-7-
Thanh niên Học cười khoái chí:
– Bác ơi, ở đời này, không tài giỏi xuất chúng thì phải có chút tài mọn mới đỡ khổ.
Ông nhà báo hỏi:
– Cậu có tài mọn à ?
Học dáp:
– Cháu biết tẩm quất, giác hơi. Nhờ vậy cháu đặc trách đấm bóp cho đại úy Tann trước giờ nó ngủ, ban ngày phè phỡn học Anh ngữ. Nó còn cho phép cháu đi câu, đi mò tôm bán kiếm tiền để dành. Nó cho ăn cơm hai bữa, uống Coca Cola hộp.
– Nô lệ khác làm gì ?
– Giặt quần áo, rửa cầu tiêu, quét dọn gầm nhà sàn, nấu cơm, rửa bát, dọn dẹp văn phòng, làm giường đệm, hái dừa, diễn trò mua vui…
– Diễn trò mua vui ?
– Vâng. Nhục nhã bi đát lắm. Nô lệ bên Task Force nhàn hạ hơn và khỏi diễn trò. 10 giờ tối nó cho nô lệ về, 8 giờ sáng phải có mặt ở đồn. Trước khi làm cu ly, nó bắt làm tài tử, trò do nó chỉ định. Hôm thì ra lệnh từng cặp nô lệ đấm đá nhau chí mạng, nó ngồi vỗ tay cười ran. Nộ lệ như giác đấu sĩ. Hôm thì nó ra lệnh nô lệ chui vào bao bố nhảy lò cò, nó cầm roi vụt nô lệ để nô lệ nhẩy hăng. Hôm thì nó ra lệnh nô lệ cười liên tục. Hôm thì nó bắt nô lệ khóc có nước mắt. Thứ sáu nô lệ được miễn làm trò vì nhằm ngày nó đọc kinh Hồi giáo. Ôi, đủ thứ trò bêu nhục người Việt Nam. Cháu không bị làm trò mà lòng tràn đầy căm hận.. Thú thật với bác, bị hải tặc Thái Lan cướp bóc, hãm hiếp rồi bị Cảnh sát Mã Lai hành hạ, cháu muốn về nước theo Việt cộng đánh bỏ mẹ Thái Lan và Mã Lai. Cháu đã bị Việt cộng bỏ tù, không hề bị đập, bị gọt đầu mà sang thế giới tự do bị Mã Lai đục sưng mặt và anh em cháu bị nó bắt diễn trò khốn kiếp. Cháu xin phép các bác “Đm. thế giới tự do” !
Ông nhà báo dịu giọng :
– Bình tĩnh, cậu Học. Cậu thù hận là đúng. Theo tôi, chúng ta nên nghiến răng chịu đựng tủi nhục. Cậu nên nhớ rằng bỏ quê hương mà đi là phải chấp nhận mọi tủi nhục. Điều cần thiết là mỗi chúng ta không được quên tủi nhục. Bởi vì, chính nỗi tủi nhục đã thôi thúc chúng ta mở lối về Việt Nam. Tủi nhục làm ta thức tỉnh. Tủi nhục làm ta luôn luôn thương nhớ tổ quốc ta. Bằng tủi nhục, ta sẽ trở lại quê hương yêu dấu của ta. Đó mới là mục đích. Tôi già nghĩ hơi lẩm cẩm xét cho tận cùng chân lý, nếu chưa lần nào câu yêu nước, hôm nay, cảnh sát Mã Lai đã dạy cậu bài học yêu nước đấy.
Thanh niên Học hằn học :
– Thì không theo Việt cộng nữa nhưng cháu mong có ngày Việt cộng đánh bỏ mẹ chúng nó để chúng nó vượt biển tìm tự do chúng nó sẽ thấm thân phận tị nạn.
Ông nhà báo thở dài :
– Loài người được tạo dựng bằng những mâu thuẩn. Cái thật, cái tốt và cái đẹp rất yếu và rất mơ hồ. Cái giả, cái ác và cái xấu thì rất mạnh và rất cụ thể.
