QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 126 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 10

❊ ❊ ❊

-10-

Người ta bảo khu F là khu Harlem của Pulau Bidong . Không hẳn khu F là vùng đất của những tay anh chị tị nan. Nói cho đúng, khu F tập trung nhiều thanh niên đã bị các phái đoàn lên xuống và đã nằm đảo, ít nhất, ba năm. Khi con người bị biến thành rác bỏ vào thùng chờ đợi Mỹ hốt thì tự nhiên nó có cảm giác bị khu trừ. Và nó sống với tâm trang bị khu trừ. Mọi phiền toái của trại đều xuất xứ từ khu F. Những gia đình hiền lành, đông con gái, đã kiếm cách đổi khu sau một thời gian ngắn tá túc tại đây . Bởi vì Cảnh-sát Mã Lai và Task Force cũng đánh dấu khu F.

Khu F đánh lộn thường xuyên. Khu F xuống các khu khác đánh lộn. Khu F tìm những tên Việt cộng vượt biên đánh đập. Khu F kiếm những tên chủ tầu đối xử tàn tệ với thuyền nhân lênh đênh trùng khơi hỏi tội. Hảo hán khu F bất chấp lệnh lạc của Hội Đồng Trại. Dưới mắt hảo hán, đám quân phiệt lãnh đạo trại chỉ là lũ bù nhìn của Mã Lai. Hảo hán gỡ ván ép đóng thuyền và ra khơi vào giờ giới nghiêm. Muốn leo lên khu F người ta phải ngang qua Gia Đình Âu Cơ. Và “con cái” của bà Âu Cơ sẵn sàng chọi đá giải buồn. Nhưng khu F lại chăm chỉ trồng rau bán cho dân cả trại. Rau và cá xuống chợ từ khu F. Rau thì Task Force miễn thuế chứ cá đã thành cái lệ, con lớn phải cống cho cảnh sát Mã Lai khi đem xuống chợ. Khu F rất nhiều bí ẩn từ cái chết thảm của bà già thuyền nhân.

Bà già vượt biển một mình. Con cái bà đã rời Việt Nam hai năm trước và đã ổn định đời sống bên Mỹ. Họ chụp hình mầu nhà cửa, xe hơi gửi về cho mẹ. Bà mẹ đem khoe khắp xóm. Rồi những thùng quà, gói quà tư bản gửi về. Nhà cao cửa rông, xe hơi bóng loáng và quà cáp không được giải thích rõ rệt. Thành thử người ở lại đã không thể biết những giọt mồ hôi lao động nhục nhằn của kẻ ra đi mà chỉ tưởng thế giới tự do ngồi nhà mát ăn bát vàng. Chính những tấm hình mầu, những bức thư kể chuyện Mỹ, chuyện Tây sung sướng đã gây cảm hứng vượt biển để vùi xác giữa biển, để bị hải tặc hãm hiếp, để thê thảm trong các quán trọ trước cổng thiên đường.

Bà già đến Mã Lai bình yên. Task Force, Cảnh sát và SB. khám xét bà như mọi người. Bà đem theo hai chục cái nhẫn vàng. Nữ trang không bị gửi, bà già được phép cất giữ. Một buổi sáng, thuyền nhân phát hiện xác bà trong vườn rau khu F. Bà bị siết cổ bằng giây điện. Những kẻ biết bà già có vàng đã điều tra kỹ lưỡng. Và thủ phạm thì ngàn năm khó kiếm. Có lẽ, vì cái chết của bà già, hảo hán khu F đã biến khu F thành cấm địa ngày và đêm cho cả Cảnh-sát lẫn Task Force đi tuần một mình.

Ngược lại, khu G là khu của ái ân, tình tự. Mỗi cuối tuần, thuyền nhân trẻ đi picnic ở đây. Chỉ cần có thân nhân tại Mỹ, Úc…, sau hai tháng chịu đựng kham khổ, thuyền nhân sẽ đầy đủ phương tiện ăn chơi do những tấm chi phiếu, ngân phiếu của các ngân hàng Mỹ, Úc mà TMS sẵn sàng đổi sang tiền Mã hay do linh mục Surmon lén lút chuyển giùm. Nhà hàng Mã Lai bán cả gà sống, thịt bò tươi, khoai tây, cà-ry, sả, ớt. Trừ rượu, bia và thịt heo. Thuyền nhân vương giả và khoái thụ hưởng sẽ thấy Pulau Bidong bình yên. Người ta cũng có thể chơi điếm !

Tôi đã chán ngán cảnh tượng Pulau Bidong, thật sự chán ngán. Cơ hồ trong tôi chẳng còn náo nức. Cái náo nức lần đầu tiên đem từ nhà tù ra đời sống đã hết. Đã hết ngay khi tôi chua xót nhìn tôi, nhìn người giữa Sàigòn hiu quạnh. Và rồi những lần sau ra khỏi nhà tù tôi dửng dưng . Tôi nuôi náo nức mới. Cái náo nức đem từ một bờ bãi Việt Nam sang Mã Lai đã hết. Đã hết ngay sau khi tôi bị xếp hàng và chịu đựng gậy của lính biên phòng Mã Lai gõ lên đầu. Nhưng mà một đờí chỉ có một lần đến Pulau Bidong thì rất nên biết thêm giòng suối đảo như đã rõ ngọn roi cảnh sát. Tôi chuẩn bị vào khu G.

Ông nhà báo cảnh cáo:

– Đừng bầy đặt thuê thợ chụp ảnh kỷ niệm mà mang họa vào thân.

Tôi hỏi:

– Có thợ chụp ảnh hả, bác ?

Ông nhà báo mỉm cười:

– Có hết, miễn là có tiền. Cậu phải chịu khó tìm hiểu. Hiểu biết nhiều cũng là tai họa. Bởi vậy, cổ nhân mới nói ngu si hưởng thái bình. Nhà Phật thì dạy: Hơn người khác là một cái tội. Tôi vô số tội, tôi hơn người khác vì hiểu biết quá nhiều.

Tôi cười theo :

– Bác muốn cháu trở thành người có tội ?

Ông nhà báo dập điếu thuốc cháy dở:

– Cậu muốn ngu để hưởng thụ hay muốn có tội để khôn?

Tôi đáp :

– Cháu muốn khôn lớn.

Ông nhà báo nói:

– Sự khôn lớn nói ra thì vô cùng. Nó không đơn giản như bằng cấp đã có, như sách vở đã học. Nó là tổng hợp những oan khiên, là chập chùng những ngộ nhận, là dằng dặc những đố kỵ, là lê thê những oán hận, là triền miên những thống khổ! Biến hóa tất cả thành một niềm tin, sẽ san bằng oan khiên, ngộ nhận, đố kỵ, oán hận, thống khổ! Và đó là sự khôn lớn có từ sự hiểu biết.

– Bác nói hơn người khác là một cái tội ?

– Cái tội đối với chim sẻ. Chim sẻ vốn ghét đại bàng. Tại sao ? À, chim sẻ ưa léo nhéo và chỉ biết bay thấp, bay gần. Đại bàng bay cao, bay xa, bay ngoạn mục …

– Sự hiểu biết là tai họa ?

– Như Jesus.

– Như bác?

Ông nhà báo cười ngất:

– Sự hiểu biết của tôi là hôm nay phũ phàng. Tôi muốn ăn cháo lú để quên sự hiểu biết của tôi. Nỗi đau đớn dầy vò tôi là tôi không tìm được quán bán cháo lú. Thế nên tôi cần trở lại Việt Nam.

Tôi hỏi:

– Bác thèm sự khôn lớn đúng nghĩa ?

Ông nhà báo gật đầu :

– Sự khôn lớn đúng nghĩa là sự khôn lớn của những ai biết đem sự hiểu biết của mình mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc, cho nhân loại, cho con người. Mọi mưu cầu khác là phù ảo.

Tôi đốt điếu thuốc mới:

– Bác quả là người hiểu biết.

Ông nhà báo buồn bã:

– Những u ẩn của đời sống giúp tôi hiểu biết nhưng tiếc là tôi chưa khôn lớn. Vì tôi chỉ đem sự hiểu biết của tôi xử dụng vào những công kích lăng nhăng, những phán xét vô tích sự. Tôi vừa mới nhìn rõ tôi ở hòn đảo bi thảm này. Và tôi thấy tôi hôm qua, thứ kiếm sĩ múa đao cùn mà cứ tưởng vung bảo kiếm, phát cỏ dại mà cứ tưởng cứu khổn phò nguy. Không phải thế, không phải thế…

Ông nhà báo chớp mắt:

– Sự hiểu biết của tôi đã gây cho tôi một khẩu nhiệp tệ hại, đã dồn tôi vào vùng cô đơn bủa vây bằng những ngộ nhân nghiệt ngã. Nói tóm lại, sự hiểu biết của tôi chỉ để thoả mãn cái tôi của tôi mà chưa soi sáng nổi cái tôi của tôi, nói chi soi sáng chân lý hay mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc.

Tôi nhả khói thuốc:

– Bác muốn húp cháo lú để quên sự hiểu biết hay để sự hiểu biết soi sáng được cái gì?

Ông nhà báo thở dài:

– Để gạn lọc. Để sự khôn lớn đích thực trưởng thành. Và tôi nghĩ đất Việt Nam sẽ là cái phin giúp tôi tìm lại sự hiểu biết hữu ích để làm đẹp quê hương, làm đẹp đời sống hơn là bất mãn nhằng, nghị luận bậy. Con người trong chiến đấu luôn luôn cao thượng và trang trải. Con người trong yên nghỉ trở nên bệ rạc, hèn hạ. Cậu đã ở lính chưa?

– Đã, thưa bác.

– Lính chiến, lính văn phòng hay lính kiểng

– Lính chiến.

– Cậu nghĩ gì lúc lâm trận ?

– Cháu khó trả lời.

– Tại sao ?

– Vì cháu không còn nhớ hết cảm giác để phát biểu cảm tưởng.

– Giữa biên giới của sự chết và sự sống, người lính chiến sừng sững như một trái núi.

– Vâng, đúng thế!

– Và tâm hồn người lính chiến chót vót ngọn đỉnh núi.

– Vâng, đúng thế.

– Những cái thường hằng là cây cỏ dưới chân núi

– Vâng, đúng thế!

– Cậu hãy là lính chiến, mãi mãi là lính chiến

– Cám ơn bác.

– Sự hiểu biết phải được kinh qua và thể nghiệm cay đắng của đời sống. Tôi muốn cậu chịu khó tìm hiểu, vì thế! Tôi nhắc lại để cậu nhớ: Sự hiểu biết là tai họa. Chúa Jésus đã gặp tai họa. Chẳng thể nào mỗi chúng ta đều thành Jésus. Nhưng tai họa của Jésus là cảm hứng của chúng ta. Hãy chịu đóng đinh rướm máu vì nhiều người, hãy chấp nhận cái tai họa dó. Như thế cậu sẽ không có lần nhìn lại mình để tìm cháo lú mà húp như tôi.

– Thưa bác, cháu cố gắng học tập sống cao thượng, sống vì người quên mình, soi sáng cái ngu của mình và soi sáng cái khôn của người, nghị luận chính bản thân mình và không nghị luận người.

Ông nhà báo vỗ vai tôi:

– Đừng thuê thợ chụp ảnh kỷ niệm picnic.

Tôi cười:

– Cháu nhớ!

Ông nhà báo không muốn tôi mắc vào những tai hoạ nhỏ để dồn tụ thành những ẩn ức lớn. Và sự ẩn ức này, sẽ ngày nào đó, xui tôi múa đao cùn như ông nhà báo đã múa.

Ở Pulau Bidong, có tiền thì có nhiều tiện nghi và cũng có nhiều phiền toái. Chẳng hạn dan diú với cô gái thuyền nhân, mời cô gái ăn chè, uống nước ngọt ở các quán mở nhạc cassette mà cô gái đã giao du mật thiết với cảnh sát Mã Lai, với Task Force là rắc rối to. Nếu không có tiền, không rửng mở thì yên thân. Tôi biết ông Cao-uỷ Long đã nổi cơn ghen và tìm cách đưa tình địch lên đồn cảnh sát. Kết quả vì yêu cô gái thuyền nhân, cậu thuyền nhân ăn no đòn, đầu bị gọt láng cóng và bị làm nô lệ ba tháng. Hình phạt gọt tóc là một hình phạt nhục nhã. Luật pháp Mã Lai chỉ dành hình phạt này cho bọn ăn cắp, bọn du thủ du thực người Mã. Họ đã gọt tóc thuyền nhân can tội nóng máu đánh nhau, thắp nến thức khuya học Anh ngữ, yêu nhầm người yêu của Cao-ủy Mã Lai…

Cao-ủy chính cống, cô Chrismas biết rõ hình phạt man rợ này, biết rõ cảnh sát Mã Lai xúc phạm thân thể người tị nạn một cách thô bạo và cô Chrismas cũng biết rõ hai câu mở đầu của Bản Điều Lệ của HCR: “Kể từ giây phút này, quý vị được bảo vệ an ninh. Không ai được phép xúc phạm tới thân thể của quý vị”, nhưng cô ta nhắm mắt.

Ông nhà báo đã phẫn nộ, xin gặp cô Chrismas yêu cầu bênh vực thuyền nhân. Cô ta đáp gọn: “Những người bị gọt đầu, đánh đập đều là những người tị nạn kinh tế”! Lòng trắc ẩn của HCR đã giảm khi thuyền nhân tăng. Chụp ảnh kỷ niệm là cái tội đáng gọt đầu thì thế giới tự do tự do hơn thế giới cộng sản. Thợ chụp hình là thuyền nhân, dĩ nhiên. Anh ta xoay sở với cảnh sát để mua máy, phim và cảnh sát đem ra Trengganu rửa phim, in ảnh. Tiền bạc chia hai. Task Force rình bắt. Thợ và khách hàng bị gọt đầu! Tôi sẽ không dại dột chụp ảnh kỷ niệm.

Sáng sớm thứ bảy, ba cô Hân, Thi, Hiên, Kiều Nhị và tôi vào khu G. Chúng tôi đem nồi để nấu nước pha cà-phê, mì gói và chục lon Coca. Picnic của chúng tôi thật giản dị. Đi chừng nửa tiếng, chúng tôi tới khu G có suối chảy róc rách, có núi thấp, rừng thưa. Chọn một chỗ thoải mái bên bờ suối, chúng tôi căng mền dựng lều. Sinh hoạt sáng thứ bảy ở khu G khác hẳn sinh hoạt ở trại. Phần đông là tuổi trẻ. Họ vào đây, một số để tạm quên đồn cảnh sát, căn cứ Task Force, Cao-ủy địa phương, SB và hội tề; một số để tìm lại hình ảnh thiên nhiên Việt Nam; một số để ghi nhận chút kỷ niệm Pulau Bidong trước khi chuyển trại; một số để tự do tỏ tình.

Nắng mỗi lúc mỗi hừng hực. Nắng Mã Lai làm đỏ tóc trẻ thơ, làm sạm da thiếu nữ. Tôi không chịu nổi thứ nắng nghiệt ngã nầy. Nhưng mà giữa cảnh tượng thiên nhiên, mầu nắng vô cùng quyến rũ. Nắng làm rực rỡ giòng suối, xanh thắm cỏ lá.

Chuyện trò một lúc chúng tôi chia thành hai nhóm. Ba cô Hân, Thi, Hiền thả bộ xuôi giòng suối. Kiều Nhị và tôi đi ngược. Rồi chúng tôi leo núi. Dấu vết tạm trú của thuyền nhân mấy năm trước còn ngổn ngang. Những lon đồ hộp hoen rỉ. Những xô nhựa vụn vỡ. Những áo quần mục rã. Những cột kèo, mái tôn xếp lớp. Bao nhiêu giọt nước mắt đã ứa ra và thấm hồn núi? Tôi không biết. Trên mặt những tảng đá lớn phẳng phiu, tôi đọc vô số câu viết bằng sơn : Kỷ niệm khốn kiếp Pulau Bidong, Anh đã hôn em tại đây. Mã Lai trường hận. Ghi lại chuyện tình đôi ta . Những câu ngớ ngẩn, thứ chữ nghĩa làm đau đá như vậy đếm không xuể. Bất ngờ, tôi gặp một câu chính khí mà tác giả đã dùng dao khắc vào đá: Sợ mưa nắng quê người phai nhòa lời son sắt nên ta phải dùng gang thép giải tỏ hoài bảo phục quốc của ta: Ta đi chiến đấu cho dân tộc, không đi xin bố thí tự do. Trần Việt Nam cẩn đề. Tôi lặng người vì xúc động. Tự nhiên, rất con nít nghe bà kể cổ tích lâm ly, nước mắt tôi ứa ra. Tôi hình tưởng Tôn Thất Thuyết lưu vong leo núi rút gươm chém đá trút nỗi sầu mất nước, thẹn mình không đủ sức xoay chuyển lại cơ đồ. Ông Trần Việt Nam xem chừng tích cực hơn cả Tôn Thất Thuyết. Ông ấy đang ở đâu? Bao giờ tôi được gặp ông ấy. Giữa biên giới tuyệt vọng là hy vọng. Câu chính khí khắc vào đá của ông Trần Việt Nam đã thôi thúc tôi một nỗi niềm. Và tôi quên những sa đọa của thuyền nhân trong quán trọ trước cổng thiên đường. Nếu tôi nói câu văn chính khí này là câu Kinh Lưu Vong liệu có quá đáng ?

– Anh suy nghĩ gì thế ?

Kiều Nhị đập mạnh lưng tôi.

– Tương lai.

Tôi đáp. Nàng ôm chặt tôi.

– Chúng ta sẽ lấy nhau.

– Hơn cả thế.

– Nghĩa là sao ?

– Là anh muốn chúng ta có con ở đây.

Kiều Nhị sung sướng. Đôi mắt nàng áng lên một chân trời mơ ước. Tôi dấu nàng cảm xúc của tôi sau khi đọc câu văn chính khí của ông Trần Việt Nam. Kiều Nhị chẳng cần biết và nàng cũng chẳng thích biết. Ông nhà báo dạy tôi nhiều bài học xứng dáng. Tôi phải tìm hiểu nhiều nữa. Để khôn lớn. Tôi vừa lớn thêm một chút. Thí dụ tôi không vào khu G, không leo núi, tôi sẽ tưởng Pulau Bidong chỉ có ông nhà báo còn nặng lòng với quê hương. Chắc chắn, người ta phải đi vô cõi thăm thẳm của đời sống người ta mới gặp gỡ niềm bí ẩn.

– Anh ạ !

– Gì?

– Chúng ta tìm một bóng mát.

Chúng tôi đến ngồi dưới gốc cây. Nắng xoáy đá. Đá bốc toả sức nóng ghê gớm. Kiều Nhị choàng tay qua cổ tôi. Nàng nhỏ nhẹ:

– Thế mà đã hơn một tháng rồi, anh nhỉ ?

– Ừ.

– Từ đêm hôm đó…

– Anh định nghĩa tình yêu thế nào?

Tôi dịch đại câu văn của Roger Vaillant :

– Tình yêu là cái gì xẩy ra giữa hai người yêu nhau.

Nàng siết cổ tôi:

– Cái gì đã xảy ra giữa chúng ta ?

Tôi nắm cánh tay nàng:

– Cái gì thật lạ. Có lẽ, anh nên có một định nghĩa tình yêu của hai chúng ta.

Nàng nũng nịu:

– Anh định nghĩa đi …

Tôi nói :

– Tình yêu là sự đón nhận một bất hạnh để kiến tạo một hạnh phúc tuyệt vời.

Nàng òa lên khóc. Tôi ngạc nhiên.:

– Tại sao em khóc ?

Nàng nức nở:

– Hình như em đã….

Tôi xoay người đè nàng nằm xuống :

– Em đã thụ thai ?

Nàng đẩy mạnh khiến tôi bật ngữa. Và nàng vẫn nức nở. Tôi bò tới, nâng nàng dậy. Nàng đưa tay cố thấm nước mắt.

– Em xin lỗi anh.

– Em có lỗi gì đâu ?

– Em sợ. Em rất sợ…

– Không có gì phải sợ hãi cả. Đó là tuyệt đỉnh của tình yêu.

Nàng lắc đầu:

– Em sợ điều khác.

Tôi vỗ về:

– Hãy nói điều làm em sợ hãi ?

Nàng nhìn tôi như con thú bị thương nhìn gã thợ săn còn chắc tay súng.

– Giả dụ không phải là con anh ?

Tôi thở phào rồi ôm nàng, đè nghiến nàng nằm dài trên cỏ.

– Con anh, con anh… Quên niềm bất hạnh đi. Bây giờ chỉ còn là hạnh phúc.

Kiều Nhị im lặng. Nước mắt nàng dạt dào trên khuôn mặt sầu muộn. Tôi hiểu nàng khó quên cái dấu ấn ô nhục mà hải tặc đã nung sắt đỏ ép mạnh vào tim nàng. Mọi an ủi đều là vô ích. Làm sao con người dễ dàng quên nghịch cảnh mình phải chịu đựng suốt đời.

– Em ạ, tôi nói, cả dân tộc đã bất hạnh như em, cả dân tộc đã lênh đênh như em, cả dân tộc đã bị hãm hiếp như em. Suy nghĩ đi em, nỗi đau đớn của chúng ta đâu thấm tháp gì. Hoặc chúng ta ôm nỗi đau đớn để rên siết nghẹn ngào, hoặc chúng ta nương giòng đau đớn để làm tương lai tốt đẹp.

Nàng vòng đôi tay níu cổ tôi. Môi sát môi. Chúng tôi hôn nhau mà nước mắt ràn rụa.

– Anh …

– Em…

– Ngày mai sẽ ra sao ?

– Ngày mai để ngày mai lo, Chúa đã dạy thế.

Tôi xoa bụng nàng :

– Đứa bé này sẽ lo ngày mai, không phải em hay anh lo, nhưng chúng ta có bổn phận phải lo cho nó.

Nàng mỉm cười sung sướng.

—>11


Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »