QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 99 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 6

❊ ❊ ❊

-6-

Giới nghiêm trên đảo vào đúng 23 giờ 30. Đài Phát Thanh Pulau Bidong đọc thông báo của Khối an ninh kèm theo lời chúc thuyền nhân ngủ ngon. Sau thông báo mười phút, không ai được phép lang thang bên ngoài. Và, ở trong nhà, mọi người tuyệt đối im lặng. Nhân viên an ninh đi tuần. Cảnh sát Mã Lai cũng bất chợt đi kiểm soát sổ gia đình. Thừa một người hay thiếu một người đều rắc rối. Cảnh sát Mã Lai thường khoái tuần tra một mình ở khu A, khu B là hai khu “lương thiện” và gần đồn. Họ khoái rọi đèn pin vào những nhà có vợ chồng trẻ…Thỉnh thoảng, ngọn đèn rọi thật lâu, nếu họ thấy một pha làm tình ngoạn mục. Với thanh niên độc thân, ông đại úy cảnh sát Tann là hung thần. Đại uý Tann võ nghệ đầy mình. Ông mà tát mạnh thì gẫy răng, đấm nhẹ thì mang thương tích ba tháng. Đại úy Tann đã từng đánh một thuyền nhân dập lá lách vì thuyền nhân nầy dám công khai câu cá. Chuyện lọt vào tai ông trung tá tình báo Mỹ ghé thăm SB. Ông trung tá Mỹ nổi giận kiếm ông đại úy Mã Lai mà sỉ nhục. Thông ngôn ở đồn loan tin ra. Rằng, ông Mỹ chỉ mặt ông Mã:”Khi chúng mày bị cộng sản thôn tính, đừng hòng chúng tao cứu giúp. Nước Mỹ không chứa những tên man rợ.”

Nhờ đại úy Tann đánh ngắc ngoải, thuyền nhân đó được trung tá Mỹ can thiệp rời đảo và sang Mỹ gấp để chữa bệnh. Cái rủi thường dẫn cái may đến. Thuyền nhân nọ đã bị Mỹ xù, Úc xù và Canada xù tơi tả. Nhiều người thèm được đại úy Tann đánh thừa sống thiếu chết, với điều kiện có trung tá phúc đức Mỹ nằm tại đảo!

Đại úy Tann bị Mỹ át giọng, bị giới răn Hồi giáo ám ảnh, bớt hung hăng. Thì có cảnh sát viên Mohamed thay chỗ. Lâu lâu, Mohamed mới từ Trengganu vào. Hễ nó vào là báo động toàn đảo. Thuyền nhân coi nó như quái vật.

Nhưng Mohamed hay Cảnh sát hay Task Force chỉ dám tung hoành ở khu A, khu B. Nó không dám bén mảng lên khu F ban ngày, ban đêm. Khu F nhiều hảo hán thuyền nhân. Cảnh sát Mã từng ôm đầu máu về đồn vì tội tán gái Việt Nam trơ trẽn. Cao Ủy Liên Hiệp Quốc không ban cho Cảnh sát Mã Lai và Task Force cái quyền bắt thuyền nhân làm nô lệ. Có lẽ, vua Mã Lai, chính phủ Mã Lai và Quốc hội Mã Lai cũng không khuyến khích họ đạp lên nỗi đau khổ của dân tị nạn. Vậy mà Cảnh sát Mã Lai, Task Force đã đi những bước chân thô bạo trên hiến chương nhân quyền. Cần công nhân phục vụ họ, họ soi mói lỗi lầm của thuyền nhân, bắt thuyền nhân đánh đập, cạo trọc đầu và tuyên án ba tháng khổ sai lao đông. Mỗi cây dừa trên đảo hoang trị giá 2500 đô-la. Nếu bị thuyền nhân chặt gẫy , Cao Ủy Liên Hiệp Quốc phải đền Mã Lai. Nếu thuyền nhân leo dừa bị ngã chết, Mã Lai phải đền cho Cao Ủy Liên Hiệp Quốc 7500 đô-la. Giá trị con người Việt Nam bằng hai cây dừa rưỡi! Không có giao ước thuyền nhân bị Mã Lai ra lệnh trèo lên hái dừa cho Mã Lai giải khát, nếu ngã chết, Mã Lai bồi thường bao nhiêu. Chỉ biết hái trộm dừa, Mã Lai bắt được là ốm đòn trước khi thành nô lệ ba tháng.