Và ông kết luận:
– Rốt cuộc Việt Nam của tôi là nơi đáng sống và đáng chết.
Thanh niên Học buồn bã :
– Bác ạ, cháu xấu hổ quá, cháu tẩm quất cho thằng Tann nhàn hạ, anh em cháu bị đầy đọa khổ sở cháu cảm thấy cháu có tội.
Ông nhà báo vỗ vai Học :
– Tôi bỗng tin đời vì nghe câu bộc lộ tâm cảm. Thôi, ta uống trà, hút thuốc, nói chuyện khác đi. Tôi có thể nhìn rõ tương lai Việt Nam qua những người như cậu.
Ông trìu mến:
– Học ạ, rồi cháu sẽ định cư ở một quốc gia nào đó bác chưa biết. Bác xin cháu hãy thức bằng tủi nhục và đừng bao giờ ngủ bằng phè phỡn sung sướng.
Thanh niên Học chớp mắt:
– Cháu ghi nhớ lời bác.
Thanh niên Học rời bàn trà đi lên đồn Cảnh sát. Một lát, thanh niên Quang sà tới thực tập Anh ngữ phỏng vấn. Khi đã tạm trôi chảy, thanh niên Quang tiết lộ những câu chuyên chán chường .
– Bố ơi, giá con có tí tiền còm, con đã đi Canada lâu rồi.. Không chừng, con đã lái xế hộp.
– Mày hối lộ phái đoàn à ?
– Con đấm mõm bọn giữ hồ sơ. Re rẻ, năm cây Winston thôi.
– Kể tao nghe.
– À, mỗi lần vô đảo, Canada nó ban ân huệ cho mười thằng trôi biển lạc Mã Lai mà Mỹ và Úc đã “xù”. Bọn giữ hồ sơ lập danh sách. Dúi cho chúng nó tí địa là chúng nó móc “fai” của mình cho lên đầu danh sách. Không có địa, nó ghi số 11 là hỏng.
– Bẩn thỉu đến thế ư?
– Vâng, thưa bố “Nô mo ni, nô in tớc viu” ! Lần này Cao Ủy Nhọ can thiệp, con hy vọng đứng giữa danh sách. Canada ba tháng ghé một lần, hụt bốn kỳ là nằm thở dài một năm. Tương lai con định giá năm cây Winston. Mít với nhau mà còn đểu cáng, nói chi Mã Lai.
– Mày biết nhiều chuyện bê bối lắm nhỉ?
– Cả đống, bố ạ ! Vụ móc “fai” và sửa “fai” Cao Ủy đã biết. Có mấy đứa bị treo hồ sơ rồi. Con nghe nói cuối tuần Canada vô, con hy vọng lắm. “Ai đít lai mao. Ai lai két. Bi cô két kiu mao”. Hê hê. Chào bố.
Thanh niên Quang cười toe và phóng di. Mỗi ngày anh ta đến vài lần để thực tập mấy câu tủ. Muốn vào nước thiên đường còn phải yêu mèo ghét chuột nữa! Nhờ ông nhà báo là người được nhiều người hâm mộ nên tôi được nghe hóng đủ thứ chuyện Pulau Bidong. Chuyện nào cũng ngậm ngùi cả. Tôi đang ngẩn ngơ suy nghĩ trước khi cạn lon trà lên Khối Xã-hội dịch đơn thì nghe thông báo của SB. léo nhéo tên tôi. Tôi vội vàng đi. Một tình báo SB. già đợi tôi. Tên ông ta là Tùng, sĩ quan Không-quân. Ông ta có thân nhân ở Pháp nhưng muốn định cư ở Mỹ nên dù tuổi miễn lao động vẫn bon chen SB. chạy chọt quan Mỹ. Quan Mỹ, viên đại tá CIA, thỉnh thoảng, ghé đảo xem xét hồ sơ. Tôi gặp cả cô tình báo đầm hái nho đã “chơi” tôi.
SB. Tùng niềm nở:
– Ông đại tá Mỹ muốn anh viết ít trang về khám Chí Hòa vì các sĩ quan cải tạo không biết gì về Chí Hoà
Tôi hỏi :
– Để làm gì?
SB. Tùng đáp :
– Người Mỹ muốn hiểu chế độ tù Chí Hòa của Cộng sản..
Tôi nói:
– Tôi cần gặp ông đại tá Mỹ của anh rồi tôi sẽ viết. Anh nên nhớ rằng tôi đã được Cao Ủy Liên Hiệp Quốc bảo vệ.
– Chúng ta thân ái mà.
– Dĩ nhiên.
– Anh có quyền từ chối viết.
– Tôi không từ chối.
Tự nhiên, ông đại tá Mỹ rời văn phòng ra gặp tôi. Tôi được mời uống cà-phê, hút thuốc lá. Thay vì viết tôi kể cho ông ta nghe sinh hoạt Chí Hòa và những khổ cực mà tù nhân phải chịu đựng. Ông ta cám ơn tôi. Thấy ông ta tử tế tôi phàn nàn thái độ “thẩm vấn” thuyền nhân vừa ghé đảo của SB. Tôi nói thuyền nhân không phải là tù nhân. Tình báo Mã Lai có quyền thẩm vấn chứ tình báo Mỹ thì không. Thuyền nhân cung cấp tin cho tình báo, thuyền nhân là ân nhân của tình báo. Người ta nên kính trọng ân nhân. Ngay đó ông đại tá Mỹ giáo dục bọn SB. xà-lỏn, đầm hái nho bằng bài học tiếng Việt. SB. thân thiện với tôi. Mấy hôm sau, ông Tùng ân cần đạt lời mời của ông đại tá tình báo Úc xin gặp tôi. Tôi có dịp trình bày nhà tù, trại tập trung ở quê hương tôi với người ngoại quốc. SB. hết đọc thông báo. Cần gì, họ cho nhân viên lại nhà mời tôi. Tôi chịu ơn ông nhà báo. Ông ấy dạy tôi cách đối xử với lũ tôi đòi. Đời sống của tôi bình thường, như mọi thuyền nhân trên đảo. Khối Nhân-lực đã xóa tên tôi vì tôi phục vụ Khối Xã-hội. Kiều Nhị và tôi có những buổi chiều thơ mộng ở bãi biển và trên đồi Tôn Giáo.
Tin tức của thanh niên Quang khá chính xác. Phái đoàn Mỹ và Úc vừa rời đảo thì phái đoàn Canada vô. Quang có tên trong danh sách mười thuyền nhân đặc biệt. Anh ta vừa mừng vừa lo. Theo anh ta nếu phái đoàn không còn thì giờ, danh sách mười người bị hủy bỏ và lập lại ở kỳ tới. Quang bám sát ông nhà báo và luôn miệng cầu trời. Trời đã đoái thương Quang. Ông Cao-ủy Nhọ dẫn Quang lên gặp phái đoàn. Ở bàn trà, ông nhà báo và tôi hồi hộp chờ đợi kết quả. Nửa tiếng sau, Quang hớt hơ hớt hãi chạy về, mặt mày tái mét, tay cầm mấy tờ đơn. Anh ta ôm chặt lấy ông nhà báo, run rẩy:
– Bố ơi, trúng tủ.
Ông nhà báo gỡ Quang ra:
– Lên thiên đường rồi hả ?
– Rồi. Canada phát đơn là nhận. Con mừng hơn ba con chết sống dậy. Cám ơn bố. Bố sống con tết, bố chết con giỗ. Nó hỏi có hai câu là ô kê.
– Kể tao nghe.
– Vừa ngồi xuống ghế nó nhìn con mỉm cười: “Tại sao mày thích Canada”, con chi câu ngắn của bố. Nó gật đầu hỏi tiếp: “Mày thích con vật gì” rồi “mày ghét con vật gì”, khỏi giải thích mèo vồ chuôt. Nó bèn phát đơn.
Thanh niên Quang đã biểu lộ hết niềm vui. Tôi nghĩ, một người công chính lên gặp Chúa cũng không thể vui hơn thuyền nhân Quang. Anh chạy khoe cùng khắp và phổ biến kinh nghiệm phỏng vấn. Tận mắt tôi, tôi thấy hạnh phúc của một thuyền nhân bốn năm điêu đứng ở quán trọ trước cổng thiên đường . Ôi, thứ hạnh phúc ngao ngán !
Ông nhà báo hỏi tôi :
– Cậu có một suy nghĩ gì không ?
Tôi nói:
– Không, bác ạ !
Ông nhà báo mỉm cười :
– Tôi hiểu ý cậu. Đừng chú ý chi khác, chỉ chú ý niềm vui của thằng Quang vừa có. Tôi ngắm khuôn mặt rạng rỡ của nó bỗng thèm một ngày nhìn hàng triệu khuôn mặt rạng rỡ của dân tộc Việt quê nhà. Một ông hay một bà Canada ban phát nổi cho một dân Việt niềm vui nhưng, tự ba mươi năm nay, những đại lãnh tụ Việt Nam không ban nổi cho dân mình một niềm vui tương tự. Buồn thật, cậu nhỉ ?
Tôi im lặng. Kiều Nhị dẹp bàn dọn cơm. Trưa nay để chia vui với thanh niên Quang, TMS, loan báo phát thư. Đài Phát Thanh đọc theo mẫu tự. Thư bảo đảm đọc trước . Đọc xong là danh sách được dán trước Khối Thông-tin. Thuyền nhân lần lượt kéo tới dò tên mình. Kiều Nhị có thư bảo đảm. Thư bảo đảm thường kèm theo tiền. Thoạt đầu, TMS tin tưởng người mình khoán hết việc phân phối thư. Có anh thuyền nhân ghẻ lở, ăn cắp thư đem về xé ra tìm tiền. Hàng trăm bức thư bị thủ tiêu. TMS phát giác chuyện tồi tệ này và không tin dân Việt nữa. Thư bảo đảm do chính nhân viên TMS phát. Thư thường thì người mình phát nhưng phải ký tên vào hai bản danh sách. Thể lệ phát thơ cũng rắc rối thêm. Ai có thư, người ấy nộp thẻ tị nạn rồi xếp hàng chờ gọi vào lãnh. Thư ở đảo là niềm vui lớn sau niềm vui rời đảo. Từ hai năm rồi, MRCS không còn nhận đánh điện tín cho thuyền nhân, dù thuyền nhân vừa ghé đảo. Họ chỉ cho thuyền nhân mỗi một cái airogramme. Muốn viết thư, họ bán tem. Và bán tem thật giới hạn.
Kiều Nhị thấy đọc tên mình, mừng rỡ:
– Em hy vọng có tiền đấy.
Tôi đùa:
– Có tiền làm gì ?
Nàng nguýt tôi:
– Làm khói cho anh.
Cơm nước xong, tôi dẫn Kiều Nhị đi nộp thẻ tị nạn. Hai giờ TMS mở cửa mà một giờ thuyền nhân đã bu kín Bưu Điện đảo, sát trụ sở tình báo SB. và đồn Cảnh sát chuyện trò huyên náo. Cảnh sát Mã Lai có dịp vụt roi tới tấp vào những người không chịu xếp hàng. Nhờ thơ bao đảm phát trước, chúng tôi đỡ chờ lâu. Bước nhanh về nhà, Kiều Nhị hí hửng bóc thư. Nàng lôi miếng giấy than kẹp giữa lá thư gấp đôi. Rồi nàng mở miếng giấy than ra. Hai trăm đô-la trong đó, hai ông Washington lớn.
Tôi khen:
– Anh em khá thông minh.
Nàng nói:
– Kinh nghiệm thuyền nhân. Em viết thư dặn kỹ anh ấy. Bảo gửi một trăm, anh em gửi hai trăm.
Kiều Nhị đọc thơ. Rồi nàng khóc rấm rức. Tôi hỏi
– Chuyện buồn à ?
Nàng lắc đầu:
– Anh muốn đọc không ?
Nàng đưa thư Mỹ cho tôi. Đoc xong , tôi gấp thư trả nàng.
– Chúng ta sẽ bàn tính sau về hai bức thư của anh em.
Tôi lên Khối Xã-hội. Tôi biết, Kiều Nhị sẽ leo lên gác nằm đọc lại thư Mỹ và khóc. Nàng đang ở trong tình huống rắc rối. Kiều Nhị , chắc chắn, đã không dám kể cho anh nàng nghe thảm cảnh mà nàng đã phải chịu đựng giữa biển khơi. Nàng sợ anh nàng không muốn vây lây một vết ô nhục. Thời đại của chúng ta là thời đại thiếu cảm thông, đồng thời, là thời đại của con người nhân danh nỗi khổ của người khác để vừa đánh bóng lòng trắc ẩn của mình vừa mưu sinh dễ dãi. Khi nỗi khổ của một người không làm vừa lòng người khác thì nỗi khổ ấy bị chà đạp bằng chân của ác thú, bị rỉa rói bằng mỏ của kên kên, bị phán xét bằng tim của chó sói. Tôi vừa đọc một bài báo của ông thi sĩ Sàigòn công kích ông văn sĩ Sàigòn trên tạp chí xuất bản ở nước Mỹ. Ông thi sĩ lôi chuyện vợ con ông văn sĩ bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp cả tháng ròng rã ở một hòn đảo hoang vu mà làm nền tảng cho tư tưởng của ông ta trong bút chiến thô bỉ!
Cuộc đời chia hai phe theo rõi. Nỗi khổ cũng mang ý thức hệ ! Người đàn bà, người con gái đi tìm tự do, bị hải tặc bắt đem đi nhốt môt nơi, hãm hiếp hàng ngày, đâu phải là dấu tích ô nhục cá nhân. Nó đã hằn lên cả nỗí đau của dân tộc, lên lương tri của nhân loại. Bổn phận của thi sĩ là gì ? Thi sĩ thường tự hào là những tiên tri gửi thông điệp tình tự, cảm thông cho con người sống trên trái đất. Nhưng ông thi sĩ kia thì lại rêu rao nỗi khổ của con người theo cung cách của loài cú báo tin chết chóc. Và ông vẫn được bầu làm thi sĩ trong năm! Tội nghiệp thơ và thi sĩ. Khi nỗi khổ của một người đem lại môt lợi nhuận, một tiếng thơm cho người khác mà lợi nhuận đó không bị chia đôi với người ôm nỗi khổ thì nỗi khổ được quảng cáo như món hàng hiếm có. Bấy giờ, sẽ xảy ra cuộc tranh giành độc quyền đấu thầu nỗi khổ.
Kiều Nhi sợ anh nàng cũng đúng thôi. Trong thư anh nàng mong nàng vào nước Mỹ càng sớm càng tốt vì bạn của anh nàng đợi Kiều Nhị qua là cưới nàng. Kiều Nhị đã sẵn sàng có một người lý tưởng ở xã hội Mỹ làm chồng. Chàng vừa tốt nghiệp kỹ sư điện tử sau mấy năm học lại. Chàng đã quen biết nàng từ Sàigòn. Nếu Kiều Nhị không gặp tai nạn hoặc nếu Kiều Nhị can đảm khinh thường tai nạn, tương lai của nàng chờ nàng bên Mỹ. Nhưng Kiều Nhị yếu đuối. Con chim bồ câu trắng của tôi bị ám ảnh một vết đen nhỏ trên cánh muốt. Nó sợ hãi. Nó chẳng còn dám tin lòng cao cả của đời sống. Kiều Nhị sẽ tự tử nếu nàng bị mang bầu với tên hải tặc. Tôi gần gũi nàng, an ủi nàng không phải vì tôi cao thượng. Tự nhận mình rất tầm thường, đôi khi hèn mọn. Nhưng cũng là thuyền nhân, tôi thấy cần giúp một thuyền nhân xấu số giải quyết một vấn đề ở một giai đọan nào đó. Tôi chỉ muốn làm môt người cần thiết cho Kiều Nhị khoảng thời gian nàng cần thiết tôi. Theo tôi, được trở thành cần thiết cho bất cứ ai một giai đọan nào đó, dù rất ngắn, là hạnh phúc. Người con gái bơ vơ trong trại tị nạn bị một người con trai tán tỉnh quyến rủ rồi bỏ đi định cư nước khác là chuyện chẳng đáng ồn ào, kể cả người con gái ôm bầu nằm lai hoặc rời đảo trước tình nhân. Người con gái bị hải tặc hãm hiếp ôm bầu nằm đảo, ôm bầu sang Mỹ là chuyện khó bưng bít thị phi ở xã hội Việt Nam lưu vong. Tôi san sẻ hoạn nạn với Kiều Nhi, bởi thế. Nàng là người sắp chìm dưới biển khơi dư luận. Tôi là cái phao mong manh. Có lẽ, lần đầu tiên ôm tôi trên căn gác hẹp tồi tàn, cả nàng lẫn tôi đều chưa yêu nhau và chưa hiểu sẽ yêu nhau tha thiết như hôm nay. Nàng khám phá trong tôi điều gì, tôi không biết. Tôi yêu nàng vì từ những giọt nước mắt tủi nhục của nàng, tôi nhìn ra nỗi tủi nhục của tôi. Và tôi rung động.
Khi tôi trở về, Kiều Nhị và ba cô Hiên, Thi, Hân cũng từ nhà hàng Mã Lai trở về, mỗi cô ôm nặng một túi hàng hóa. Kiều Nhị đổi tiền và mua hàng. Ở căn nhà của tôi, mọi người đóng góp ăn chung. Hễ ai lãnh tiền người ấy lo mua “nhu yếu phẩm”. Nhu yếu phẩm của chúng tôi là rau tươi, cá tươi, trứng, đường, sửa, cà-phê, thuốc lá. Kiều Nhị mua bốn cây Rothmans. Nàng đưa cho tôi một cây:
– Anh cần thay đổi khói. Hút White Horse mãi khô cổ!
Ông nhà báo nhìn đống hàng hóa , lắc đầu :
– Con bé mua hết đồ trên đảo chăng ?
Chúng tôi có buổi cơm chiều vui vẻ. Cô Hân đã được phái đoàn Mỹ nhận đơn. Cô sắp rời đảo. Mọi người bàn tính một cái “farewell party” nhỏ tiễn cô sang trại Sungei Bisi. Rồi, như thường lệ, ông nhà báo, ông nhà buôn, ông công chức rủ nhau đi dạo bãi biển, cô Hân, cô Hiền, cô Thi đến nhà bạn tán gẫu. Kiều Nhị và tôi lên gác. Nàng hỏi tôi ngay :
– Anh nghĩ gì về bức thư của anh em ?
– Em tự giải quyết lấy đi.
– Em không biết giải quyết.
– Thì phân tách lợi hại và chọn lựa.
– Em yêu anh, em muốn lấy anh.
– Thế là đã chọn lựa đấy. Có điều, lấy anh, tương lai em nhấp nhô chứ không bằng phẳng như lấy ông kỷ sư điện tử đâu.
– Em yêu anh.. Đủ rồi chứ, anh? Đã chắc gì người ta dám nhìn sự thật và người ta thản nhiên với sự thật phũ phàng. Em xin anh môt ân huệ thôi, là cho em chờ đợi anh và đừng bao giờ nhắc nhở tới sự đổi thay khi chúng ta tạm xa cách. Em sang Mỹ, rời trại tạm cư kiếm việc làm, nhất định không đến California. Em có cô bạn ở Vermont hiu hắt, em sẽ lên đó cô quạnh chờ đợi anh. Và, ân huệ nữa, em muốn sớm có con với anh.
Kiều Nhị không cho tôi nói. Nàng gỡ điếu thuốc lá khỏi tay tôi dập tắt. Nàng ghé sát môi lên môi tôi. Chúng tôi hôn nhau, ôm nhau lăn lôn trên sàn gác gập ghềnh. Và mây mưa. ..
—>8