-5-
– Anh biết sự tích chiếc tầu sắt TV 748 này không?
– Em biết à?
– Bác Thanh kể. Hôm nay em mới nhìn thấy xác nó.
– Sự tích nó ra sao?
– Bi thảm anh ạ! Nếu dân tộc Mã Lai có lương tri thì TV 748 và sự tích của nó là vết hằn ô nhục trên lương tri dân tộc Mã Lai.
Chiếc tầu TV 748 chở ngót một ngàn người Việt Nam rời bỏ quê hương yêu dấu đi tị nạn. Nó ghé đảo Pulau Bidong. Thuở ấy, Mã Lai chưa mở cửa đón dân tị nạn cộng sản vì chưa có ai thuê đất Mã Lai chứa dân tị nạn cộng sản cả. Chiếc TV 748 tưởng thế giới tự do thì nơi nào tâm hồn con người cũng tốt đẹp và ăm ắp tình nhân loại. Nó hân hoan lao vào. Những họng súng lớn nhỏ của Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai bảo vệ hòn đảo dừa hoang nhắm đúng nó mà xối xả khạc đạn đuổi nó ra khơi. Nó không chịu ra khơi vì chẳng hiểu sẽ trôi giạt tới nơi nào. Nó cứ sấn vào hy vọng sự liều chết của nó gợi được lòng trắc ẩn của con người. Nhưng con người vốn là công cụ của chính sách, của mệnh lệnh nhất là con người lính thời bình lâu năm chưa xung trận nên rất thèm giết đồng loại. Lực Lượng Đặc Nhiệm Mã Lai đã phóng vào chiếc tầu tị nạn trận mưa đạn tàn bạo .
Chiếc tầu bất hạnh vẫn lao mạnh. Rồi bị kẹt. Dân tị nạn hoảng hốt nhẩy xuống biển. Dân Mã Lai không tha . Mũi súng chúc thấp. Cuộc tàn sát hợp pháp khởi sự. Máu dân tị nạn đỏ lòm một vùng biển. Máu cụ già, máu con nít, máu thanh niên, máu thiếu nữ, máu đàn ông, máu đàn bà, máu hài nhi nằm trong bụng mẹ hoà cùng nước biển xanh và đã tạo thành âm hưởng thiêng liêng của lời kinh khuyến thiện. Chẳng một ai bơi nổi sát bờ. Hai người cuối cuối cùng, một cô gái và một bô lão thoát mưa đạn. Bô lão đã gần vô bờ, nghe cô gái kêu cứu sặc sụa ngoài xa, tình người nổi dậy, vội vàng bơi ra rồi dìu cô gái. Nhưng đạn bảo vệ lãnh thổ Mã Lai không mảy may xúc động. Cô gái và bô lão đã chẳng có cơ hội đặt chân lên đất tự do. Chiến tích này kể như huy hoàng nhất của lịch sử văn minh Mã Lai Á. Nhờ vụ TV 748, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc rủ lòng thương và thuê đất Mã Lai chứa dân tị nạn cộng sản Việt Nam . Và Pulau Bidong, Pualu Tangah mở cửa. Xác chiếc tầu TV 748 vẫn nằm nghiêng trên bãi biển. Một nghệ sĩ dân gian tị nạn nghẹn ngào thân phận TV 748 và ngưỡng mộ bô lão đã tạc tượng bô lão và dựng tượng bô lão ở lưng đồi quay mặt ra biển cả. Pho tượng và xác tầu là hai dấu ấn ngậm ngùi của thời đại mà nhân loại sản sinh ra danh từ boat people. Nó còn đó, sừng sững nhìn thế giới tự do và thủ tục lên thiên đường nghiệt ngã.
Tôi đến gần pho tượng. Pho tượng chứa linh hồn của ngót một ngàn thuyền nhân không bao giờ được hân hạnh khai gian dối “lý do rời Việt Nam”. Vuốt ve pho tượng , tôi thầm thì :”Thưa cụ, đó là cái giá của tự do và thế giới tự do . Cụ may mắn lắm cụ không biết quán trọ trước cổng thiên đường!”.
Buổi chiều, mặt trời tụt dần xuống ở một góc biển. Sóng vỗ mạnh vào kè đá. Ngắm hoàng hôn xứ người bỗng nhớ Việt Nam chi lạ. Giấc hương quan sẽ bừng tỉnh mãnh liệt và khiến ta ngẩn ngơ khi ta bị ngược đãi ở quê người. Bấy giờ ta mói hiểu ý nghĩa của hai tiếng tổ quốc. Không có tổ quốc, ta lạc lõng bơ vơ. Ta sẽ đến nước Mỹ, nước Úc, nước Pháp nhưng ta vẫn không có tổ quốc. Một người vô tổ quốc là một người không có gì cả, dù y thừa thải đủ thứ. Bất hạnh cho bất cứ ai không có tổ quốc. Càng bất hạnh cho bất cứ ai phải khước từ tổ quốc của mình để tuyên thệ trung thành với tổi quốc thiên hạ. Ôi, tổ quốc Việt Nam yêu dấu, tìm được bao nhiên tâm hồn còn nặng tình nước cũ sau khi đã dạt trôi tứ xứ, tha phương cầu thực?
Tôi chỉ mới ở Pulau Bidong và ở chưa bao năm, mà đã chứng kiến sự đổi thay đến não nùng của đồng bào tôi. Chẳng hạn những người cùng chuyến Pulau Bidong 821 với tôi. Hôm nào lênh đênh trên mặt đại dương, cộng khổ, cộng khát, vừa chân ướt chân ráo lên bờ đã tranh giành mấy chiếc quần áo cũ của người Mã Lai đến nỗi chửi nhau thậm tệ. Hôm nào lênh đênh trên mặt đại dương, những thanh niên bầy tỏ ý chí son sắt, vừa chân ướt chân ráo lên bờ đã lăng xăng nịnh bợ lính Mã Lai kiếm điếu thuốc lá tầm thường. Hôm nào lênh đênh trên mặt đại dương, nằm xếp lớp như bầy cá ươn trên boong tầu, vào đảo là áo đầm loè loẹt, vênh vênh váo váo bắt bồ với cảnh sát, với Task Force, với Cao Ủy…địa phương để chứng tỏ mình không giống thuyền nhân khác. Nỗi đau đớn vẫn đậm đà ở manh áo phát chẩn mà đã ngỡ nó nằm tận Việt Nam . Thú thật, tôi không nhìn thấy cái gì đẹp đẽ ở một số người, nhất là số người “thuyền nhân chức sắc”. Và tôi không tin rằng những người này tha thiết hồi hương.
– Anh nghĩ gì thế?
– Về những ngày luân lạc.
Tôi nắm tay Kiều Nhị, đưa nàng lên ngọn đồi Tôn Giáo. Gọi là đồi Tôn Giáo vì Cao Ủy Liên Hiệp Quốc cho xây trên đồi một ngôi chùa, một ngôi nhà thờ Thiên Chúa và một ngôi nhà thờ Tin Lành. Thuyền nhân đại đức, sa di cư ngụ tại Nhà Chùa. Thuyền nhân linh mục, thày dòng cư ngụ tại Nhà Thờ. Thuyền nhân mục sư cư ngụ tại Nhà Thờ Tin Lành. Người Mã Lai theo Hồi giáo nên nghiêng nặng cảm tình về Phật giáo. Nhưng mà Phật giáo đã phân hoá ở Pulau Bidong. Hội Phật Tử của người Hoa do Cao Ủy Tầu đỡ đầu không hợp tác với Nhà Chùa tị nạn, dẫu trong lý lịch họ khai họ là dân Việt Nam. Điều đáng chú ý là chuông, mõ, áo tràng của Nhà Chùa là do linh mục Surmon, người Pháp mua tặng. Nhà Chùa, Nhà Thờ và Nhà..Tin Lành đều có tiếng nói trên Đài Phát Thanh Pulau Bidong . Buổi chiều, cơm nước xong, thuyền nhân rủ nhau lên đồi Tôn Giáo. Những tín đồ ngoan đạo thì vào Nhà Chùa, Nhà Thờ cầu nguyện. Những tín đồ hoang đàng và những kẻ vô đạo, hầu hết là tuổi trẻ, thì từng cặp nam nữ, tìm đến những hốc đá kín đáo tình tự…Họ ôm nhau, hôn nhau, thề thốt, hứa hẹn mai này…Đồi Tôn Giáo do đó, còn được hiểu riêng một nghĩa thật xấu và thật tốt: Đồi Tình Yêu.
Ngọn đồi thơ mộng cả ban đêm lẫn ban ngày. Đứng trên ngọn đồi, phóng tầm mắt ra khơi, tôi thấy những ngọn lửa chài le lói. Tự nhiên, sao mà nhớ nhung vùng biển Nha Trang, Vũng Tầu. Kiều Nhị và tôi kiếm một chỗ ngồi vắng vẻ. Tôi khoác tay lên vai nàng.
– Em sẽ quên đồi Tôn Giáo, quên quán trọ trước cổng thiên đường….
Tôi định nói thêm “…quên thảm cảnh giữa biển khơi”, song tôi đã ngừng lại, sợ Kiều Nhị khóc.
– Tại sao em phải quên?
– Bởi vì người ta không thể làm tương lai bằng những nỗi nhớ. Kỷ niệm chỉ là nơi đồn trú, nơi trở về của những kẻ lạc bước đời. Cuộc sống luôn luôn thay đổi. Sự thay đổi của nó sẽ đưa nỗi nhớ vào quên lãng.
– Anh sắp làm em khóc.
– Thì thôi, em cứ nhớ. Có điều, chắc chắn, em sẽ quên anh.
– Em không quên anh.
– Thực tế đi, Kiều Nhị, em phải chọn nước Mỹ. Dù rất yêu em, rất muốn có em làm vợ, anh không có quyền chọn nước Mỹ để sống hạnh phúc bên em. Mà em, em cũng chẳng có quyền khước từ định cư ở Mỹ. Phái đoàn Mỹ ban hạnh phúc định cư cho em là đã quá hào hiệp rồi, họ không ban hạnh phúc tình yêu cho em đâu.
– Em sang Hoà Lan với anh.
– Hoà Lan khước từ, em ạ!
– Vậy chúng ta lấy nhau.
– Rất tiếc là thiếu cái Khối Hộ-tịch ở Pulau Bidong. Hai tháng nữa em sẽ rời đảo xuống Sungai Besi. Rồi ba tháng sau, em sẽ, hoặc bay thẳng sang Mỹ hoặc sang Phi Luật Tân chờ một thời gian vào nước Mỹ. Ngày xưa, một thi sĩ viết: “Tình yêu đến, tình yêu đi ai biết. Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”. Với anh, tình yêu đến, anh không biết nhưng tình yêu đi, anh biết. Đừng nghĩ thiếu anh đời em vô nghĩa, đừng nghĩ thế Kiều Nhị. Hãy cứ ví anh cơ hồ hạt bụi vướng vào mắt em khoảnh khắc hay ví anh cơ hồ sợi khói lọt vào mắt em làm em tốn vài giọt lệ…
– Em hiểu rồi…
– Em hiểu sao?
– Anh yêu em vì thương hại em.
– Em đã hiểu sai. Anh yêu em vì anh yêu em. Nếu em ngỡ anh thương hại em thì chính anh đã thương hại anh và thương hại thân phận Việt Nam tị nạn.
– Anh…
– Nghe anh nói, Kiều Nhị .
– Em nghe anh đây.
– Chúng ta sẽ lấy nhau không giấy giá thú, nếu chúng ta ở quê nhà hay đã vào thiên đường đệ tam quốc gia. Giấy giá thú là cái gì? Nó chẳng ràng buộc được tình yêu đâu. Ở đây, ở cái quán trọ phiền toái này, nó rất cần thiết cho sự lãnh hạnh phúc định cư. Nếu chúng ta cùng đi một chuyến tầu và yêu nhau trên chuyến tầu đó, chúng ta sẽ gian dối khai rằng, chúng ta đã thành hôn nhưng vì trốn đi tìm tự do không thể mang theo giấy giá thú. Phái đoàn nào cũng tin. Thế giới tự do ngu lắm. Họ tin cả cộng sản nói láo nữa cơ mà. Và chúng ta sẽ nắm tay nhau vào một nước thiên đường bằng gian dối.
Kiều Nhị thở dài. Tôi vuốt tóc nàng:
– Tự do mà thế giới ban phát cho dân tị nạn cộng sản hôm nay y hệt tự do mà chính sách Mỹ ra mệnh lệnh bắt bọn thống trị tay sai ban phát cho dân nước nhỏ.
Nàng nói:
– Em sang Mỹ chờ đợi anh.
Tôi vỗ nhẹ vai nàng:
– Lâu lắm. Sáu bẩy năm, em không chờ đợi nổi đâu.
– Em chờ đợi anh suốt đời.
– Thực tế một chút , Kiều Nhị. Sáu bẩy năm là thuở đợi chờ trong tiểu thuyết không phải là thời ta sống lưu vong. Bản chất của em thật tốt, thật đẹp nhưng em sẽ bị quay cuồng trong dối trá, lừa lọc, chụp giật của đời sống Mỹ. Ở Mỹ, tình đồng bào của em cũng mai một, nói chi tình yêu đôi lứa.
– Anh bị ảnh hưởng bác Thanh rồi.
– Em nên ngờ vực anh. Em chung thủy mà anh thiếu chung thủy thì sao? Em ạ, hãy coi tình yêu như khói nắng, như bụi mây. Tình yêu rất mơ hồ dù em đã một đời bâng khuâng vì nó. Chúng ta có những ngày êm ái ở đảo Pulau Bidong, thế đã quá thừa.
– Anh coi tình yêu giản dị như mọi người trên đảo.
Tình yêu giản dị như mọi người trên đảo nằm trong câu “Tình Bidong có list là rông”. Tình yêu trên đảo Pulau Bidong là thứ tình yêu …tị nạn. Người ta thản nhiên yêu nhau rồi người ta thản nhiên xa nhau. Đài Phát Thanh Pulau Bidong có mục chia ly rất cải lương và rất bùi ngùi. Nó mở đầu bằng cái Thông báo Chuyển Trại.
Giọng xướng ngôn viên sướt mướt. Và ca khúc “Nghìn trùng xa cách” rên rỉ năm bẩy lượt. Đến lúc ca-nô cho dân tị nạn rời đảo, rời quán trọ thứ nhất trước cổng thiên đường thì những cái miệng vừa méo xệch tiễn đưa đã vội vàng cười toe toét. Và chàng ở lại, nàng ở lại sẽ đi tìm nàng và chàng khác. Để có list lại rông! Từ quán trọ trước cổng thiên đường vào nước thiên đường dẫu nhiêu khê nhưng vẫn không thể so sánh với đoạn đường bôn tẩu, lênh đênh trên đại dương. Vậy mà ghé đảo, chàng sĩ quan học tập cải tạo thoát đời tù, may mắn trốn khỏi Việt Nam, đi tìm vợ con yêu qúy, nhanh chóng quên mục đích tình nghĩa, san sẻ ngay nhớ nhung cho nàng thuyền nhân. Nàng, thân gái dặm trường , ẵm con vượt biển đi tìm chồng di tản bên Mỹ, bên Tây, ghé đảo, ôm ấp đỡ chàng thuyền nhân cô độc cho bõ thèm . Tình yêu là cao quý là vợ yêu chồng, chồng yêu vợ càng cao quý. Mà người ta còn coi thường. Nói chi tình yêu đồng bào, tổ quốc! Ở chung một nhà, nằm chung một phòng, thuyền nhân nam nữ độc thân dễ dãi yêu nhau. Đến nỗi Cao Ủy phải khuyến khích ngừa thai. Bích chương dán khắp nơi . “Tại sao bạn lại mang bầu trên đảo?’
Khối Y-tế vui vẻ phát thuốc ngừa thai cho đàn bà, con gái và dụng cụ làm tình cho đàn ông, con trai. Khối Y-tế bảo đảm không tiết lộ tên tuổi những người xin thuốc ngừa thai. Pulau Bidong làm tình vung vít. Làm tình trên núi. Làm tình bên bờ suối. Làm tình ở hốc đá đồi Tôn Giáo. Làm tình ở “long house”, ở “short house”. Và đợi “có list là rông”. Quan niệm ái tình của thuyền nhân là quan niệm tách nước, luyến ái tách nước.
Kiều Nhị đã nghĩ đúng nhưng không đúng với tôi. Tội nghiệp nàng.
– Nếu anh coi tình yêu giản dị như tình yêu Pulau Bidong, anh đã không cần nói nhiều với em.
Nàng nắm chặt tay tôi:
– Em xin lỗi anh.
Tôi an ủi Kiều Nhị:
– Em không có lỗi gì cả.
Kiều Nhị sụt sùi:
– Em chẳng muốn định cư ở Mỹ nữa. Em muốn theo anh hoặc muốn sống bên anh mãi mãi tại đây.
Tôi nói:
– Có list là bắt buộc em phải rời đảo. Muốn theo anh, em vẫn phải sang Mỹ chờ đợi. Mã Lai không cho phép chúng ta làm chúa đảo đâu. Không có tự do cho thuyền nhân. Chúng ta chối bỏ tự do kỷ luật, vượt biển đi tìm tự do và chỉ được hưởng tự do chỉ định. Thân phận của chúng ta sẽ vô cùng bi đát.
Im lặng. Tôi nhìn biển đêm, nhìn cái mông lung khôn cùng của trời đất. Bất giác tôi nhớ lại những tháng năm tù ngục. Ở tù thật nhiều ước mơ. Nỗi ước mơ rực rỡ nhất là, ngày nào đó, thoát nhà lao và trốn sang thế giới tự do. Tôi tưởng thế giới tự do sẽ dang rộng đôi tay thân ái ôm ấp thuyền nhân. Tôi tưởng thế giới tự do , thiên đường của nạn nhân cộng sản, sẽ vỗ về, an ủi những kẻ bị chịu đựng oan khiên vô sản để soi sáng hạnh phúc tư bản. Tôi đã đến thiên đường ước mơ ấy. Và tôi nhìn rõ trái tim nhân loại. Khi con người còn lệ thuộc vào miếng cơm, manh áo phát chẩn, còn lo lắng một nơi chốn định cư chỉ định, con người mất hết tự do dẫu nó đã định nghĩa tự do bằng chiếc xuồng đuôi tôm thách thức với cuồng nộ của dại dương. Bỏ một vùng trời mà mình khao khát tự do để đến một vùng trời mà mình ngao ngán tự do, tôi bỗng tội nghiệp tôi quá. Thiên đàng, chắc chắc, chỉ là quê hương khốn khổ của tôi, đối với tôi. Nơi đó, những nghẹn ngào được chia sẻ. Và tôi được nhìn những giọt nước mắt tình nghĩa ứa ra cho cảm thông cay đắng. Tôi đã thành thật nghĩ rằng tôi đi chiến đấu cho tự do. Bây giờ ngơ ngác trước cổng thiên đường, tôi thấy ý nghĩ của tôi trở nên ảo tưởng.
Thuyền nhân đã trả giá xứng đáng cho sự bôn đào, cho sự sợ hãi, cho mọi gian truân đòi đoạn, nhục nhã khôn lường. Họ đã hiểu tại sao họ đi tìm sinh đạo trên tử đạo. Vậy mà vừa tới đảo, họ nhanh chóng quên tất cả. Pulau Bidong là biểu tượng của đất hứa, của một miền đất hứa trong lịch sử lưu lạc của dân tộc Việt Nam. Hãy hình tưởng đám dân Do Thái theo Moïse về đất hứa. Hãy hình tưởng những hoan lạc xác thịt, những sa đoạ tâm hồn khi họ đến đất hứa. Nhưng họ, đám dân Do Thái u mê ấy còn có Moise thức tỉnh lương tri của họ bằng Mười điều giới răn . Thuyền nhân trên đảo có ai? Một Trưởng trại lãnh đạo chế độ quân phiệt bù nhìn đội Cảnh sát, Task Force Mã Lai và đạp dân tị nạn không thương xót. Với những tâm hồn đó, tự do của dân tộc lại mang một nghĩa trừu tượng mới. Và tôi thấy sự rời bỏ quê hương của tôi hoàn toàn sai lầm. Muốn đích thực chiến đấu cho tự do, chúng ta cần phải ở lại quê hương. Tương lại của dân tộc Việt Nam, lịch sử của dân tộc Việt Nam không bao giờ có ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc…Không bao giờ có bởi những giành giật của những con người hèn mọn, bởi những gian dối của những con người mục nát, bởi những thèm khát hưởng thụ vật chất của những con người tầm thường. Mà chỉ có bởi những hy sinh cao cả, chỉ làm nên bởi những kinh qua thống khổ của người Việt Nam ngay trên đất nước Việt Nam. Khi tôi thấy tôi sai lầm, tôi không có cơ hội chiến đấu cho tương lai xứ sở tôi với anh em ở lại quê hương của tôi nữa. Và, tự do mà tôi ngỡ là tìm thấy sau nhiều toan tính vượt biển trầy trụa đã trở thành thứ tự do không có định nghĩa. Nó vô tích sự cho hạnh phúc của dân tộc tôi. Nó vô tích sự cho tình yêu của tôi và Kiều Nhị.
– Em lạnh rồi, mình về anh nhé!
Chúng tôi rời đồi Tôn Giáo. Khi ngang qua nhà đèn, tôi bảo Kiều Nhị dừng lại. Chúng tôi ngắm cái bích chương mang giòng chữ đỏ :”Tại sao bạn lại mang bầu trên đảo” và vẽ thuốc ngừa thai, vòng xoắn.
Tôi hỏi Kiều Nhị:
– Em có sợ mang bầu trên đảo không?
Nàng ghì chặt tôi:
– Trước khi gặp anh, em rất sợ.
Tôi hiểu nỗi sợ hãi của Kiều Nhị. Dân tộc khốn khổ của tôi đầy dẫy những sợ hãi. Mười năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đã bao nhiêu phụ nữ sợ hãi như Kiều Nhị hôm nay? Tây phương đã đem tới Việt Nam sự khai phóng tự do, dân chủ bằng hãm hiếp, giết chóc, đốt phá rồi bỏ rơi Việt Nam lênh đênh biển khơi để chịu đựng hãm hiếp, giết chóc. Và bủn xỉn ban phát hạnh phúc định cư.
– Bây giờ em không sợ à?
– Không . Bây giờ em mong có bầu.
Tôi dìu Kiều Nhị bước :
– Ngày mai anh dẫn em lên gặp ông Cao Ủy xã hội nhờ ông ấy chứng nhận chúng ta đã thành hôn.
Nàng cuống quít:
– Thật hở anh?
– Thật.
– Nhỡ..
– Không nhỡ gì cả. Yêu là chấp nhận tất cả.
Tiếng động cơ nhà đèn lấn át tiếng nói của Kiều Nhị. Tôi không nghe rõ nàng nói chi. Cũng chẳng cần nghe.
Khán giả coi vô tuyến truyền hình ngoài trời đã lục đục rã đám. Cảnh sát Mã Lai vẫn chơi vũ cầu trước cửa nhà tôi. Đêm ấy, chúng tôi ôm nhau ngủ vùi
—>6