-18-
Nắng tắt sớm hơn mọi buổi chiều. Không khí oi ả như thể ngậm hơi nước. Chớp nháy liên miên đằng Đông, ngoài biển. Cảnh sát đang căng lưới vũ cầu. Hai thuyền nhân quét sân badminton. Bàn trà của chúng tôi đầy vợt và Coca Cola. Từ khung cửa sổ trên căn gác tị nạn, tôi nhìn lá dừa đong đưa theo gió. Ông nhà báo chưa về. Cô Thi, cô Hiền đã dặn ăn cơm ở nhà bạn tối nay. Căn gác có mình tôi. Tiên nữ đọa đầy đã rời thiên thai khốn khó để lại Từ Thức khốn khổ nhặt lá đào tàn úa. Những nỗi buồn cơ hồ những đợt sóng dồn dập xô vào hồn tôi…Kiều Nhị bỏ đi. Ông nhà báo sắp bỏ đi. Tôi có thể gặp lại Kiều Nhị nhưng khó gặp lại ông nhà báo. Những người tôi yêu mến, lần lượt gieo trong tôi những tiếc nuối ngậm ngùi. Quán trọ này sẽ chẳng còn một ý nghĩa gì. Tôi sẽ nằm lại đếm từng ngày, từng ngày, đợi người ta đọc tên tôi trong danh sách chuyển trại. Nhưng, trước đó, từng ngày, từng ngày, tôi sẽ tiếp nối cái thường lệ tẻ nhạt của thuyền nhân.
– Hoài ở trên gác hả?
Ông nhà báo đã về.
– Vâng ạ!
– Cứ ngồi yên đó.
Ông nhà báo leo lên ngay. Chúng tôi ngồi xếp bằng tròn nhìn nhau trong cái nhá nhem của buổi chiều u ám.
– Đêm nay bác hồi hương.
– Cháu đã biết.
– Đừng xúc động.
– Vâng.
– Bác ghét đàn ông khóc.
– Cháu sẽ không khóc.
– Việc định cư nước Pháp của cháu kể là xong. Bác sĩ Rémy Provendier vừa nói với bác rằng, sớm nhất hai tháng nữa cháu sẽ rời đảo, muộn nhất là bốn tháng. Ngày mốt ông ấy ra Kuala Lumpur.
– Cháu pha trà.
– Thôi, bác cháu mình còn ít thì giờ lắm. Lát nữa, bác sẽ lên nằm bệnh xá. Bác sĩ Rémy ký sổ rồi. Từ bệnh xá, bác ra cầu Jetty gần và kín đáo.
– Anh Học đến đón bác?
– Bác đi một mình. Học nó không thể đến, nó nhờ bác gửi lời chào tạm biệt cháu.
– Bác cần dặn cháu thêm không?
– Những gì phải nói, bác đã nói với cháu từ ba tháng nay. Bác không phải là thánh nên khi vào việc thấy điều nào bác sai thì chớ làm. Cái hay là sáng tạo, sáng tạo và sáng tạo.
– Vâng.
– Người quân tử hoà mà không đồng.
– Cháu nhớ.
– Kính trọng tài năng của thiên hạ.
– Cháu nhớ.
– Oan ức không thanh minh.
– Cháu nhớ.
– Để lòng nhân chế ngự thù hận vặt vãnh.
– Cháu nhớ.
– Không bao giờ phán xét người một cách mơ hồ.
– Cháu nhớ.
– Yêu mến sự thật và người thật.
– Cháu nhớ.
– Học tất cả mọi người.
– Cháu nhớ.
– Không lụy đàn bà
– Cháu nhớ.
– Thế là tạm đủ. Cuộc đời sẽ dạy cháu nhiều nữa.
Ông nhà báo đứng dậy. Tôi đứng dậy theo. Ông ôm lấy tôi, luồn tay ông đụng da tôi. Tôi cảm giác đê mê ngây ngất.
– Bác như Khổng Minh tìm được Khương Duy. Khương Duy không phùng thời vì vận nhà Hán đã mạt. Cháu sẽ đắc thời, sẽ hữu ích cho tổ quốc.
Ông buông tôi ra:
– Đừng chúc bác điều gì cả. Hãy nói tạm biệt giống bác tạm biệt cháu: Hẹn nhau ở Việt Nam!
Tôi nghẹn ngào cầm tay ông nhà báo:
– Hẹn nhau ở Việt Nam!
Không nói thêm nửa lời, ông nhà báo vội vàng leo xuống thang và rảo bước lên bệnh xá. Ông sợ tôi bịn rịn giây phút biệt ly. Tôi đứng bất động trong cô đơn mênh mông. Phía dưới, bên ngoài khung cửa sổ, rân ran những tiếng reo hò, cổ võ trận vũ cầu tài tử. Tôi giật mình tưởng như còn quên một câu tâm huyết chưa kịp giải bày. Tôi cứ đứng cho đến lúc bóng tối tràn ngập căn gác, cho đến lúc tiếng ồn ào lắng đọng, cho đến lúc hai cô gái thắp đèn leo lên gác.
– Anh Hoài hả? – Cô Thi hỏi.
– Vâng, tôi.
– Bác Thanh đâu?
– Bác ấy nằm bệnh xá.
– Bác đau nặng?
– Tim đập mạnh.
– Anh dùng cơm chưa?
– Tôi không đói.
Tôi đi xuống, nằm dài trên giường. Đài phát thanh báo giờ giới nghiêm. Tôi trở dậy, kéo cửa sổ và đóng cửa ra vào. Và tôi lại nằm vắt tay lên trán, mắt mở thao láo trông chờ trời đất chuyển mình. Muỗi vo ve quanh tôi. Cả tháng rồi, Vệ Sinh không xịt thuốc trừ muỗi. Chuột hoành hành tứ tung. Tôi đốt hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác. Thời giờ đi thật chậm. Mỗi hơi rít của tôi là mỗi phiên đốm đỏ soi đồng hồ. Tôi trách tôi đã không ra sân phát thực phẩm ngắm con tầu của anh Sĩ lần cuối. Nó đến Pulau Bidong từ một bờ bãi Cà Mau. Nó sẽ từ chân cầu Jetty hồi trở một bờ bãi Việt Nam nào? Tôi biết ông nhà báo cũng đang nằm mong mưa như tôi. Trận mưa quyết định, trận mưa tạo thời thế. Hay, ít ra, trận mưa sẽ đưa những con người không thể thiếu quê hương về với quê hương.
Ông nhà báo muốn ghi vào tự điển một giải thích mới. Chỉ những ai yêu quê hương và bị mất quê hương mới có định nghĩa tha thiết về tình hoài hương. Và định nghĩa bùi ngùi đó, ở người này là thắp sáng ngọn đèn hồi tưỏng soi rõ từng miếng nắng, từng hàng cây, từng viên gạch, từng khúc sông, từng đầu nguồn, từng lối mòn, từng ngõ cụt cố xứ. Để gửi hồn mình trong gió heo may lãng du biển lúa sữa thơm nồng. Để nghe lòng mình xôn xao trên thềm trưa ca dao, ngây ngất chống chèo đêm xuân hội đình…Ở người khác là những rên siết nghẹn ngào, là nước mắt lưu vong khôn nguôi, buồn tênh nhỏ xuống nỗi đau chia lìa dân tộc. Với ông nhà báo, tình hoài hương là thôi thúc hồi hương, là nuốt đất mà khóc. Tôi chưa thấy ai yêu tổ quốc như ông nhà báo Đạm Thanh. Ông ấy đang nô nức đợi mưa, đợi những rung động cuộn sóng trong trái tim già.
Tiếng máy điện ở Nhà Đèn chạy đều đều. Tôi nghĩ anh Hải, anh Học nôn nóng hơn. Tuổi trẻ đầy nhiệt tình. Tôi kính trọng những con người bình thường toan tính chuyện phi thường mà chẳng mảy may hạt bụi tham vọng cá nhân.
Có bốn người thức khuya cầu mưa, không ngủ cầu mưa. Bỗng gió nổi rì rào. Rồi gió át tiếng máy điện. Gió xôn xao, tới tấp. Dừa khô rơi binh binh xuống mái tôn, bồm bộp xuống đất. Tôi vụt dậy. Gió ầm ầm một lúc thì sấm gầm sét nổ. Và mưa. Mưa đảo phũ phàng, mù mịt tất cả. Trận mưa này không phũ phàng, mờ mịt. Là mưa xanh, mưa soi tỏ lối về. Tôi hình tưởng ông nhà báo, anh Hải, anh Học đang rục rịch. Mưa mỗi lúc một lớn. Sấm sét thịnh nộ. Tôi vừa ngó đồng hồ vừa nghe mưa, lòng hồi hộp chỉ sợ mưa mau dứt.
Mưa lớn, cảnh sát không đi tuần, tôi nhóm bếp pha cà-phê. Ánh lửa bập bùng đồng loả với niềm vui của tôi. Nước reo mừng rỡ. Tôi ngồi uống cà-phê, hút thuốc và uống ừng ực những cảm giác khó diễn tả. Ba chiến hữu của tôi chắc đã xuống tầu. Mưa kéo dài một tiếng đồng hồ rồi. Tôi cố lắng tai nghe để phân biệt sấm sét và đạn nổ. Chỉ có sấm, sét và mưa. Hai cô gái trên gác thức giấc vì mưa tạt ướt hết phải xuống nhà. Cô Hiền hỏi tôi:
– Anh không ngủ à?
– Tôi thức trọn đêm nay.
– Nhớ Kiều Nhị?
– Cầu nguyện.
– Cho ai?
– Bác Thanh, anh Học, anh Hải. Bây giờ tôi có thể nói sự thật với hai cô: Họ cướp tầu trở về Việt Nam .
Hai cô rối rít:
– Thoát chứ, thoát chứ anh?
Tôi đáp:
– Chưa rõ nên tôi cầu nguyện.
Hai cô gái ngồi trên giường của tôi. Chúng tôi cùng thức và cùng hình tưởng con tầu gối sóng biển âm thầm đi trong mưa gió. Đêm gần hết giới nghiêm, mưa ngơi ngớt. Thì gió lại nổi dậy ào sào. Tôi bắt đầu lo lắng. Gió thổi đến 8 giờ mới ngưng. Chẳng hiểu số phận con tầu hồi hương ra sao?
—>19