dụng ba phần tư cho các dịch vụ tắm giặt và giật cầu tiêu! Cai thầu Mã Lai cung cấp thịt gà hộp, thịt bò hộp dơ dáy. Hộp thịt bò tị nạn mở ra trông giống hộp phân kiết lỵ. Nó bầy nhầy, ghê tởm đến nỗi muốn ăn , thuyền nhân phải gạn hết nước, chỉ lấy thịt rửa nước sôi rồi mới kho mặn. Thịt gà tươi Mã Lai là thịt gà già nua chương phình cho nặng ký lô ướp lạnh đông đặc. Áo quần của Hồng Thập Tự tặng thuyền nhân bị Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ lựa đồ mới để giữ lại và chỉ phát đồ cũ nhăn nheo. Những thứ khác, các thuyền nhân chức sắc trong Khối Xã-hội giành nhau chia chác hết.

Nỗi khổ của hai mươi năm chiến tranh của Việt Nam đã đóng góp hoà bình, thịnh vượng cho Mã Lai . Nỗi khổ thuyền nhân Việt Nam vẫn đóng góp tiếp cho sự phồn vinh của Mã Lai. Ông Cao Ủy Tan, Mã Lai gốc Tầu, đặc trách Khối Kế-toán. Bố ông ta thầu cung cấp sữa bột. Hễ trẻ sơ sinh lãnh sữa, ông ta khui tung lớp giấy bạc. Lý do: đề phòng sữa bị bán. Thực ra, mỗi hộp sữa có một miếng bìa nhỏ ghi rõ “Mười cái bìa này đổi một hộp sữa hai ký lô”. Một tháng, ông Cao Ủy Tan phát bao nhiêu hộp sữa, một năm bao nhiêu hộp sữa và tích trữ bao nhiêu cái bìa để đổi sữa mà bán cho Cao Ủy Tị Nạn? Thuyền nhân chẳng khác gì bò sữa, vừa bị vắt sữa vừa bị hành hạ và ngậm đắng nuốt thịt bò kiết lỵ! Bữa ăn trước cổng thiên đường nghẹn ngào khôn tả. Tôi không thiết nghĩ tới những hệ lụy thuyền nhân, nhưng, mắt cứ phải nhìn, tai cứ phải nghe, và đầu óc cứ phải nhẩy múa. Đời sống vốn nhiều mật đắng, ít mật ngọt. Triết lý cũng đành , có lẽ, hay nhất.

Hôm nay, phái đoàn Mỹ và phái đoàn Úc vào đảo. Các đấng thánh Pierre đem chìa khoá thiên đường con Ó và con Kangourou vào đảo. Thuyền nhân xôn xao. Qúy cô cậu thông ngôn lăng xăng, quan trọng. Phái đoàn vào là mở hồ sơ ngay trên Đài phát thanh Pulau Bidong :” Đồng bào các tầu Pulau Bidong720 đến 725 chú ý, chú ý! Phái đoàn Mỹ sẽ mở hồ sơ trong vòng nửa tiếng nữa. Yêu cầu đồng bào chuẩn bị gặp phái đoàn. Không chấp nhận mọi sự chậm trễ và vắng mặt. Đồng bào các tầu Pulau Bidong730 đến 736 chú ý, chú ý! Xin đến gặp phái đoàn Úc ngay. Không chấp nhận mọi sự chậm trễ và vắng mặt.”

Không chấp nhận mọi sự chậm trễ và vắng mặt là câu cuối cùng của bất cứ một thông báo nào. Với các phái đòan câu này vô nghĩa vì đồng bào tị nạn mong gặp phái đoàn mở hồ sơ như đại hạn mong mưa. Với các Cao Ủy, câu này bình thường. Với Khối An-ninh câu này đe doạ. Với SB. câu này khủng bố. Với Cảnh sát và Task Force, câu này hứa hẹn ăn đòn hộc máu mồm, bể lá lách.

Thông báo phái đoàn Mỹ và Úc đã có mặt tại Pulau Bidong làm rộn ràng trại. Tự nhiên, cái bàn trà của chúng tôi biến thành văn phòng mách giúp chỉ giùm “lý do rời Việt Nam”. Ông nhà báo nói đùa :

– Nếu muối mặt nhận thù lao, mỗi cái lý do rời Việt Nam rẻ nhất cũng một đồng Mã.

Tôi hỏi:

– Lý do rời Việt Nam cần thiết làm sao, bác?

Ông nhà báo sửa gọng kính cận:

– Cần thiết chứ. Đó là câu kinh khó nhớ của thuyền nhân ít học. Lên thiên đàng sớm hay muộn là do đọc kinh trôi chẩy hay vấp váp.

Tôi khó chịu:

– Lý do rời Việt Nam quá rõ, tại sao phái đoàn còn phải hỏi?

Ông nhà báo nhún vai:

– Ấy, loài người vẫn khoái bày đặt những trò chơi ngớ ngẩn để dằn vặt nhau.

Ông chua chát nói thêm:

– Và xúi dục nhau ăn gian nói dối.

Ông nhà báo giải thích:

– Khi tị nạn chính trị lạm phát và hết hấp dẫn, tình nhân loại xuống thang, cậu ạ! Người ta sáng tạo thêm danh từ tị nạn kinh tế. Khước từ một chế độ chính trị phi nhân bản để tìm một chế độ chính trị nhân bản, dẫu kẻ dám khước từ là ai, làm nghề gì, đã có thái độ chính trị rồi. Và họ là dân tị nạn chính trị. Tôi thấy ngư dân, công nhân, gái điếm, nông dân vượt biển kiếm tự do, họ sáng giá cho thế giới tự do hơn là tướng tá, công chức, dân biểu chế độ cũ. Một chế độ hà khắc đến nỗi hiền lành như nông dân, cam đành như công nhân, cũng phải khước từ bỏ đi thì chế độ ấy quả là tồi tệ. Nước Mỹ thay vì tri ân gái điếm làm sáng tỏ chân lý tự do, dân chủ lại “rì dzếch” (rejects) gái điếm nếu gái điếm không từng cộng tác với chính phủ Mỹ. Cậu hiểu thế nào là tự do?

Tôi nói:

– Theo cháu, đã can đảm vượt biển bằng thuyền gỗ trong thời đại tầu ngầm nguyên tử để đi tìm tự do; chịu đau khổ, nhục nhã đến bến tự do đã là chiến đấu cho tự do. Và đầy đủ tự do chọn lựa nơi mình thích định cư.

Ông nhà báo nhổ nước miếng:

– Linh mục muốn về nước Thiên Đàng gặp Chúa Cha và Chúa Con cùng chư Thánh rất dễ. Chỉ cần ngài chớ đi thu tiền nhà, đi xem thi hoa hậu áo dài và dốc lòng làm sáng danh Chúa Ki Tô. Ngài muốn vào nước Hoa Kỳ ở trại tị nạn thì hơi khó. Thánh Pierre mặc quầ soọc sẽ hỏi ngài: Ông có cộng tác gì với chính phủ Mỹ? Ông có đi lính Việt Nam Cộng Hoà không? Trước đây, ông có làm cu-li cho RMK và Pacific không? Ông có vợ con gì đang ở Mỹ không? Linh mục sẽ lắc đầu. Nếu nhà thờ bên Mỹ không bảo lãnh, linh mục khó lòng vào Mỹ. Ấy, con lạc đà có thể chui qua lỗ kim nhưng linh mục khó mà định cư tại Mỹ. Trâu chậm luôn luôn bị uống nước đục. Vượt biển năm 1983, trí thức chống cộng đến chiều vẫn không giá trị bằng gác-dan USAID. Thiên đàng của những kẻ đã chết còn có cổng khoá chặt nữa là nước Mỹ, nước Úc, nước Gia-nã-đại ….của những kẻ ngắc ngoải. Không có tự do trên cõi đời khốn nạn này đâu, cậu ạ! Ở thế giới Cộng sản, người ta rêu rao tự do và đó là tự do kỷ luật. Ở thế giới tự do, người ta khoa trương tự do kỹ hơn, người ta la ó thứ tự do chịu kỷ luật và rồi tự do ấy, tự do không được phép chọn lựa tự do. Trái đất của loài người sẽ, chẳng bao lâu, biến thành nghĩa địa của người sống do những chính sách ích kỷ, vô nhân đạo, do cái danh từ tị nạn kinh tế.

Ông nhà báo thấy mình để “thân chủ” bu quanh đợi đã lâu, bền cầm bút hành nghề. Mấy chục cái “lý do rời Việt Nam”, tuy hành văn khác nhau, song tựu trung nhằm mục đích “thù ghét cộng sản”, mà “bỏ đất nước tìm tự do”. Đến “thân chủ” chót có đứa con bẩy tuổi, ông nhà báo khôi hài hỏi bố nó:

– Thằng nhỏ này bị cộng sản đàn áp ra sao?

Bố thằng nhỏ đáp:

– Xin ông dạy cháu một lý do ngắn để cháu học thuộc lòng, nhỡ bị hỏi.

Ông nhà báo cười:

– Nó mà được phỏng vấn trước, lại trúng tủ, cam đoan phái đoàn không hỏi bố mẹ nó nữa.

Và ông “vẽ bùa”…lý do:

– Cháu đi tìm tự do ở Mỹ vì cháu ghét bác Hồ. Cháu không thích bị hoan hô bác Hồ muôn năm. Cháu yêu bác Ri-Gân!

Ông nhà báo xoa đầu thằng nhỏ:

– Dẫu cháu không biết Ri-Gân là thằng cha nào nhưng cứ nói yêu Ri-Gân, cháu nhé! Cháu tập nói dối là vừa. Nay mai, sống đời Mỹ và lớn khôn, cháu sẽ thấy gian dối là lý tưởng Mỹ!

Một phút ẩn ức tuôn trào, ông nhà báo tưởng thằng nhỏ là tôi, ông buồn bã:

– Ở với cộng sản cũng phải gian dối. Ở với Mỹ cũng phải gian dối. Một thứ gian dối để sống nghèo, một thứ gian dối để sống giầu. Cả hai cùng quần quật lao động, cả hai cùng có chủ nhân khốn nạn. Sống nghèo thì nô lệ cơm áo, sống giàu thì nô lệ tiện nghi. Tiện nghi đẻ ra thủ đoạn. Thủ đoạn để ra âm mưu lừa gạt, cướp giật, vu khống, mạ lỵ…Sống nghèo biết thương yêu nhau vì chẳng còn gì để tước đoạt lẫn nhau, đố kỵ lẫn nhau . Sống giầu thù hận và sẵn sàng bước qua xác nhau.

Tôi vỗ vai ông nhà báo:

– Bác có thêm “thân chủ” mới.

Ông nhà báo sực tỉnh. Giọng ông trầm xuống nghẹn ngào:

– Chắc tôi phải nghĩ cho tôi cái lý do xin về Việt Nam.

Ông ngó “thân chủ” mới:

– Mày xin định cư ở quốc gia nào?

Thanh niên lễ phép:

– Con chọn Canada, bố ạ!

– Ai cho mày chọn?

– Chó ghẻ cũng có ngày mọc lông, bố ơi! Con nằm sắp mục đảo, bốn năm “cải tạo” ở trại tị nạn chứ ít ỏi gì. Mỹ xù, Úc xù. Đợi Mỹ hốt rác, ba lần nó hốt mà nó quên hốt con. Úc hay Mỹ, Mỹ hoặc Úc, hai nơi con kiên nhẫn ăn mì gói đợi dịp may lên thiên đường. No Heaven, only Hell.

– Mày khá tiếng Anh quá nhỉ?

– Học lỏm.

– Rồi sao?

– Thiên đường chê bỏ thì con về xứ lạnh. Nhờ quét sân badminton cho Cao Ủy Nhọ, giăng lưới, gỡ lưới và cất vợt, hầu nước, Cao Ủy Nhọ hứa sẽ năn nỉ phái đoàn Canada kỳ tới. Mong bố thương tình dạy con vài câu tủ.

– Tiếng Anh?

– Dạ, cần xí-pích In-glit để chứng tỏ bốn năm nằm đảo mình đã chăm chỉ học hành.

– Được, tao phỏng vấn tiếng Việt xem mày trả lời trôi chảy không nghe, Quang.

– Dạ.

– Ở Việt Nam mày làm nghề gì?

– Thợ hàn.

– Tại sao mày bỏ quê hương mày?

– Vì cộng sản bắt tôi đi lính.

– Bậy, phái đoàn sẽ ghét mày. Nó sẽ vặn vẹo nghĩa vụ công dân là mày bị liền. Vậy phải nói “Vì cha tôi chống cộng sản bị bỏ tù, bị ngược đãi đến chết. Tôi sợ họ bắt tôi nên tôi bắt buộc rời quê hương. Thực tâm tôi yêu quê hương tôi, không có cộng sản, tôi đâu thèm đi. Quê hương tôi năm bờ oăn”.

– Hay quá nhưng….

– Sao?

– Bố con chết bệnh thổ tả!

– Mày ngu. Thế giới tự do tối dạ lắm, nó ưa nghe nói láo. Cộng sản nói phét trơ trẽn mà nó còn nghe thích thú và tin hơn tin bố nó nữa là mày.

– Rồi, bố in-tốc-viu tiếp đi!

– Lý do nào mày chọn Canada?

– Canada là quốc gia lý tưởng cho khả năng của tôi.

– Hỏng. Mày làm như Canada thiếu thợ hàn. Phải nói: Canada văn minh hơn Mỹ và không có Mafia.

– Ngon lành.

– Mày ghét con vật gì?

– Chuột.

– Mày thích con vật gì?

– Mèo.

– Tại sao?

– Vì mèo là…người yêu của tôi.

– Tốt. Mày nên nói thêm: mèo vồ chuột tiêu diệt chuột. Mày nằm sắp mục đảo mà quên phái đoàn Canada sợ chuột hơn sợ cộng sản. Mấy tháng trước nó nằm tại đảo, từ hôm bị chuột cắn ngón chân, nó sớm vô Pulau Bidong, chiều ra Trengganu. Do đó, hồ sơ chất đống. Canada ưa cái màn hỏi ghét con gì, yêu con gì, mày đáp chuột và mèo là nó ô-kê ngay.

Thanh niên Quang cười toe toét:

– Bố nhà báo có khác, biết hết, biết hết.

Ông nhà báo hất tay:

– Tao mệt rồi, mai tới tao bảo chú Hoài viết ngắn và gọn bằng tiếng Anh cho mày dễ thuộc.

Ông nhà báo ngó tôi:

– Cậu thấy ngậm ngùi chưa? Muốn vào nước thiên đàng, dân tị nạn phải gian dối.

Chắc chắn tôi còn ngậm ngùi nhiều hơn nữa. “Đến đây thì ở lại đây”, biết tính sao bây giờ. Lúc nãy, ông nhà báo nói ông sẽ nghĩ cho ông “cái lý do xin về Việt Nam” khiến tôi suy nghĩ. Tôi định hỏi ông ta song lại sợ không tiện.

Kiều Nhị đã dọn trà. Và cuộc trà đàm bắt đầu. Tôi nhìn Kiều Nhị. Nàng nhìn tôi. Say đắm. Nếu nàng chưa vượt biển. Nếu tôi chưa vượt biển. Và nếu chúng tôi gặp nhau ở Việt Nam, yêu nhau ở Việt Nam, chúng tôi sẽ không bỏ quê hương. Nhưng nếu đã yêu nhau mà cùng nhau vượt biển rôi chứng kiến nàng bị hải tặc cưỡng hiếp, trước sự bất lực hèn mọn của mình, trước sự thúc thủ khốn nạn của mình, tôi sẽ ra sao? Người tủi nhục sẽ không phải là Kiều Nhị đâu. Mà là tôi. Tôi sẽ sống suốt đời với nỗi ám ảnh mặc cảm tội lỗi. Và liệu tôi còn dám yêu Kiều Nhị?

– Anh ạ, chiều nay mình đi dạo biển nhé!

Nàng nắm tay tôi.

– Ừ, mình đi dạo biển.

Tôi đứng dậy ôm chặt Kiều Nhị và dìu nàng lên gác, bỏ dở cuộc trà đàm với những chuyện dai dẳng nghìn năm.

—>5


Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »