QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 1

❊ ❊ ❊

Bỗng nhiên, một điệu sáo lan toả trong cái tịch mịch khôn cùng của trưa miền nhiệt đới. Khởi sự, điệu sáo nhẹ nhàng, êm ái. Rồi nó buồn bã, réo rắt như muốn thôi thúc điều gì. Những người ở trong nhà tôi xôn xao, dáo dác. Thấy tôi ngạc nhiên, ông nhà báo giải thích:

– Nhạc hiệu của đài phát thanh nước Pulau Bidong đấy.

– Nhạc hiệu?

– Phải. Nhạc hiệu báo tin thuyền nhân ghé đảo. Lát nữa, thiên hạ sẽ ùa ra phía đồn cảnh sát.

– Để làm gì?

– Xem có thân nhân mình vượt biên không.

– Nhạc hiệu ý nghĩa quá.

Ông nhà báo mỉm cười. Nụ cười hóm hỉnh pha trộn nỗi cay đắng và niềm khinh khi. Tôi hỏi:

– Tại sao lại nước Pulau Bidong?

Ông nhà báo vỗ vai tôi, thân mật:

– Cậu vừa đến, chưa rõ sự tình đâu. Phải nằm mục đảo thì mới ngậm ngùi.

***

Tôi vừa đến. Đúng vậy. Tôi vừa đến đảo được hai ngày. Tầu của tôi mang số SS 1348 IA rời bãi đánh giữa khúc sông vắng Nhà Bè đêm 24 tháng 2 năm 198… Chủ nhân của chiếc tầu gỗ Hạnh Phúc nầy là ông Nguyễn văn Hân ở đường Lý Thái Tổ. Sau nhiều lần ra đi thất bại ê chề, mất hết vốn liếng, tù đầy khốn khổ tôi đã định sống mòn trong xã hội chủ nghĩa. Nhưng một vị thầy dòng tội nghiệp tôi, cho tôi hai lạng vàng và dẫn tôi giới thiệu với ông Hân. Thoạt đầu ông Hân từ chối vì ông ta chỉ tổ chức đưa riêng gia đình mình vượt biển, không bán vé , sợ mang tiếng và sợ lộ chuyện. Cuối cùng vì nể tình, ông Hân nhận tôi mà chẳng lấy đồng nào.

Một buổi sáng tinh mơ đầu tháng 2, chúng tôi tự động tới nhà thờ Bắc Hà dự lễ nhất rồi phân tán mỏng thành từng nhóm ba người, gọi xích-lô đưa về bến Chương Dương, địa điểm xuống tắc-xi tại đây. Ông Hân đã thuê nhiều nhà ém và thuê luôn cả công an khu vực bảo đảm an ninh. Nhà ém, nơi tôi ẩn náu chờ đêm tối tắc-xi rước, nằm sát bờ sông, chứa chấp mười hai mạng. Chúng tôi ngồi bó gối trên nền đất ẩm của căn phòng hẹp được che kín bằng tấm màn hôi hám. Tuyệt đối im lặng. Chúng tôi phải nín tiểu tiện, đại tiện và hắt xì hơi! Mỗi bận ổ khoá lách cách và cánh cửa nhà ém mở, tim chúng tôi tưởng nứt ra. Qua lỗ rách của tấm màn, tôi nhìn thấy tên công an khu vực đèo súng và tôi chợt nhớ tới nhà tù.

Nhà ém ghê sợ hơn nhà tù. Người ta sẽ sợ hãi tột độ khi đợi sự bất hạnh khủng khiếp đến. Nếu sự bất hạnh đến từ từ, người ta lây lất, vật vã trong khủng khiếp, có thể phát điên. Nếu sự bất hạnh đến nhanh, những phút lao động tâm thần trôi mau và người ta bình yên chấp nhận mọi oan nghiệt. Với tôi, nhà tù tự do gấp trăm lần nhà ém . Tôi nghĩ đã nằm mòn mỏi ở nhà tù, ở cachot của nhà tù thì cảm giác sợ hãi đã tê liệt. Tôi hoàn toàn sai. Nằm ở nhà ém , thần kinh tôi căng thẳng , mạch máu tôi muốn đông đặc. Một phút phản tỉnh của công an hay của chủ nhà là số phận tôi lại lênh đênh mịt mù. Chưa kể, hàng xóm của nhà ém đi báo công an phường, công an quận lập công và chia chác vàng bạc trấn lột từ những người vượt biên. Dẫu chủ nhà ém đã nhận khoản tiền xứng đáng, họ vẫn bắt chúng tôi trả từng ly nước lạnh, mẩu bánh mì, gói thuốc lá bằng giá cứa cổ. Hình tưởng những con người cấm khẩu trong bóng tối kinh hoàng ròng rã từ 5 giờ đến 24 giờ. Hình tưởng những tiếng động làm họ nhức nhối tâm não. Hình tưởng những giọng nói khiến họ héo hắt gan phổi. Hình tưởng và thấy mồ hôi lạnh của Alfred Hitcock chỉ là riễu cợt. Và thấy nghẹn ngào của tự do tìm kiếm. Tôi nằm nhà ém đúng 16 tiếng đồng hồ. Thời gian nhúc nhích y hệt con kiến nhỏ tha cái mồi lớn bò trong hoang vu. Lúc thời gian chạy vùn vụt là lúc màn đêm bao trùm thành phố. Chúng tôi náo nức, nhấp nhổm, hồi hộp. Nhiều khi con người không hiểu nổi mình , không dám tin mình nữa. Và rồi con người tự đặt cho mình những câu hỏi ngớ ngẩn để bực tức một mình. Vẫn là thuở chờ đợi, sao nó rét mướt, nó bất động sơ khởi và nó nóng ran vun vút kết cuộc.

Đã trải qua sự lo sợ bị bắt, bây giờ chúng tôi lo sợ tắc-xi không tới. Tôi hút chưa hết điếu thuốc này đã dập đi, mồi điếu khác. Chiếc xuồng nào xuôi, chiếc xuồng nào ngược? Máy đuôi tôm khua động dòng sông. Quá giờ hẹn. Tôi nghe từ bóng tối thứ âm hưởng kỳ quái của thời đại. Nếu nhìn rõ, tôi sẽ gặp những khuôn mặt méo xệch xót xa, những đôi mắt long lanh tủi nhục.

Đến tột đỉnh tuyệt vọng, tắc-xi ghé bờ. Cánh cửa trước nhà ém của tôi mở tung. Những người cùng chuyến nằm ở nhà ém lân cận đổ sang. Cửa sau đã rộng. Chúng tôi lần lượt xuống thuyền. Ông già. Bà cả. Con nít. Trẻ sơ sinh. Thanh niên . Thiếu nữ. Tất cả bị dồn ép vào cái hộp gỗ nổi phủ kín rơm rác. Tất cả bị cấm khẩu. Con nít, trẻ sơ sinh bị bịt miệng. Tắc-xi chạy ra sông lớn, qua các trạm kiểm soát. Tôi ngỡ chúng tôi phiêu du địa ngục. Hai giờ đánh đu với định mệnh, tắc-xi dẫn chúng tôi đến bãi đánh. Muộn rồi, cá lớn biến hút tìm chỗ núp. Chúng tôi đành trở về. Lòng đã tan nát. Đường về gian nan hơn đường đi. Gần sáng, nước sông nhỏ rút thật nhanh. Tắc-xi khó chạy mau vì chân vịt đụng bùn. Con nít khóc ré. Người lớn chẳng nỡ bịt miệng trẻ thơ nữa. Cụ già mặc sức ho. Không ai phản đối. Tắc-xi dạt vô bờ và kẹt luôn. Chúng tôi “đổ bộ” tìm lối thoát thân. May mắn, tôi tạt vào một quán cà-phê sớm. Chủ quán biết tôi vượt biên thất bại. Ông ta hứa thuê xe Lam đưa tôi sang Sàigòn sau khi đã lột của tôi một cái đồng hồ và hai trăm đồng . Tôi ngồi co ro trong bếp. Thấy ông ta thầm thì với hai đứa con trai. Rồi đứa con trai bỏ đi. Tôi ngờ vực giả vờ ra ngoài và tôi nhắm phía có ánh đèn bước tới. Tôi mừng rỡ biết mình ở quận 8. Hàng quán khu này đã tấp nập. Tôi leo lên xích-lô, bảo người công nhân đạp nhanh. Suýt nữa tôi kẹt lại hắc điếm!

Đó là lần thứ nhất của tôi với tàu SS 1348 IA. Ông Hân và gia đình bình yên vô sự. Lần thứ hai, tôi nằm nhà ém bên xóm Củi. Cảm giác sợ hãi có phần tăng thêm. Nửa đêm nhận tìn “thời tiết xấu”, tôi phải chờ hết giới nghiêm mới dám mò về Sàigòn. Lần thứ ba, tôi xuống được tầu, và tôi tưởng đã chết ngộp dưới khoang. Ông Hân dự tính tầu của ông chứa 50 thuyền nhân thôi, ai ngờ thiên hạ canh me và công an bán vé thả giàn, chiếc tầu gỗ dài hơn 10 thước, rộng hơn 2 thước , đã chứa 154 người.! Đến khi chết, tôi vẫn không thể quên cảnh tượng thuyền nhân leo từ cá nhỏ lên cá lớn . Mạnh ai người ấy chen lấn, xô đẩy, dẫm đạp, dành chỗ đứng , chỗ ngồi. Lòng trắc ẩn không còn mảy may. Người ta khao khát tự do đến nỗi người ta biến thành độc ác lú lấp lương tri. Ngót nửa tiếng hỗn loạn, la hét, khóc than, kêu cứu dưới khoang, con tầu chạy. Nó chạy một lúc, nhờ gió sông lùa xuống, thuyền nhân tỉnh dần và sự hỗn loạn chấm dứt. Một thân một mình, tôi dễ xoay sở. Lách mãi, lách mãi, tôi leo lên “boong”. Gió thổi mạnh. Tôi hít đầy không khí rồi nhìn lại Sàigòn. Vùng ánh sáng điện phía xa. Sàigòn ở đó.

Bốn giờ, tầu ra cửa biển. Tài công chưa quen miền nầy. Ông ta đi biển hai mươi năm nhưng chỉ hoạt động ở Phước Tỉnh. Và ông ta đã lái tầu vào Cồn Ngựa, cái cồn oan nghiệt, tuần lễ trước , một tầu vượt biên mắc kẹt, gặp công an biên phòng, thuyền nhân nhẩy xuống biển đào tẩu bị chết đuối, và bị bắn sáu chục người. Tầu SS 1348 IA cũng mắc kẹt ở Cồn Ngựa. Loay hoay hàng chục phút, con tầu cứ đứng im. Đằng sau nó, Vũng Tầu rõ mồn một. Hải đăng tai ác quét ánh sáng soi mói khiến những trái tim nhức nhối. Anh Phước, con rể ông Hân, người lãnh đạo con tầu yêu cầu thanh niên nam nữ xuống đẩy tầu. Anh ta năn nỉ muốn khô cả cổ. Tất cả im lặng. Nổi giận, anh Phước và nhóm người của anh dùng biện pháp mạnh, mọi người đành tuân lệnh răm rắp. Một trăm thuyền nhân vận dụng hết sức của mình đẩy tầu song con tầu đã lún sâu dưới cát. Bẩy giờ, nước biển mới lên cao. Và, bẩy giờ có thể, công an biên phòng đã xuất hiện. Chúng tôi đẩy tầu trong tuyệt vọng. Trời vỡ sáng. Ngâm nước lâu lạnh cóng vô tích sự, chúng tôi leo lên. Tôi nhìn cái cồn trước mặt, nước ròng khiến tôi hoảng hốt. Thỉnh thoảng, một chiếc thuyền đánh cá về, ngang qua chỗ con tầu mắc cạn, thuyền nhân vẫy tay cầu cứu. Chiếc thuyền đánh cá nhỏ bé, liệu khó bề giúp đỡ lại sợ vạ lây, chạy thẳng phía Vũng Tầu. Chúng tôi ngại bị phát giác. Quá sáu giờ, nước dâng chừng hai gang tay. Chúng tôi chờ sa lưới công an biên phòng.

Bất ngờ, một chiếc xuồng đuôi tôm với hai chú bé rẽ vô chỗ tầu mắc cạn. Hai chú bé chỉ chúng tôi đường lối tránh công an. Thử thời vận, Hân nhờ hai chú kéo tầu. Hai chú bé vui vẻ buộc giây và làm công việc mà chính hai chú biết rằng sẽ chẳng đi tới đâu. Con tầu nổ máy. Nó nhúc nhích rồi nó lết khỏi vùng cát quái ác. Phép lạ! Phải, đúng là phép lạ khó giải thích. Tôi đã chứng kiến và được hưởng phép lạ nầy. Thuyền nhân reo vui. Con tầu ra xa, ra xa…Hai chú bé chạy theo. Ông Hân hỏi hai chú muốn đi thì ông sẵn sàng cho đi và nhận nuôi dưỡng chu đáo. Hai chú bé từ chối. Chúng tôi móc hết tiền phòng thân tặng hai chú, hai chú không lấy, chỉ xin mấy “can” nhựa đựng dầu đã rỗng tuếch. Vì ông Hân nói tiền Việt Nam mang sang nước ngoài không tiêu xài được nên hai chú bé mới nhận tiền. Hai chú bé “áp tải” chúng tôi khoảng mười lăm phút thì trở lại sau khi chúc chúng tôi thành công. Tôi ngây người ngắm chiếc xuồng đuôi tôm của hai chú bé Việt Nam cao thượng. Tình nghĩa rực rỡ ấy, không bao giờ tôi còn tìm thấy. Mỗi lần, nhớ quê hương, tôi nhớ hai chú bé thuyền chài trước nhất. Tôi nghĩ, đó là cái gì đã làm tôi mơ ước hồi hương. Dường như, sẽ chẳng có hai tâm hồn Việt Nam đó trên bước đường lưu vong tội nghiệp của tôi.

Mặc dù, tầu đã rời miền chết chóc nhưng bình minh ló dạng. Con tầu chạy trên đường tử thần rình rập. Nỗi sợ hãi vừa qua, nỗi sợ hãi khác đã đến. Chúng tôi phải xuống hết dưới khoang, chèn ép như cá mòi trong hộp mặc kệ số phận nổi trôi theo con tầu. Con tầu vượt biên của thuyền nhân Việt Nam cuối thế kỷ thứ hai mươi lết trên mặt nước y hệt con bò già kéo cái xe rác nặng nhích bánh trên mặt đường. Buổi chiều ngày 25 tháng 2, ông Hân cho phép mọi người được thay phiên nhau lên “boong” và sung sướng đặt tên tầu SS 1348 IA là Hạnh Phúc. Chúng tôi đã ngoài tầm móng vuốt của hải quân cộng sản, của công an biên phòng, của tầu đánh cá quốc doanh. Bây giờ chỉ còn lo bão táp, hải tặc, lạc hướng và cạn lương thực, nước uống, dầu nhớt. Mỗi ngày, chúng tôi được phát nước uống ba lần, mỗi lần mười phân khối. Nước để đỡ khô cổ hơn là đỡ khát. Sang ngày thứ ba, chẳng ai thiết ăn. Đàn bà, con gái nôn ói, mệt lả , người nọ dựa đầu vào vai người kia, đầu tóc rối tung, mặt mày nhợt nhạt. Con nít đòi sữa khóc oe oe. Đàn ông khát nước rã họng. Lúc đó là lúc con người gần gũi nhau, thương xót nhau và cho nhau những ý nghĩ tốt đẹp nhất.

Một đoạn sầu đạo của tôi đã qua và tôi mới chỉ hiểu chính xác định nghĩa của đói, của khổ. Tôi còn mơ hồ về khát . Trên tầu gỗ vượt biển đi tìm tự do, tôi cảm thấm ý nghĩa của khát và tôi biết ví từng hớp nước là từng hớp hạnh phúc của thuyền nhân. Nắng ngập đại dương. Nắng làm xanh nước biển. Nắng khiêu vũ với sóng. Nắng khiến rát mặt, khô cổ những con người nghìn năm một thuở phiêu lưu. Tôi ngó biển nước mênh mông để thèm một ngụm nước! Nếu được uống một ly đá lạnh, ngay giờ, là được uống trọn vẹn hạnh phúc. Tôi mơ tưởng đảo dừa hoang rồi tôi nghĩ đến những thuyền nhân bị hải tặc hãm hiếp đến chết vẫn thèm một ly nước đầy. Đêm 25, tầu Hạnh Phúc gặp một tầu buôn. Chúng tôi đốt lửa báo hiệu. Tầu buôn không trả lời. Con tầu thê lương cứ lênh đênh ở tâm điểm của đại dương. Mặt trời mọc bên trái. Mặt trời lặn bên phải. Bình minh hay hoàng hôn, ban ngày hay ban đêm, con tầu mãi mãi nằm giữa cái vòng tròn bát ngát. Trưa 27, chúng tôi phát hiện một chiếc tầu buôn khác neo phía xa. Hạ thêm cái máy đuôi tôm, tầu Hạnh Phúc tăng tốc độ rượt đuổi sự may mắn. Ba tiếng đồng hồ Hạnh Phúc lê được ba mươi cây số. Nó đến gần chiếc tầu Sanka Line. Hạnh Phúc là túp lều so với bin-đinh Sanka Line. Thủy thủ tầu Sanka Line đứng trên thiên đường ngó chúng tôi dưới địa ngục. Chúng tôi căng mảnh vải trắng viết ba chữ đỏ Water, Food, Oil. Tầu Sanka Line nhổ neo, chạy vun vút. Nó dừng lại và buông neo ở một nơi mà, muốn tới lạy van xin nước uống, tầu Hạnh Phúc phải bò thêm một trăm tám mươi phút. Tôi nhìn tầu Sanka Line. Tôi nhìn nó. Tôi nhìn chúng nó. Tôi nhớ hai mươi năm chiến tranh của chúng tôi. Chúng tôi đã chết chóc, đã mất mát cho hoà bình thủ lơị của chúng nó. Phải, chúng nó đã làm giàu trên xương máu của chúng tôi. Bây giờ, một ống sérum trả nợ hai lít máu, chúng nó ngoảnh mặt tàn nhẫn. Tôi nhìn chúng nó. Tôi nhớ những bài tập đọc về Tình yêu nhân loại trích từ những kiệt tác của các văn hào thế giới. Và tôi nghẹn ngào. Trái đất vĩ đại, trái đất có những con tầu vĩ đại nhưng trái đất bỗng nhỏ bé vì thiếu nhiều xuồng đuôi tôm và tâm hồn hai đứa bé Việt Nam tôi đã gặp ở Cồn Ngựa vùng biển quê hương tôi.

Thuyền trưởng bất đắc dĩ của tầu Hạnh Phúc định hướng ghé bờ bãi trên hải bàn và hải đồ rất lờ mờ. Qua bốn ngày đêm rồi, con tầu còn đứng im ở tâm điểm của vòng tròn nước và bán kính là vô tận. Chúng tôi khát nhưng chưa đến nỗi chết khát. Vì không ăn, sang ngày thứ năm, tôi mệt lả. Tôi nằm dài trên “boong” chờ anh em liệng xuống biển. Ông Hân thương hại cho tôi một ly trà tầu nhỏ. Nước trà tầu đặc dành riêng cho tài công uống mà tỉnh táo điều khiển con tầu. Anh em nâng tôi dậy. Vừa cầm ly trà, một bà mẹ đã vội chìa cái ca nhựa và chỉ đứa con bốn tuổi của bà ta đang lè lưỡi thèm uống. Tôi đành sớt vào cái ca lớn nửa ly trà nhỏ. Và tôi uống vội. Nửa ly trà nóng đã giúp tôi phục hồi sức lực. Tôi kinh ngạc. Hơn cả tiên dược, ly trà nóng giữa đại dương thuyền nhân kiệt quệ. Làm thế nào để hiểu nổi sự huyền bí trong ly trà nóng? Chắc chắn người ta phải làm thuyền nhân và phải có khoảnh khắc thèm uống nước hơn thèm tự do. Có hàng tỷ nỗi khổ và niềm vui ở trần gian. Mỗi nỗi khổ và mỗi niềm vui đều có định nghĩa riêng biệt. Và, mọi nỗi khổ đều nên được chia xẻ, mọi niềm vui đều nên được vỗ tay. Buồn thay, một số người lại thích dẫm lên cả nỗi khổ và niềm vui của thiên hạ.

Chiều mồng 1 tháng 3, anh Phước phát hiện bờ bãi trước mặt. Thuyền nhân quên khát, thay phiên nhau lên “boong” nhìn “đất hứa” một cách hoan hỉ. Những khuôn mặt cá ươn bỗng tươi rói. Ông Hân tăng phần nước cho mỗi người. Khi nắng tắt, chớp nháy liên miên một góc trời. Rồi gió nổi. Và mưa. Bóng tối phủ kín dại dương. Chúng tôi nhìn rõ đèn điện phía trong bờ. Con tầu nhắm hướng ánh sáng chạy vào. Sóng lớn dần, lớn dần. Tầu gối lên sóng nhấp nhô. Sóng gió toa rập cản con tầu. Con tầu nhích tứng chút, từng chút. Biển cũng chỉ là một thứ sinh vật bất bình thường. Mới buổi sáng, biển hiền như lụa, phẳng phiu như tờ giấy trắng, cá bơi cạnh tầu đua tốc độ với máy móc, đã buổi tối dở chứng đe doạ thuyền nhân. Mưa đã ngớt nhưng gió còn bạo. Mảnh trăng hiện ra soi rõ một giòng nước siết giữa biển khơi. Giòng nước siết không lớn hơn giòng sông mà con tầu khó lòng vượt qua. Tài công thúc thủ thả neo và tắt máy. Chúng tôi nín thở. Dưới khoang đàn bà , con gái đọc kinh cầu nguyện Phật, Chúa râm ran. Sóng biến con tầu thành cái see-saw, đầu nhô cao đuôi tụt thấp và ngược lại. Tôi ngồi trên nắp ca-bin ôm chặt ống khói. Ở đây có nhiều phao, nhỡ tầu đắm, tôi có thể bám phao mà hy vọng sống sót. Ánh sáng trong bờ mời gọi, khiêu khích. Tôi mường tượng cái ngưỡng cửa của thiên đường. Rồi tôi mệt mỏi, nhắm mắt, thiếp ngủ.

Tiếng reo làm tôi vụt thức, hai tay vẫn còn ôm chặt ống khói tầu. Sóng gió dứt từ lúc nào, trời hừng sáng từ lúc nào, tôi không hề biết. Động cơ nổ. Con tầu chạy. Nó không bị chôn vùi dưới biển đêm qua kể như nó hưởng thêm phép lạ mới. Mỏ neo kia nặng bao nhiêu cân? Sợi dây ấy dài bao nhiêu thước? Thế mà con tầu giã gạo đùa bỡn với sóng gió. Bây giờ nó trôi nhanh. Tôi đã thấy hàng dừa, bãi cát, lố nhố vài mái ngói và mấy chú bò tha thẩn. Chúng tôi thoát nạn. Chúng tôi sang thế giới tự do rồi. Hạnh Phúc, con tầu tuyệt diệu của ông Hân, đã đem hạnh phúc cho chúng tôi. Hạnh phúc nhất, chúng tôi không gặp hải tặc.

Một giờ sau, Hạnh Phúc cách bãi cát năm chục thước. Nó dừng lại chờ lệnh của lính biên phòng. Chúng tôi hồi hộp chờ cái vẫy tay ân huệ. Người lính vẫy tay. Con tầu lao thẳng và leo một nửa lên bãi cát. Thuyền nhân ào ào nhẩy xuống. Tôi đến chỗ phuy nước , múc uống no nê. Uống chán chê, tôi xối nước đầy đầu. Và tôi, kẻ nhẩy xuống đất tự do cuối cùng. Mã Lai, người lính biên phòng nói, miền cực Nam nước Mã Lai.

***

– Suy nghĩ gì mà đần mặt ra thế?

Tôi cười:

– Bác ạ, mới đến vài ngày, cháu đã ngậm ngùi rồi.

Ông nhà báo nhả khói thuốc:

– Ngậm ngùi xong thì …ứa gan, tím ruột. Chứ cậu đã ngậm ngùi cái nỗi gì?

Tôi đáp:

– Nỗi tị nạn, bác ạ!

Ông nhà báo không nói nữa. Tôi nâng lon trà cám, cố nhìn tận đáy để nhớ một chút ngậm ngùi.

—>2

(Lê Thy đánh máy)
Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »