-13-
Cô Christmas về Kuala Lumpur được một tuần thì đồn Cảnh-sát gọi anh Vân. Anh ta hoảng hốt. “Không chấp nhận sự chậm trễ và vắng mặt”. Anh Vân vội vã ra đi. Buổi trưa anh không về ăn cơm. Thanh niên Học nói cảnh sát đã dẫn độ anh ra Trengganu. Chúng tôi lo sợ. Ở Pulau Bidong, chỉ những người bệnh nặng, những người được HCR cho kính viễn thị, cận thị ra Trengganu điều trị đo số độ mắt là trở về bình yên. Trường hợp những người bị SB. gọi lên cho cảnh sát chụp hàng chục kiểu ảnh mà ra Trengganu thì khó trở về hoặc trở về ngơ ngác. Những anh Việt cộng đi tìm tự do, không khai báo chính xác lý lịch, dấu diếm gốc Cộng sản mà bị dân chúng tố giác; những thuyền nhân bị tình nghi giết thuyền nhân giữa biển; những thuyền nhân có thù hận riêng tư với SB. ở Việt Nam, đều bị chụp ảnh và dẫn ra Trengganu. Ở đây, bằng những phương pháp tối tân, cảnh sát sẽ điều tra tận tình . Tương lai định cư của ba hạng thuyền nhân này rất mù mịt.
Anh Vân đã được xác định vô tội. Tại sao anh phải ra Trengganu ? Cô Christmas ba tháng sau mới vào đảo, nhờ ai can thiệp ? Ông nhà báo bần thần lo lắng.
– Thằng Vân hiền lành, chất phác. Nó là nạn nhân của bọn SB. Mít và sự thông dịch bố láo của thằng thông ngôn vét đĩa.
Giai cấp thông ngôn ở Pulau Bidong chia làm ba loại:
Loại kiến thức vững vàng, đứng đắn, giúp đỡ đồng bào tận tình.
Loại vênh váo, chữ nghĩa ăn đong ưa nạt nộ đồng bào, dốt nát và nịnh bợ phái đoàn.
Loại gian manh ăn hối lộ từng gói thuốc.
Những người tốt thường rời đảo thật sớm. Bọn vênh váo là bọn chờ hốt rác nên chúng nó cam đành xách hành lý, giặt quần áo, bưng nước hầu phái đoàn, hy vọng được bố thí định cư sớm. Lũ gian manh không được hối lộ tình và tiền thì thông dịch láo lếu để phái đoàn xù chơi cho bõ ghét. Nhiều bà, nhiều cô phải dâng hiến xác thịt cho chúng. Đám thông ngôn trên đồn Cảnh-sát và Task Force, đa số, là cầy cáo. Do dó, nạn nhân của chúng đầy dẫy. Nhiều thuyền nhân chẳng đáng ăn đòn đã bị ăn đòn thê thảm, chẳng đáng gọt đầu đã bị gọt đầu .
Nạn nhân của SB. gian ác, của thông ngôn vét đĩa nuôi thù hận và hẹn tuyết hận ở đệ tam quốc gia. Công lao hãn mã của thông ngôn vét đĩa là cục nước đá buộc vào sợi giây mà chúng hãnh diện xách từ đồn về nhà khoe khoang. Tôi đã chứng kiến ông đại uý Việt Nam ôm hành lý cho ông trung úy cảnh sát Mã Lai lẽo đẽo ra tận cầu Jetty.
– Phải làm sao, thưa bác ? Tôi hỏi.
– Làm sao?Chúng ta mất cả nhân quyền tại đây. Thư từ bị kiểm duyệt, thân thể bị xúc phạm. Chúng ta bị khổ sai lao động cho Mã Lai, dọn cầu tiêu cho Cao-ủy địa phương !
– Bác thử gặp cô Mayt ?
– Cô Mayt đã giúp cậu Sĩ đấy!
Cô Mayt trẻ và đẹp. Cô khoảng 25 tuổi, người Singapore, nhân viên của HCR, phụ tá đặc biệt của Christmas. Thuyền nhân gọi đại cô là Cao-ủy Mayt như Cao-ủy Tan, Cao-ủy Long… Mấy anh chị giáo viên Mỹ, Pháp cũng là Cao-ủy. Cô Mayt không ưa người Mã Lai. Cô ta rất ghét cảnh sát Mã và Task Force. Thành tích của cô là vận động đuổi ông đại tá Task Force khỏi Julau Bidong. Thuyền nhân đồn thế. Cô Mayt rất nghệ sĩ, hút thuốc lá lu bù. Khi tôi chưa tới đao, tàu của anhNguyên văn Sĩ, cựu đại uý quân lực Việt Nam Cộng Hoà giải ngũ vì đạn gây thương tích nặng chân phải, vào vùng cận duyên hải Mã Lai bị chặn bắt đón tước lột hết vàng bạc, hột xoàn, đô-la. Anh Sĩ làm chủ tầu. Anh khai báo ở Ban Tài LiệuCướp Biển, SB. đầy đủ chi tiết. Cô Mayt đọc hố sơ, cô quả quyết hải tặc là Mã Lai. Cô Mayt hỏi anh Sĩ có thể nhận diện bọn cướp không. Anh Sĩ trả lời anh nhớ mặt vài tên. Cô Mayt khuyến khích anh Sĩ kiện chinh phủ Mã Lai. Anh Si ký tên kiện. Cô Mayt chuyển đơn ngay, cô rất sốt sắng.
Vụ con kiến thuyền nhân kiện củ khoai Mã Lai kéo dài hơn ba tháng. Anh Sĩ ra hầu tòa án Trengganu vài lần và lần nào tòa cũng đình. Kết quả : toàn bộ thuyền nhân tầu anh Sï nằm đảo ăn mì gói, dù phái đoàn đã chấp nhân hồ sơ định cư và có danh sách rời đảo. Tòa chưa thanh lý vụ án, nguyên cáo và chứng nhân chưa thể ra đi. Anh Sĩ muốn bãi nại, cô Mayt bảo HCR đã nhập cuộc rồi. Bãi nại là mất mặt HCR, kiện là mất mặt Mã Lai. Mã Lai không muốn mất mặt, vụ kiện hứa hẹn thời gian vô tận. Anh Sĩ và các thuyền nhân tầu của anh chán nản. Sở di trú Úc không thích chờ đợi không ần biết vụ kiện. Họ loại hồ sơ cả tầu.
Vừa nhắc tên anh Sĩ thì anh Sĩ khập khiễng bước tới. Ông nhà báo mời anh ngồi uống trà.
– Sao, kiến kiện khoai tới đâu rồi ?
– Chắc củ khoai mọc mộng, vẫn còn kiện bác ạ. Cháu vừa cãi nhau với con Mayt.
– Cô ta nói gì ?
– Nó nói lung tung.
– Cậu chẳng hiểu thời và thế!
– Vâng, giá cháu hỏi bác trước khi quyết định thì đâu đến nỗi.
– Khi mình tới xứ người thì châm ngôn sống nằm trong câu nầy: “Ta là ai, ở đâu, làm gì ?” Trả lời gọn ghẽ là biết sống. Đứa nghèo kiện thằng giầu đãthua thiệt. Thằng mất nước kiện đứa có nước chỉ có lỗ vốn.
– Bãi nại HCR không chịu, tiếp tục kiện thì Mã Lai nó đình hoài. Thất bại cả chục chuyến, âm mứu cả chục năm mới lọt ai ngờ lọt lưới Mã Lai .Thế giới tự do chó má quá!
– Cậu kiên nhẫn đi.
– Đành kiên nhẫn thôi. Cảnh-sát và Task Force thù ghét cháu lắm. Cháu định viết bài báo gửi lén sang Mỹ.
– Đăng báo Mỹ à ?
– Báo Việt.
– Tôi khuyên cậu bỏ ý định ấy. Báo Việt xuất bản ở Mỹ không phải là báo Việt xuất bản ở Sàigòn trước 1975. Và chính phủ Mã Lai không phải là chính phủ Sàigòn.
– Vậy cháu có cách khác.
– Nói tôi nghe thử.
– Tầu của cháu nhỏ nhưng máy móc tốt lắmCảnh-sát và Task Force đều thèm nên chúng không hủy, còn cột dưới chân cầu Jetty. Em cháu đã lợi dụng đêm mưa bơi từ xa tới thăm dò thì dầu nhớt dư còn nguyên đủ sang Singapore.
– Tôi hiểu rồi. Kế hoạch đó bất ổn. Cậu còn trách nhiệm với bao nhiêu người. Cậu đi đâu? Đi đâu HCR :cũng điệu cậu về tòa án Trengganu.
Ông nhà báo nhún vai :
– Thân phận cậu y hệt thân phận Việt Nam. Mỹ nó xúi đánh cộng sản đi , nó sẽ giúp đỡ tận tình. Rồi nó bỏ rơi. Cô Mayt xúi cậu kiện Mã Lai đi cô ấy sẽ hậu thuẩn. Rồi cậu bơ vơ. Nhưng mà cuối cùng, cậu sẽ định cư ở Úc, sẽ quên hôm nay. Vô số người đã quên kỷ niệm đau đớn ở trại tị nạn. Như thế không thể khôn lớn.
Anh Sĩ nói:
– Cháu nhớ đến lúc nhắm mắt.
– Tôi không tin cô Mayt , cậu Hoài hiểu chưa?
Tôi đáp :
– Cháu hiểu
Chúng tôi uống trà, hút thuốc và nói chuyên lăng nhăng. Thời gian ở đảo trôi đi thật nhanh. Riết rồi, tôi cũng chẳng lưu ý giờ giấc được báo đều đặn ở đài phá thanh. Sáng sớm chạy lên bãi biển khu E bơi lội, và ra giếng gánh đôi nước tắm gội, pha cà-phê, ăn mí gõ điểm tâm, dạo một vòng xem các phái đoàn phỏng vấn thế là mất nửa ngày. Nóng quá, ngủ trưa không được trà đàm đợi chiều vào thư viện đọc sách báo, đợi tối coi ti-vi giữa trời. Thế là mất nốt nửa ngày. Hôm nào có thuyền nhân đến đảo, có phát thư, phát thực phẩm thì giờ trôi còn nhanh nữa. Công việc của tôi chẳng mấy vất vả. Có đơn thì dịch, không thì thôi. Ông Cao-uỷ Xã-hội để tôi tự do, trừ những hôm ông ta về Kuala Lumpur, tôi phải thường trực tại văn phòng. Pulau Bidong sẽ bớt căng thẳng nếu ta không bị chờ đợi vài năm ngóng cơ hội Mỹ hốt rác. Mỗi tối đài đều có chương trình nhạc sống, ca hát tưng bừng. Nhạc vàng Sàigòn thu băng cassette từ Mỹ, Pháp, Úc gửi qua vô số. Đủ báo Việt hải ngoại. Tiệm may sửa áo đầm phát chẩn cho các cô ưa diện. Tiệm sửa đồng hồ. Tiệm hớt tóc. Tiệm bán thuốc lá, trái cây tươi và khô. Nơi thu mua vàng, kim cương. Chỗ đổi đô-la . Tiệm cà-phê nhan nhản. Bệnh xá Pulau Bidong khang trang, thuốc thang sẽ thừa mứa và phân phát dễ dàng nếu các “quan chức” thuyền nhân không ăn cắp và không bè phái. Thỉnh thoảng, Pulau Bidong sống động nhờ ông tiến sĩ Việt trong Trường không biên giới nói chuyện ở sân chùa về đời sống Pháp con chó giá trị hơn đàn ông hay ông tiến sĩ Việt của Đại học Mỹ đến lúc 11 giờ tập họp con nít trường song ngữ nghe ông diễn thuyết đề tài tương lai văn hoá lưu vong gấp rút để kịp rời đảo lúc 13 giờ!
Cái không khí êm đềm này chỉ thích hợp với các thuyền nhân vô tư và biết chắc sớm muộn mình sẽ vào nước Thiên Đường. Với họ, một tương lai rạng rỡ hiện ra trước mặt với nhà cao cửa rộng, xe hơi,, ti-vi mầu, week-end, nghỉ hè, du lịch. Họ không bao giờ nghĩ đến bao nhiêu mồ hôi và nước mắt cho tiện nghi vật chất . Nhưng với những thuyền nhân nắm sằp mục đảo, mỗi ngày, Pulau Bidong là một ngày trại tập trung vô vọngVới những thuyền nhân như ông nhà báo, mỗi giờ Pulau Bidong là một múi chanh vắt xuống vết thương xa xứ xót xa. Với tôi, mỗi nhìn thấy ở Pulau Bidong là một trang sách nghẹn ngào. Có một số thuyền nhân đã tàn phế bởi đòn cảnh sát Mã Lai về những tội câu cá leo dừa. Tôi quen thanh niên Hải. Anh đà nằm đảo ba năm . Anh Hải không có thân nhân ở đệ tam quốc gia, không từng là lính, công chức. Ở Sàigòn anh là tay anh chị nổi tiếng. Anh và bằng hữu đã cướp tầu đánh cá quốc doanh ra đi. Trước hết, anh học nghề sửa máy tầu rồi học nghề đánh cá cận duyên . Sau hết, anh cậy cục luồn lọt xin vào Công ty đánh cá quốc doanh Vũng Tầu cùng bằng hữu. Chừng được tín nhiệm, anh và bằng hữu giết cán bộ, công an an ninh ném xuống biển. Tầu của anh vào thẳng Pulau Bidong. Bằng hữu anh đã định cư ở Úc, ở Mỹ. Riêng anh nằm lại .Anh Hải bất mãn SB., hành hung nhân viên SB.. Cảnh sát gọt đầu anh, đánh anh thê thảm. Ba lần bị gọt đầu, ba lần bị đánh về tội giang hồ bốc máu. Anh sưng phổi, da dẻ tái xanh thảm não. Bây giờ, anh hiền hơn Bụt. Ai chửi anh, anh cũng nín.. Anh sợ hãi đòn Cảnh-sát.
Những buổi trà đàm, anh ao ước kháng chiến tới đảo tuyển mộ chí nguyện quân hoặc cướp tầu Mã Lai chạy về Việt Nam . Anh đã tuyệt vọng hoàn toàn
– Về vào tù à anh Hải ?
– Về tìm bưng biền chứ. Chỉ cần được cầm khẩu súng, ngắm Cộng sản bắn một phát rồi bị nó bắn chết cũng sung sướng hơn bị ăn đòn Mã Lai nhục nhã.
Tự nhiên ông nhà báo hỏi tôi
– Mấy hôm nay thằng Hải biệt dang . Cậu Hoài có gặp nó không ?
Tôi đáp:
– Không.
– Tôi muốn gặp nó.
– Cháu đi kiếm anh ấy.
Tôi rời bàn trà. Anh Sĩ đã vào nhà trong nằm võng thở dài sườn sượt. Tôi sang khu B. Thấy anh Hải đang xay đậu nành cho tiệm làm đậu hủ . Anh ngừng việc mời tôi uống sữa đậu nành nóng.
– Có chuyện chi vậy, thầy Hoài ?
– Bác Thanh đợi anh.
– Ngay tức khắc ?
– Phải.
Anh Hải quý trọng ông nhà báo như chaỞ Pulau Bidong, mọi người đều kính nể ông nhà báo già 62 tuổi mà tâm hồn rất còn trẻ. Khi ông nhà báo cảm cúm anh Hải leo núi hái lá nấu nước xông và cạo gió, đấm bóp cho ông nhà báo tận tình. Ông nhà báo có hàng ngàn kho truyện hấp dẫn kể giải sầu. Thanh niên mê ông lắm. Ông đã làm chủ bút nhiều nhật báo lớn ở Sàigòn, viết vài cuốn sách tư tưởng và cộng tác với nhật báo New York Time bên Mỹ. Ông nói và viết ba thứ tiếng, các Cao-ủy trọng vọng ông và thích mạn đàm với ông. Phóng viên quốc tế vào đảo đã tìm phỏng vấn ông tình hình Việt Nam . Điểm khiến cả đảo thương yêu ông là ông dễ nóng máu, dám lên đồn Cảnh-sát đã cãi nhau bênh vực con nít bị gọt đầu. Ngày Sàigòn mất ông bị bắt ngay đêm 1-5-75 cùng ký giả Nguyên Tú. Nhờ Amnesty International can thiệp, ông được thả một lượt với ký giả Cao Dao. Rồi ông vượt biên. Chuyện tù của ông làm say mê cả sĩ quan học tập cải tạo.
Anh Hải mặc quần xà-lỏn, áo thung theo tôi về khu A. Ông nhà báo đã châm gô trà mới.
– Chào bố. Anh Hải cười toe.
– Mày biến đi đâu mấy bữa nay ?
– Con xay đậu cho thằng Tiễn trả nợ thuốc lá.
– Ngồi uống trà.
– Dạ.
Tôi rót trà rồi ngồi hóng chuyện.
– Bố gọi con dạy điều gì hay sai bao điều gì?
– Tao chợt nhớ mày, kêu mày thôi. Thư bạn mày tới đều chứ ?
– Mấy tháng nay bặt tin. Giầu đổi bạn, chúng nó đã sắm xe hơi .
– Mày còn thèm xe hơi không ?
– Nguội rồì,bố ạ!
– Còn quyết về Việt Nam không ?
– Bất cứ lúc nào.
– Tao đã ký đơn xin về.
– Sao bố không rủ con theo ?
– Chờ cô Christmas vô tao làm đơn cho mày
– Bố bỏ rơi con là con từ bố đấy.
Ông nhà báo vỗ vai Hải :
– Tao còn nghi ngờ mày vài điều.
Anh Hải vội thề:
– Con nói dối bố điều nào, Mã Lai sẽ đánh con lòi mắt.
– Mày bảo mày điều khiển con tầu đánh cá quốc doanh ?
– Đúng.
– Thí dụ HCR cho mày và tao chiếc tầu nhỏ, đủ dầu nhớt, mầy lái về Việt Nam được không ?
– Nhắm mắt cũng về nổi.
– Thí dụ dầu nhớt ít, thực phẩm, nước uống không có?
– Qua Singapore bố ơi . Nó sẽ đuổi! Minh xin dầu nhớt, thực phẩm, nước..
– Mày thông minh lắm.
Ông nhà báo ngó tôi:
– Kiều Nhị nó chờ cậu trên gác.
Tôi hiểu ý, rời bàn trà. Ông nhà báo gọi anh Hải vì con tầu của anh Sĩ đã gợi cảm hứng cho ông. Và ông muốn bàn riêng kế hoạch với anh Hải.
—>14