-11-
Thông cáo của ông đại tá Mỹ đọc oang oang trên Đài Phát Thanh Pulau Bidong. Cứ ba tháng một lần, ông đại tá Mỹ vào đảo tìm kiếm tung tích lính Mỹ mất tích ở Việt Nam qua tin tức lượm lặt của thuyền nhân. Ông nhà báo hỏi tôi:
– Cậu muốn Mỹ bốc đi thật nhanh không ?
Tôi nói:
– Ai cũng muốn đi Mỹ cả, riêng gì cháu.
– Tôi hỏi cậu vì hy vọng cậu mang theo cái thẻ bài của chú GI nào hoặc cậu biết đích xác một nấm mồ của chiến sĩ đồng minh Mỹ.
Nhấp ngụm trà, ông nhà báo tiếp:
– Bộ Quốc-phòng Mỹ tìm thấy mồ của một GI qua “tình báo” thuyền nhân thì gia đình thuyền nhân ấy được định cư ở Mỹ dễ dàng, nhanh chóng.
Ông nhổ bãi nước miếng:
– Nhưng Việt cộng bán hài cốt GI cho chính phủ Mỹ thì giá cắt cổ! Đấy, ngài Ted Kennedy đem sang Hà-nội hai cái Boeing và chỉ dùng một cái chở ba bộ xương lính Mỹ về nước, một cái… tặng Việt cộng.
Ông chửi thề:
– Mẹc, Việt cộng luôn luôn sáng giá. Rốt cuộc đứa nào là kẻ thù của Mỹ đứa ấy được kính nể. Đứa nào là bạn của Mỹ đứa ấy bị chơi xỏ. Đứa nào là đầy tớ của Mỹ, đứa ấy bị chết thảm, bị bỏ rơi tàn nhẫn.
Tôi liếm mép:
– Rất tiếc cháu không có tin tức cung cấp cho Mỹ.
Ông nhà báo kể:
– Lão đại tá nầy nói tiếng Việt giỏi lắm. Lão đọc cả tiểu thuyết Nhất Linh và thích Đò Dọc của Bình-nguyên Lộc. Tôi đã mạn đàm với lão. Miền Nam nằm gọn trong tay lão. Lão nhớ tên hàng ngàn con kinh, hàng ngàn cây cầu. Nói nơi nào, lão vẽ bản đồ nơi đó. Không ai cung cấp tin láo được.
Thanh niên Quang xía vô:
– Cháu khai chiếc trực thăng Mỹ rơi, lão vẽ liền chỗ rơi bên cạnh cây cầu. Lão hỏi cháu tên cây cầu. Cháu bí, lão cười bảo cháu xạo!
Tôi hỏi:
– Có ai cung cấp tin tức chính xác chưa?
Ông nhà báo đáp :
– Toàn huyền thoại. Nào là có người nộp cả chục thẻ bài GI, có người chỉ trại nhốt tù binh Mỹ được Mỹ cho đi liền.
Thanh niên Học chép miệng:
– Biết có hôm nay, giết lén vài thằng lính Mỹ say rượu, dấu giấy tờ và thẻ bài cuả nó rồi chôn kỹ thì nay là ân nhân của dân tộc Mỹ. Ấy, sát nhân biến thành vĩ nhân mấy hồi. Cũng như đồng minh biến thành phản phúc vậy.
Chủ đề của buổi trà đàm hôm nay xoáy vào xác chết lính Mỹ ở chiến trường Việt Nam. Ngày mai thanh niên Quang rời đảo, ngày mai cô Hân rời đảo. Ông nhà báo coi những lon trà cám này là tiệc ly tiễn đưa Quang vào nước Thiên Đường. Quang bị định cư ở Canada nên cay cú Mỹ ra mặt. Anh ta phát biểu:
– Nghĩ tội nghiệp lính Mỹ chết tại Việt Nam đã đem xác về và chưa đem xác về. Tuổi trẻ úa héo ở địa ngục máu lửa, dẫy dụa dưới hầm chông, tan thây vì hỏa tiễn. Rồì tổ quốc dựng Đài Tưởng Niệm ! Và tổng thống Reagan sụt sịt: “Các bạn rất anh dũng trong cuộc chiến mà các bạn không được phép chiến thắng”! Đánh nhau không cần thắng mà cũng bắt con người ta chết thảm. Vậy nên đứa sống sót thì điên, đứa trót chết thì ngu.
Thanh niên Học nghiến răng ken két:
– Giờ thì hiểu rõ Mỹ! Dân nó, nó còn cho chết. Dân mình nó bỏ rơi là lô-gích.!
Ông nhà báo cười:
– Nhưng thuyền nhân tấp nập xin vào Mỹ !
Thanh niên Học xoa cái đầu lởm chởm tóc :
– Kháng chiến nó tuyển mộ chí nguyện quân về Việt Nam ở đâu mà nó không vào Pulau Bidong tuyển mộ? Cháu cam đoan với bác Thanh, kháng chiến vào đây tuyển mộ, tuổi trẻ chúng cháu sẽ đăng ký gần hết. Để mấy tên Mã khốn kiếp át giọng, ức hộc máu mồm. Cháu nói thật, hôm nào chán sống chầu chực hốt rác, chúng cháu cướp súng Task Force nổi loạn. Chỉ cần ba thằng thôi, bọn Mã sẽ xón đái ra quần. Ba thằngViệt Nam đủ bắt Cảnh-sát, Task Force quỳ lạy.
Ông nhà báo đưa mắt nhìn thanh niên Quang:
– Mày đăng chí nguyện quân không ?
Thanh niên Quang lắc đầu:
– Bố ơi, con cần xem Canada nó ghét chuột yêu mèo cái đã.
Anh ta hóm hỉnh:
– Mới lại kháng chiến có dám vào Pulau Bidong đâu!
Thanh niên Học gật gù:
– Bác hiểu rộng bác thấy Mặt trận Kháng chiến ra sao mà lão Trưởng trại huênh hoang qua. Ai nghi ngờ Mặt Trận, lão chụp mũ Cộng sản, ăng-ten.
Ông nhà báo nói:
– Tao không có ý kiến.
Thanh niên Quang bĩu môi:
– Con ngó hình ông lãnh tụ kháng chiến trên báo Việt hải ngoại rồi, xin miễn phê bình.
Câu chuyện đang gay cấn thì thanh niên Học phải lên trình diện đồn Cảnh-sát, thanh niên Quang xin phép đi từ giã bạn bè. Chủ nhật các phái đoàn và Cao-ủy nghỉ, Cảnh-sát, Task Force và hội tề làm việc. Bàn trà còn ông nhà báo và tôi. Ông nhà báo trầm giọng :
– Định cư rồi, những thằng như Học sẽ rất hiếm, những thằng như Quang sẽ rất nhiều. Khi thằng Học ủ ê đó là lúc để tuyệt vọng.
Ông nhà báo định nói với tôi một điều gì quan trọng, nhưng ông ngưng lại ngay khi một ông SB. dẫn một thuyền nhân ghé vào bàn trà.
– Chào bác
– Chào cậu.
– Văn phòng SB. gửi bác anh này.
– Tại sao gửi tôi ?
– Vì bác được thanh niên trên đảo kính nể, nhờ bác bảo vệ anh ấy.
– Tôi từ chối. Trại có Ban An-ninh, cậu gửi anh ấy ở trụ sở an ninh.
Thuyền nhân run rẩy, ấp úng:
– Xin bác cứu cháu.
Thuyền nhân này tên Vân, cả trại đều rõ. Anh ta hai mươi tuổi, vượt biển một mình. Tầu của anh ta gồm hai chục người, có bốn đàn ông, một linh mục, còn lại là đàn bà, con nít. Qua vùng biển Thái Lan, tầu gặp hải tặc. Đàn bà bị bầy cướp hãm hiếp. Đàn ông và con nít bị ném xuống biển. Anh ta may mắn chụp được cái phao. Anh ta ôm phao nhắm mắt cho số phận lênh đênh. Cuối cùng, anh ta dạt vô giàn khoan dầu hoả và được cứu vớt. Tầu dầu đã chở mình anh ta tới đảo hôm thứ tư. Anh ta đã khai đầy đủ chi tiết với SB. và Cảnh-sát. Có một sự thật anh không dám khai là lúc anh giành giật cái phao với vị linh mục, vì bản năng sinh tồn, anh đã đấm linh mục và bàn tay anh còn dấu vết trầy. Cảnh-sát Mã Lai nghi ngờ hạch hỏi. Anh ta trả lời lung tung. Bị tra tấn, anh ta mới khai đúng sự tích vết trầy. SB. thẩm vấn lại, xác nhận anh ta thành thật. Tin tức phóng ra từ miệng lưỡi rắn rết nào đó khiến trại oán ghét anh ta, bảo anh ta sát hại hết thuyền nhân . SB. bảo vệ an ninh cho anh ta. Hôm nay, SB. giao anh ta cho ông nhà báo.
– Cao Ủy mới đủ tư cách cứu cậu.
Ông SB. năn nỉ:
– Cao Ủy không lo vụ này, bác ạ !
– Thì Ban Sưu Tầm Tài Liệu Cướp Biển.
Thuyền nhân quỳ xuống lạy ông nhà báo :
– Cháu lạy bác.
Ông nhà báo nói :
– Tôi cũng tị nạn như cậu thôi.
Rồi đầy lòng trắc ẩn, ông nhà báo nhận lời. Chính ông, ông viết một mẩu tin nhờ Đài Phát Thanh đọc nhiều lần để đồng bào tội nghiệp anh Vân vì anh đã được xác nhận vô tội. Nhờ uy tín của ông nhà báo, nhờ bài viết tha thiết của ông, đồng bào vội vàng đem quà cáp, tiền bạc tặng anh Vân. Ông nhà báo giận dữ SB. lắm.
– Bọn SB. hại người xong thì cứu người!
Anh Vân hoàn hồn. Thong thả, anh kể chuyện hải tặc rồi chuyện Cảnh-sát tra tấn anh. Sự đi tìm tự do của anh quá não nề và đáng là biểu tượng của thân phận tị nạn.
Cao-ủy Christmas đâu biết gì. Thế giới tự do đâu biết gì. Ô nhục của tra tấn – mà lại tra tấn người ôm phao bồng bềnh trùng khơi – không còn là độc quyền của Cộng sản nữa.
– Thưa bác, linh tính cháu cho biết cháu sẽ gặp thêm rắc rối. Anh Vân nói.
– Hết rồi. Khổ như cậu là tột cùng. Ông nhà báo nói.
– Cháu biết vậy đã ở nhà. Đi chui rúc và đến khổ nhục.
– Đừng than vãn nữa.
– Người ta đâu biết linh mục đã đấm cháu túi bụi
– Giữa chết và sống, tất cả đều là con người hèn mọn và con người hèn mọn nào cũng ham sống, sợ chết. Ông linh mục sẽ về Trời xưng tội với Chúa, còn cậu vào đảo ăn đòn Mã Lai.
– Nhưng cháu không khai linh mục đấm cháu
– Cậu công giáo à?
– Cháu đạo ông bà.
Trọn ngày chủ nhật, chúng tôi bận bịu với anh Vân. Qua một đêm, chuyện anh Vân đã chìm vào quên lãng bởi vì, sáng thứ hai, trại ồn ào tiễn người rời đảo. Thủ tục trả mền, trả phiếu lĩnh thực phẩm xong xuôi, thuyền nhân hạnh phúc chờ ca-nô vào đưa ra .
Từ Trengganu, thuyền nhân hạnh phúc tái ngộ Marang và nằm đợi xuôi Kuala Lumpur đến trại Sungei Bisi. Buổi trưa rời đảo thường tới rất chậm. Rất chậm để tìm cách dấu diếm thư nhờ bỏ ở Sungei Bisi. Mọi sách với hình ảnh, thư từ đã do TMS phát đều phải đóng dấu của Task Force. Trước khi xuống ca nô, hành lý bị lục soát kỹ lưỡng. Đúng 13 giờ, Đài Phát Thanh Pulau Bidong loan báo:
– Chú ý, chú ý… Đồng bào đã có tên trong danh sách rời đảo chuẩn bị ra cầu Jetty.
Thông báo này không thêm câu “Không chấp nhận sự chậm trễ và vắng mặt”. Bản nhạc của Lê Uyên Phương do Khanh Ly hát. “Giờ này còn gần nhau…” Thuyền nhân tay xách nách mang ra cầu Jetty. “Ngày mai ta không còn thấy nhau”… Thuyền nhân đã ngồi xếp hàng chờ khám xét. Áng văn chương tiễn đưa lâm ly và mùi mẫn – người ta bảo do nhà văn Hoài Điệp Tử biên soạn – do một cô xướng ngôn viên hạng nhất của đài Bidong đọc sướt mướt, bi ai. Lúc ấy, cảnh tượng trên cầu Jetty vô cùng nhộn nhịp. Chàng nắm tay nàng. Nàng nắm tay chàng. Mắt lệ rưng rưng. Lời lời hẹn hò thổn thức. Những trái tim tưởng chừng như muốn rạn nứt theo giọng cô xướng ngôn viên. Cả “gia đình” tôi tiễn cô Hân rời đảo. Cô Hân muốn nói chuyện riêng với tôi giây lát. Kiều Nhị không phản đối. Hai chúng tôi bước xa mọi người vài bước.
– Anh Hoài!
– Cô cần dặn dò tôi điều chi ?
– Em yêu anh !
Tôi sững sờ. Cô Hân ôm chầm lấy tôi khóc nức nở:
– Anh vô tình quá.
Tôi gỡ nhẹ vòng tay cô ra:
– Tôi không hề biết, xin lỗi cô nhé !
Cô Hân sụt sùi :
– Em mơ ước sẽ gặp anh.
Tôi im lặng. Đúng vào cái giây phút não nùng đó Nghìn trùng xa cách của Phạm Duy đã bắt nắng nhiệt đới dịu đi bằng tiếng hát Thái Thanh. Thuyền nhân lần lượt xuống ca-nô. Cô Hân mỉm cười đầy nước mát chào tôi :
– Em đi, anh nhé! Em sẽ viết thư thăm anh.
Chúng tôi vẫy tay từ lúc cô Hân bước từng bước buồn bã trên cầu Jetty cho đến lúc ca-nô khuất dần. Nước mắt rơi nhiều thấm cát nóng bỏng. Hôm nay tôi mới thấy tình nghĩa Pulau Bidong. Cái triết lý muôn thuở của cuộc sống vẫn vậy: Gần nhau thì ghét, xa nhau là thương . Và đã xa nhau là vinh viễn mù khơi.
Trên đường về, Kiều Nhị hỏi tôi:
– Tại sao Hân ôm anh khóc ?
Tôi đáp :
– Anh không hiểu.
Tôi không hiểu tại sao Hân nói yêu tôi thì đúng hơn. Từ lúc nào Hân đã yêu tôi? Nàng thừa biết tôi yêu Kiều Nhị tha thiết, tại sao còn mơ ước sẽ gặp tôi.
– Hân nói gì với anh ?
– Cô ấy cám ơn chúng ta những ngày chung sống. – Tôi cố nói dối.
– Gì nữa.
– Và dặn săn sóc em chu đáo.
– Em tin anh.
– Nhỡ anh nói dối ?
– Anh không nói dối.
Tôi ân hận đã nói dối Kiều Nhị. Đôi khi, nói dối cũng đem lại hạnh phúc cho người nghe. Tôi không yêu Hân, tôi chưa yêu Hân. Thế là đủ. Tự nhiên, hồn tôi trống vắng đường về. Hay là tôi vừa mới yêu Hân.
– Ngày tiễn em, anh có khóc không ?
– Không .
– Tại sao anh không khóc ?
– Anh không thích giống người khác.
Kiêu Nhị thôi hỏi. Chúng tôi lặng lẽ bước song đôi. Chiều hôm ấy, Pulau Bidong buồn chi lạ.
—>12