Đêm qua tôi ngủ mê mệt chẳng hay chuyện gì đã xảy ra. Buổi sáng, đang ngồi uống trà như thường lệ thì thấy thanh niên Học từ phía đồn cảnh sát thất thểu bước về. Học ở cách nhà tôi năm sáu căn. Anh ta đến thẳng bàn trà. Nhìn anh đầu tóc bơ phờ, mặt mày thâm tím, ông nhà báo đã hiểu chuyện.

– Tai họa rồi hả?

– Vâng.

– Tội gì?

– Thức khuya học Anh ngữ , bác ạ! Nếu thằng thông ngôn tử tế, nó nói giùm cháu vài câu thì cháu đỡ bị đánh.

– Nó tử tế, ai cho nó nước đá để mỗi trưa nó vênh váo mang cục nước đá qua đây? Chung qui tại cậu gặp ngày hạn tháng xui thôi. Nô lệ cũ hết hạn thì nó ắt nô lệ mới. Uống ly trà nhé!

– Cháu sắp bị gọi lên nữa.

Thanh niên Học chào chúng tôi. Ông nhà báo nói:

– Bọn Cao Ủy rởm ở đây toa rập với Cảnh sát và Task Force. Còn lũ quân phiệt bù nhìn thì giả vờ mù và điếc.

Ông công chức nói:

– Không giả mù và điếc thì làm nổi cái gì? Ông không nhớ vụ Cảnh sát nó bắt cả Khối An-ninh tức là Bộ Nội-vụ lưu vong xếp hàng chào cờ rồi hít đất à? Thứ trưởng nội vụ còn ăn bợp tai nữa là nhân dân. Sẽ có hôm nó tát xiếc Tổng thống Bidong nữa.

Ông nhà buôn nói:

– Đau nhất là ông thi sĩ Khối phó Thông-tin soạn vở kịch “Theo gót Trưng Vương”, tập tành đã đời sắp diễn giúp vui thì bị thuyền nhân Việt gốc Hoa tố cáo với Cao-ủy Tan, Cao-ủy Long rằng ông Khối phó âm mưu chống Tầu khiến ông Khối phó xanh mặt giải thích lịch sử Việt Nam với Cảnh sát Mã Lai. May mà vở kịch chưa diễn chứ không ông thi sĩ yêu nước đã ăn no đòn, đã bị cạo trọc đầu và làm nô lệ. Lịch sử Việt Nam cũng có tội ở cái đảo man di mọi rợ nầy.

Thanh niên Bốn, đảo viên kỳ cựu, ngồi chầu rìa bèn góp chuyện:

– Thưa quý bác, hẳn quý bác chưa thèm lên văn phòng trại. Vậy cháu xin kể. Trưởng trại cho hoạ sĩ của Khối Thông-tin vẽ cờ vàng ba sọc đỏ gần kín bức tường rồi vẽ bản đồ Việt Nam trên cờ. Thằng đại tá Task Force với đám tùy tùng của nó viếng văn phòng trại. Nó cầm ba-toong đập mạnh vào tổ quốc ta và giận dữ:”Đây là nước Mã Lai, các anh không có nước Việt Nam nữa. Tôi bắt anh vẽ cờ Mã Lai, treo hình quốc vương và hoàng hậu. Cờ và bản đồ nước anh vẽ nhỏ một chút thôi”. Trưởng trại khúm núm “yes yes Sir” rối rít.

Ông nhà báo chửi thề:

– Mẹc, đấu tranh vẽ cờ đếch dám mà nay mai qua Mỹ sẽ hò hét kháng chiến giải phóng quê hương đấy. Ở trại cải tạo thì sợ Cộng sản , sang trại tị nạn thì sợ Mã Lai. Chỉ giỏi ban huấn thị cho thuyền nhân và bắt nạt đồng bào. Thân mình nhớp nhúa nhưng vẫn chụp mũ bôi bẩn anh em. Cái tinh thần nầy ra đi tôi thấy ngày về mù mịt.

Thanh niên Bốn tiếp nối:

– Tháng trước, ông Khối trưởng Xã-hội rời đảo mặc những bẩy cái áo thung mới toanh. Thấy ông mập quá, Cao Ủy sinh nghi khám xét. Ông Khối trưởng, vị đại úy của chúng ta, bị lột áo trả lại. Cứ có quyền hành là tham nhũng. Ăn cắp cả của đồng bào chung cảnh ngộ. Hì hì, đại úy sợ bị giữ lại điều tra, chắp tay lạy Cao Ủy như cốc.

Cuộctrà đàm tạm ngưng. Đài Phát-thanh đọc thông báo của đồn Cảnh sát Mã Lai yêu cầu “đồng bào Học lên trình diện, không chấp nhận mọi sự chậm trễ và vắng mặt”. Anh Học vội vàng ra đi. Lát sau anh trở về. Mái tóc anh bị cắt xén nham nhở. Anh phải đến tiệm hớt tóc tư nhân thuê đẩy những đường toong-đơ láng coóng. Anh Học lãnh ba tháng khổ sai lao động. Cao Ủy giáo dục khuyên thuyền nhân chăm chỉ học Anh ngữ trong thời gian chờ đợi định cư. Anh Học nghe lời Cao Ủy. Và anh thọ nhục!

Mỗi ngày tôi được nghe được thấy những chuyện đau lòng. Nhưng chuyện đau lòng nhất không phải do Mã Lai gây ra mà do chính thuyền nhân gây ra làm mất mặt xứ sở, giống nòi.

Đó là chuyện một số thiếu nữ thèm ăn diện, son phấn đã đánh đĩ với Cảnh sát và Task Force. Đó là một số bà thèm tiền đã cặp bồ với chức sắc Task Force để mở quán giải khát. Đó là chuyện một số cô thèm ân huệ đặc biệt đã gắn bó với các Cao Ủy rởm. Còn chuyện lũ chó săn SB. thì miễn kể. Lũ ti tiện này, ở bất cứ thời gian không gian nào, chúng ta đều gặp chúng cạp xương gặm thịt hôi thối.

Xong cữ trà, tôi đi xem phái đoàn Mỹ, phái đoàn Úc mở hồ sơ. Trước cái “long house” là nơi phái đoàn làm việc, người ta dựng một cái chái cho thuyền nhân tránh mưa nắng ngồi chờ được gọi vào phỏng vấn. Phái đoàn Mỹ, phái đoàn Úc nghe có vẻ ghê gớm lắm. Thực ra, họ chỉ nhân viên ăn lương khoán của Sở Di Trú Mỹ, Úc như Cao Ủy rởm ăn lương khoán của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc vậy. Bất cứ lúc nào họ cũng có thể thất nghiệp. Và trong họ, nếu có người là nhân viên tuyển lựa ở Mã Lai, ở Tân Gia Ba, họ sẽ thèm thuồng vị thế thuyền nhân. Bởi vì ao ước thành công dân Mỹ cách mấy, kiếp sau họ mới có lý do định cư ở Mỹ. Ông nhà báo đã nói với tôi rằng bọn Cảnh sát Mã Lai , bọn Tash Force và bọn Cao Ủy rởm thù hận, ghét bỏ thuyền nhân vì chúng ghen tị với thuyền nhân. Vài năm sau, thuyền nhân trở thành công dân Mỹ, công dân Pháp, công dân Úc…Còn chúng nó muốn thành công dân Mỹ, chúng nó phải cầu khẩn ơn trên cho Cộng sản thôn tính tổ quốc chúng nó! Thực chất của phái đoàn phỏng vấn ở Pulau Bidong là vậy. Tuy nhiên, phái đoàn vẫn tỏ ra đầy quyền uy ban phát định cư. Hạnh phúc định cư thiên đường Mỹ chưa phải ở đây. Nó phải bò lên tận bàn thứ 6 ở Sugei Bisi cơ. Và chỉ ở bàn 6 thuyền nhân mới gặp chức sắc của Sở Di-trú. Và đó là thánh Pierre…chính phẩm! Thánh Pierre Bernard quần sọọc Tầu lai, dẫu cầm đầu phái đoàn, vẫn cứ giả mạo. Thiên đường Úc và Canada dễ hơn, đã “accept” ở Pulau Bidong là không hề “reject” ở Sungei BisiThiên đường Âu châu miễn phỏng vấn vì Âu châu văn minh hơn Mỹ châu, Úc châu, vì Âu châu gần kề nỗi khổ hơn Mỹ châu và Úc châu.

Thuyền nhân các tầu được gọi tới lo lắng hầu chư thánh. Mặt mày người nào cũng xanh mét dù biết chắc mình đủ tiêu chuẩn vào Mỹ. Tôi đến sát cửa ngó vào phía trong. Các cô cậu thông ngôn mà đa số Anh ngữ ăn đong ngồi cạnh phái đoàn chờ phiên dịch vài câu thông thường đến thuộc lòng. Hai cậu thuộc Khối Hành-chánh thông dịch đóng vai tùy phái cầm hồ sơ gọi thuyền nhân, cũng tưởng mình quan trọng ngang phái đoàn. Người ta bon chen vào Khối Hành-chánh thông dịch là để gần gũi các phái đoàn, để được hân hạnh phái đoàn sai vặt, hy vọng nhờ vả, xin xỏ. Bởi thế, thông ngôn còn kiêm xách cạc-táp, và, đôi khi, giặt quần áo cho phái đoàn. Phỏng vấn sơ khởi, phái đoàn Mỹ xem “blue card” mà thuyền nhân đã tuyên thệ với Cao Ủy rồi hỏi thân nhân đã định cư bên Mỹ liên hệ ruột thịt ra sao. Và phát đơn. Cầm đơn bước ra, mặt mày thuyền nhân tươi rói, sướng hơn cả lênh đênh biển khơi thấy đất liền. Tôi đi theo những thuyền nhân cầm đơn sang văn phòng điền mẫu đơn của các quan chức xà lỏn. Đồng bào lại phải lạy lục đồng bào! Thỉnh thoảng xẩy ra to tiếng nếu thuyền nhân biết chút tiếng Anh phản đối quan quan chức xà-lỏn dịch thủy thủ thành đánh cá, hoạ sĩ thành thợ sơn… Điền đơn xong xuôi, thuyền nhân về nhà đợi phái đoàn gọi lên phỏng vấn bàn 1. Khi lên bàn 1, hễ không bị trả lại đơn, kể như phái đoàn đã chấp nhận. Hiếm hoi trường hợp trả lại đơn, trừ phi thánh Pierre Bernard híp mắt phát đơn cho một cô gái đẹp rồi lờ đi không thèm gọi. Thuyền nhân được chấp nhận đơn thì muộn nhất là ba tuần có danh sách rời đảo. Và có quyền hân hoan chuẩn bị tiệc ly.

Pulau Bidong trở thành một xã hội nhỏ sinh động từ hồi nào, tôi không biết. Tôi đến, đảo đã mọc vài tiệm hớt tóc, cắt may, thuốc lá, trái cây, giải khát, cà-phê nhạc cassette. Đặc biệt là mua bán vàng, kim cương, đô-la. Nhà hàng Mã Lai, đối diện đồn Cảnh-sát, cung cấp hàng hoá cho các cửa tiệm thuyền nhân. Nhà hàng Mã Lai mua luôn cả nhẫn vàng, hột xoàn, đô-la mà thuyền nhân may mắn không gặp hải tặc. Thuyền nhân được viết thư gửi về Việt Nam và ra ngoại quốc. Thuyền nhân được nhận tiền của thân nhân gửi tới. Do đó, Pulau Bidong có miếng chợ bán cá, bán rau. Thuyền nhân đánh cá dưới sự “bảo trợ” của Cảnh-sát hay Task Force. Thuyền nhân không có thân nhân ngoại quốc, kiếm tiền bằng trồng rau. Cao Ủy cho hạt giống và phân bón. Rau đắt hơn thịt. Ở đảo, nhà giàu ăn rau, nhà nghèo ăn thịt hộp.

Có tiền, thuyền nhân sắm mùng và mua đèn cầy thắp đọc sách ban đêm. Nam nữ thanh nhiên mời nhau đi uống cà-phê, nghe nhạc bãi biển khu C. Rồi picnic khu G tắm suối, dẫn nhau lên núi tình tự. Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đã làm hết phận sự của mình. Bệnh viện, thư viện, các lớp học Anh ngữ, Pháp ngữ, Việt ngữ, các đội bóng tròn, bóng chuyền, các ban nhạc văn nghệ, bích báo…Chỉ tiếc là Cao Ủy đã khoán trắng cho cai thầu Mã Lai. Mà cai thầu vốn bất lương, bất nhân, bất nghĩa. Và Văn-phòng Trại thì rặt lũ bù nhìn, tôi mọi. Thông thường, khi con người no đủ thì nó quên đói khát, khi hết đau khổ thì nó nghĩ đến hưởng thụ cho chính bản thân nó. Sát khít nó, còn nhiều đồng loại của nó thiếu vài con tem gửi thư, còn nhiều đồng loại của nó mệt mỏi ba, bốn năm tuyệt vọng định cư, nhưng nó vẫn vui vẻ mở “party” ăn nhậu tiễn đưa. Cứ có tiền là có thịt gà tươi, thịt bò tươi, bánh kẹo, thuốc lá, nước ngọt, đá cục. Đừng ăn thịt heo nhé! Ăn thịt heo là ăn đòn thối phổi. Giới răn cấm Mã Lai song anh đã mất Việt Nam, anh hết tự do thưởng thức lòng lợn trên đất nước Mã Lai anh hùng.

Tôi về nhà, chẳng thiết xem phái đoàn Úc phỏng vấn thuyền nhân. Vả lại, phái đoàn làm việc trong phòng kín đáo, tôi không nhìn ra. Mà phải nhìn những khuôn mặt ủ ê của thuyền nhân đi ra với tiếng “xù” não nề, lòng tôi quặn thắt. Úc từ chối là Mỹ từ chối là Canada từ chối. Nơi chốn nào cho kẻ đi tìn tự do không có thân nhân ruột thịt trong thế giới tự do? Tôi chạnh nhớ câu mở đầu bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Washington hay đến nỗi Hồ Chí Minh phải lập lại. Vậy mà ở đây, ở cái đảo Pulau Bidong khốn nạn này, con người sinh ra bất hạnh phải có lần rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn đi tìm tự do đã bị khước từ định cư tại thiên đường tự do. Ta vẫn thừa thãi chỗ đứng dưới ánh mặt trời cho là ta sống trong trại tập trung Cộng sản nhưng hôm nay, ta không có chỗ định cư ở nước Hoa Kỳ nếu ta đã không làm tôi mọi cho đế quốc Mỹ.

Ông nhà báo còn ngồi một mình ở bàn trà. Ông ngó tôi, mỉm cười chua chát:

– Cậu vừa nuốt thêm vài miếng ngậm ngùi hả?

Tôi buồn bã đáp gọn:

– Vâng ạ!

– Đi Hoà Lan hơi lâu đó. Nó “accepts” hay “rejects” cũng mất cả năm. Nó mà “rejects” kể như mình vừa tới đảo lần thứ hai. Âu châu đâu cũng thế trừ Pháp và Đức. Nghe nói anh em bảo lãnh cho nhau đã khó ở Na Uy, Đan Mạch, Hoà Lan, Anh rồi đấy. Cậu xoay sở đi Úc xem sao. Những năm trước, dân mình cứ xin đi Mỹ, đi Úc, đi Canada, các phái đoàn Âu châu vô đây thất nghiệp, họ chán không vô nữa. Bây giờ, các nơi đều là cấm địa. Luật lệ định cư thay đổi xoành xoạch.

– Cám ơn bác, cháu sẽ tính. Vừa gặp một số đồng bào bị Úc “xù”, họ bảo Úc nó chê dân đánh cá và thanh niên độc thân, tại sao vậy, bác?

– Vì thanh niên ta sang Úc lãnh trợ cấp suốt đời không thiết làm việc, dở trò say sưa đâm ché. Tôi nghĩ cậu xin, Úc nó cho đấy. Anh ngữ là chìa khoá mở vào nước thiên đường mà.

– Thưa bác…

– Cứ hỏi đi!

– Hôm nọ bác nói muốn về Việt Nam, thật không bác?

– Thật!

– Nguyên do thế nào, bác?

– Tôi già rồi. Sang đây tôi mới biết tôi quá già rồi. Người già đi tìm hạnh phúc là sự mỉa mai khó tả. Giá trị của tôi ở Âu châu không bằng cả còn chó già nữa. Tôi đang suy nghĩ vấn đề của tôi. Cậu biết đó, ở xứ người phải học nói tiếng xứ người. Tôi khó học nổi tiếng Na Uy. Vậy tôi sẽ trở thành thằng câm và điếc. Con tôi viết thư trách móc tôi rằng sao không ở lại Việt Nam để nó gửi tiền về nuôi. Tôi qua sẽ trở ngại cho nó vì nó đã có vợ Na Uy, con Na Uy. Và vợ con nó không nói tiếng Việt, ăn cơm Việt. Cộng thêm cung cách đối xử của thế giới tự do ở trại tị nạn, tôi càng phải suy nghĩ thân phận tôi, thân phận Việt Nam khốn khổ.

– Bác làm cháu nản lòng định cư.

– Cậu còn trẻ, tương lai .

– Tương lai mưu sinh thôi, bác ạ!

– Đừng nghĩ thế. Tôi thấy cậu là người có tâm hồn. Tôi hiểu lý do nào cậu gắn bó với con bé Kiều Nhị. Cậu đã giúp nó quên cơn ác mộng biển khơi. Nhưng, người có tâm hồn là người cô đơn và suốt đời bị bủa vây bởi những ngộ nhận vô tình hay cố ý. Đời sống lưu vong sẽ đầy rẫy hệ lụy, hãy giữ mãi tâm hồn tốt đẹp của cậu để làm lại đất nước, cậu Hoài nhé!

– Cám ơn bác. Cháu sợ sẽ phụ lòng bác đấy.

– Tôi không tin cậu hư hỏng. Nếu tôi đi Na Uy và nếu cậu được ở Hoà Lan, bác cháu mình sẽ có nhiều chuyện để làm.

– Cháu mong thế.

– Còn chuyện Kiều Nhị ?

– Chiều nay cháu dẫn cô ấy gặp Cao Ủy Xã-hội.

– Tốt.

– Cháu muốn công khai yêu Kiều Nhị.

– Phải. Để xóa hết mặc cảm của con bé.

Buổi chiều, Kiều Nhị và tôi lên văn phòng Cao Ủy Xã-hội. Ông ta là người Mã gốc Ấn độ. Ông đã du học bên Anh và cư ngụ ở Tân Gia Ba. Ông ta vui vẻ nghe tôi trình bày hoàn cảnh của chúng tôi. Yêu cầu của tôi được thoả mãn. Ông ta lập một hồ sơ riêng vụ chúng tôi và hứa sẽ can thiệp để chúng tôi cùng được định cư tại Mỹ hay Hoà Lan. Tôi vừa thấy chút may mắn đầu tiên . May mắn thứ hai là ông ta nhờ tôi làm phụ tá giúp ông ta trong những giao dịch thường xuyên giữ thuyền nhân và ông ta. Tôi nhận lời. Công việc chính của tôi là dịch đơn khiếu nại và đơn xin can thiệp với các phái đoàn của thuyền nhân sang Anh văn. Tôi cảm thấy đỡ buồn tẻ chuỗi thời gian chờ đợi. Riêng Kiều Nhị vẫn lo lắng. Nàng bắt đầu sợ ngày rời đảo một mình.

—>7


Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »