-2-
Một trăm năm mươi bốn thuyền nhân ngồi bó gối trên bãi cát vùng biển của thế giới tự do. Chúng tôi bị chia thành hai nhóm: Nhóm đàn bà, con nít và nhóm đàn ông. Lính biên phòng Mã Lai, thứ lính thời bình bu quanh chúng tôi, làm ra vẻ quan trọng lắm. Họ thay phiên nhau, cầm khúc cây dài, gõ lên đầu từng người bọn tôi, điểm số. Hành lý chúng tôi, xếp gọn một chỗ. Dưới nắng sớm, chúng tôi im lặng chịu đựng sự tiếp đón chẳng mấy nồng nhiệt. Lính Mã Lai đuổi hết đám dân Mã Lai hiếu kỳ đứng xa ngó chúng tôi, cười nói, chỉ chỏ. Một người lính to lớn, hất hàm “leader leader ? ”
Ông già Lân mau miệng:
– Anh Phước, nó muốn hỏi anh đấy.
Người lính bước gần ông Lân, gõ đầu ông:
– You speak English ?
Ông Lân “yes, yes” lia lịa. Người lính bảo ông Lân đứng dậy và lôi ông và anh Phước ra một nơi vắng. Lát sau, cả ba trở lại. Anh Phước nói:
– Lính Mã Lai thích đồng hồ kỷ niệm. Họ xin hết đồng hồ của chúng ta, mong quý vị tặng họ.
Thuyền nhân tự gỡ đồng hồ nộp cho lính biên phòng Mã Lai. “Thank you very much” xong, người lính vỗ vai leader Phước. Anh Phước nói tiếp:
– Lính Mã Lai sẽ không khám xét hành lý. Họ cần vài cái nhẫn vàng để mua thực phẩm, nước giải khát cho chúng ta.
Không ai gỡ nhẫn cưới hay móc vàng dấu diếm hải tặc “thân tặng” lính Mã Lai cả. Khi con người thoát hiểm, con người “phản tỉnh” để thấy rằng vàng trên đất liền quý gấp vạn lần nước trong cơn khát giữa đại dương. Con người phục hồi bản chất bình thường của nó. Rốt cuộc, ông Hân đành hối lộ lính Mã Lai bốn cái nhẫn hai ly, đánh đổi sự dễ dàng tị nạn. Vàng của ông Hân hiệu quả tức thì. Chúng tôi được di chuyển vào phía trong dưới những bóng cây lớn. Lính Mã Lai đem nước đá cho chúng tôi uống. Tôi đã thèm ly nước đá, thèm không tả. Bây giờ tôi dửng dưng. Lính Mã Lai vừa mở miệng xin vừa chộp của chúng tôi đủ thứ. Từ cái bi-đông đến cái phao nhãn hiệu USA. Lính Mã Lai soi mói hành lý của chúng tôi. Tin tức thuyền nhân Việt Nam trôi dạt tới đây loan truyền thật lẹ. Hàng chục con buôn vàng phóng xe Honda đến, mời ông Hân, anh Phước hút thuốc và gạ mua vàng với giá rẻ mạt. Thế giới tự do mà thuyền nhân mơ ước đấy. Rặt lũ kên kên mỏ nhọn mổ xuống những nỗi đau còn mưng mủ, mổ xuống nỗi thất kinh chưa hoàn hồn. Con buôn vàng rồi an ninh lãnh thổ viếng thuyền nhân. An ninh lãnh thổ mong thuyền nhân đối xử đẹp như thuyền nhân đã đối xử với lính biên phòng. Ông Lân thông dịch. Anh Phước nài nỉ thuyền nhân. Anh ta vẽ ra chân trời định cư rực rỡ. Và những chiếc nhẫn thoát hải tặc đã vào tay an ninh lãnh thổ Mã Lai.! Tránh né cướp biển để dâng biếu cướp cạn.
Đến trưa, cảnh sát quốc gia Mã Lai xuất hiện. Chúng tôi khai báo tên tuổi, địa chỉ ở Việt Nam. Đàn bà, con gái được nữ cảnh sát dẫn tới chỗ vắng khám người và hành lý. Đàn ông bị cởi quần áo, bị xét kỹ lưỡng hơn. Cảnh sát thấy nhiều nhẫn vàng, đô la Mỹ nhưng không tịch thu. Chúng tôi yên tâm. Buổi chiều chúng tôi được phát mỗi người một gói cơm nóng với cá rán, thịt xào. Nước cam tha hồ uống. Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ, hội viên của Hồng Thập Tự quốc tế đến với nhiều chức sắc an ninh địa phương. Một vị chức sắc gọi anh Phước. Anh Phước gọi ông Lân. Vị chức sắc hỏi tại sao mới dạt vào Mã Lai mà đã mua được sữa và quà bánh. Anh Phước khai thật. Vị chức sắc bèn giao công tác thu mua nhẫn vàng của thuyền nhân cho ông Lân. Ông Lân kẹt cứng. Vị chức sắc, dân Mã Lai chính cống, còn rất trẻ, dong dỏng cao, đầy quyền uy. Vị ấy sai chúng tôi tưới dầu đốt cháy con tàu Hạnh Phúc và kể công:
– Đốt cháy tầu là các anh được bảo đảm tự do. Vậy các anh nên biết điều. Tôi biết, các anh có nhiều vàng.
Vị ấy bám chặt ông Lân. Tội nghiệp ông Lân, chẳng ai chịu bán vàng giá rẻ. Buổi tối, chúng tôi vào làng ngủ tạm trong cái quán chợ. Tôi nhìn 154 thuyền nhân và nghĩ bụng, nếu xuống tầu SS 1348 IA, tầu sẽ không chứa hết. Vậy mà, lúc hốt hoảng, lúc phải đi tìm sự sống ở cái chết, con người thích nghi cả hoàn cảnh nghiệt ngã khó tưởng tượng. Vị chức sắc Mã Lai bỏ về hẹn trưa mai sẽ tới. Ông Lân than thở với tôi:
– Này cậu, năm 1965 tôi đã tháp tùng Thủ-tướng nước Việt Nam Cộng Hoà sang Mã Lai. Tôi đã được đón chào bằng những phát đại bác, được duyệt toán lính danh dự, được dự tiệc cùng Thủ-tướng Abdul Rhaman và vua Mã. Năm 1983, tôi lại sang Mã Lai, lần này tôi không xuống phản lực cơ ở Kuala Lumpur mà ghé tầu gỗ vào bãi biển Prahang.
Tôi nói:
– Ông được đón chào bằng gậy gõ lên đầu và ăn bốc.
Ông Lân cười méo xệch:
– Mất nước nhục thật. Xưa mình sai Mã Lai lái xe, nay Mã Lai sai mình mua rẻ nhẫn vàng!
Ngủ một đêm, tắm gội thoải mái, chiều hôm sau chúng tôi chuyển đi nơi khác. Ông Lân không mua được nhẫn, vị chức sắc Mã Lai tức giận. Rình cơ hội điểm số, vị chức sắc hoạnh hoẹ và bợp tai ông già Lân một cái. Ông Lân tái mặt. Tự do của thế giới tự do đó! Chúng tôi lên hai chiếc xe buýt về tỉnh Kuantan và tạm ngủ ở trụ sở của Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ Mã Lai. Đàn bà, con nít ngủ trong nhà. Đàn ông ngủ ngoài sân. Trước giờ phát cơm nước, nhân viên của Cao Ủy Tị Nạn LHQ tập họp chúng tôi lại và đọc điều lệ của Cao Ủy Tị Nạn LHQ. Tôi nhớ hai điều đầu tiên:
– Kể từ giờ phút nầy, quý vị được bảo vệ an ninh.
– Không ai được phép xúc phạm đến thân thể của quý vị.
Nhân viên của Cao Ủy Tị Nạn là người Mã Lai. Ông ta đọc xong thì đứng nhìn chúng tôi xếp hàng lãnh cơm. Vị chức sắc Mã Lai cũng đứng đó, mặt hầm hầm. Khi ông Lân lãnh cơm, vị chức sắc tát trả thù ông Lân cái nữa, trước mặt nhân viên Cao Ủy Tị Nạn, người vừa đọc câu “Không ai được phép xúc phạm tới thân thể của quý vị”! Ông Lân định phản ứng. Tôi vội kéo ông đi.
– Bọn Mã Lai cả, ông đừng dại dột….
Ông Lân nín thinh. Đêm đó, nhiều thiếu nữ bị xúc phạm thân thể đến nổi không dám ngủ. Sáng hôm sau uống cà phê sữa và bị…lao động quét sân, rửa cầu tiêu, dẫy cỏ, sửa sang hàng rào. Nhân viên Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ tỉnh Kuantan cầm gậy chỉ huy chúng tôi y hệt tên cán bộ cộng sản ở trại tập trung lao cải. Nó quất chúng tôi khi lùa chúng tôi ra làm việc. Lênh đênh biển khơi mấy ngày mệt mỏi chưa hoàn hồn, thuyền nhân Việt Nam bị Hội Trăng Lưỡi Liềm Đỏ, hội của nhân đạo, của cứu giúp nước Mã Lai đầy đoạ như cộng sản đầy đoạ tù nhân. Mã Lai lười biếng và ở dơ bẩn vô cùng. Nó thầu chúng tôi hai ngày để dọn sạch sẽ, đẹp đẽ trụ sở của nó và trả công chúng tôi nước đá lạnh! Rồi chở chúng tôi tới Marang. Đêm Marang là đêm tủi nhục. Các bà các cô bị sờ mó, bóp nắn tơi bời. Bọn lính Mã Lai còn gạ gẫm các cô làm tình với chúng nó. Rất may, sáng sau, chúng tôi đi Trengganu rồi xuống ca-nô vào Pulau Bidong.
Pulau Bidong, nơi tôi mong càng đến sớm chừng nào tốt chừng nấy. Ở đó có Cao Ủy Tị Nạn, có phái đoàn Mỹ, Úc, Gia Nã Đại, Pháp…, chắc chắn thuyền nhân “được bảo đảm an ninh” và “không ai được xúc phạm tới thân thể”. Ở đó, tôi sẽ đánh điện tín về Sàigòn báo tin “chiến thắng”, sẽ chóng đi định cư tại đệ tam quốc gia. Ca-nô rẽ sóng lướt mau. Khi tâm hồn bình thản, con người không cần quan tâm thời gian nữa.
Chúng tôi ghé Pulau Bidong. Xếp hàng hai trên chiếc cầu gỗ dài từ bờ biển ra tận chỗ nước sâu, tay xách hành lý, dáng điệu mệt mỏi, thuyền nhân đi vào trại tị nạn như tù nhân đi vào trại tập trung. Chúng tôi được lùa vào căn nhà mái tôn đối diện đồn cảnh sát Mã Lai . Bên ngoài hàng rào kẽm gai , thuyền nhân đứng vẫy chào mừng thuyền nhân mới. Cảnh sát Mã Lai xua đuổi, đánh đập. Tôi cảm giác một nỗi niềm bất hạnh đâm chồi lên hạnh phúc đói khát, chìm nổi của mình.
Chẳng khác chi cảnh tượng tù nhân cộng sản chuyển trại, thuyền nhân ngồi bó gối dưới đất chờ lệnh lạc. Tôi nhìn tấm thẻ hành sự đeo trước ngực một thanh niên Việt Nam. Hai mẫu tự SB. muốn trùm kín tấm thẻ. Tôi đang ở phòng làm việc của Special Branch. Nhân viên SB. toàn thanh niên nam, nữ. Nam mặc quần xà-lỏn, quần soọc. Nữ mặc áo đầm phát chẩn. Trưởng phòng SB. xuất hiện. Ông ta giới thiệu trưởng Khối Xã-hội và ngỏ vài lời với đồng bào:
– Lát nữa, hai vị chức sắc của Task Force và Cảnh sát sẽ tới. Đàn bà có nữ trang cứ việc đeo, vàng lá thì phải khai báo. Cảnh sát giữ vàng giùm đồng bào, chừng đi định cư họ sẽ trả lại đầy đủ. Sách vở giấy tờ, đồng bào nộp trước. Cảnh sát kiểm tra xong sẽ tịch thu hoặc cho phép xử dụng. Thưa đồng bào, đây là phòng Hồ sơ lý lịch, một ngành đặc biệt của tình báo Mỹ và Mã Lai. Vậy lúc làm thủ tục, xin đồng bào chớ dấu diếm điều gì.
SB. là chi nhánh của CIA. Thảo nào các cô cậu SB. quan trọng đến lạnh lùng. Thuyền nhân lo lắng. Tôi đã trải qua năm nhà tù, bốn trại tập trung của cộng sản và tôi thấy sợ nhân viên SB. của Pulau Bidong hơn công an chấp pháp.
Viên đại úy cảnh sát Mã Lai và viên đại úy đại diện đại tá Task Force đã tới. Trưởng phòng SB. yêu cầu đồng bào vỗ tay. Chúng tôi vỗ tay chán nản. Tôi nhìn rõ sự khúm núm, sợ hãi lăng xăng của Trưởng phòng, Trưởng khối và nhân viên SB. khi gần gũi chức sắc Mã Lai mà ngao ngán. Càng ngao ngán cảnh bị ngồi xổm sát khít nhau. Vỗ tay hoan nghênh Mã Lai vừa dứt, thuyền nhân lần lượt đứng đậy vô căn phòng nhỏ để SB. Việt Nam khám xét thân thể, hoạnh hoẹ tứ tung dưới sự chứng giám của Mã Lai . Tất cả những thuyền nhân cố tình dấu diếm, SB. Việt Nam đòi tịch thu thì Mã Lai cho lại hết. SB. Việt Nam tận tình soi mói, rờ nắn. Đồng bào ta cả đấy. Dân tị nạn cả đấy. Chỉ cần một chút quyền lợi, một chút quyền hành, những đứa ngu dốt sẽ gây ra những vết ô nhục cho giống nòi của chúng.
Khám xét đã đời, chúng tôi khai lý lịch và lý do rời Việt Nam với các cô cậu SB. Cô tình báo SB. 17 tuổi, mặc đầm hái nho, chấp pháp tôi:
– Sau ngày giải phóng, chú còn dạy học, vậy chú dạy trường nào?
– Pétrus Ký.
– Trường Lê Hồng Phong.
– Phải.
– Chú làm ơn vẽ cái sơ đồ tổ chức của trường Lê Hồng Phong.
– Tôi không biết vẽ.
– Tại sao?
– Vì tôi dạy Toán thì chỉ biết dạy Toán.
– Chú không sinh hoạt à?
– Có. Tôi họp bàn giáo án, giáo trình.
– Chú đã vào Đảng chưa?
– Đảng nào?
– Đảng cộng sản.
– Đảng cộng sản không thèm cho tôi vô đâu cô ạ!
Cô tình báo SB. nhìn thẳng mặt tôi:
– Chú nói sao?
Tôi nhịn hết nổi :
– Ngụy quân, ngụy quyền, bỏ trường vượt biên, sáu năm tù, vào Đảng được không?
Cô tình báo SB. cau có:
– Chú ở đường Công Lý, xin chú cho biết những cơ quan cộng sản trên đường Công Lý.
Tôi đáp gọn:
– Dinh Độc Lập!
Thoát khỏi cửa ải tình báo SB. đầm hái nho, tôi qua cửa ải tình báo SB. quần xà-lỏn. Cái cung cách thẩm vấn thuyền nhân vừa ghé đảo của SB. đầm hái nho và quần xà-lỏn nặng tính chất đe doạ phủ đầu. Nó ngô nghê và lố bịch. Nó quá đà một thân phận tôi đòi hạng bét trên đất nước Mã Lai. Những thuyền nhân bị SB. quần thảo xong thì được nhân viên Khối Xã-hội cho ăn mì gói nguội tanh. Phải mất ba giờ mới hoàn tất thủ tục tình báo Special Branch. Ông chủ tầu SS 1348 IA khai báo lâu nhất. Kế đến “leader” Phước. Trong khi chờ đợi các Trưởng khu đến dẫn về nơi tạm cư, tôi có dịp quan sát cơ quan Special Branch. Hai sự vật bắt tôi suy nghĩ là cái tủ lạnh và cái cầu tiêu. Cái tủ lạnh chứa nhiều chai nước lạnh. Nhân viên SB. kiêu hãnh mở tủ lạnh rót nước lạnh uống thoải mái. Cái cầu tiêu ghi đậm nét tiếng Anh:“SB. staffs, only”. Ly nước lạnh và chỗ tiểu tiện, đại tiện riêng biệt đã là một ân huệ vĩ đại rồi.
Ông Hân nói nhỏ với tôi:
– Những người canh me đã tố cáo tôi dấu nước để họ suýt chết khát.
Tôi hỏi:
– Bác trả lời tình báo SB. ra sao?
Ông Hân buồn bã:
– Tiết kiệm nước để phòng đường xa.
– Tình báo SB. nghĩ thế nào?
– Họ bảo sẽ điều tra.
Chủ tầu SS 1348 IA từng vào tù vì tội vượt biên. Ông âm thầm tổ chức chuyến đi riêng toàn bộ gia đình. Anh Phước phải giao du với công an Nhà Bè hàng năm tốn phí vô kể. Chuyến đi thành công, cha con ông Hân rất mừng và ông đối xử với mọi người như nhau, bất kể canh me, công an bán vé hay chính thân nhân của ông. Vậy mà có kẻ tố cáo ông Hân. Họ quên mất rằng, giữa đại dương, một thuyền nhân loay hoay nhúng áo xuống nước biển bị rớt, ông Hân lui tầu vớt thuyền nhân đó.
Anh Phước phân trần:
– Họ tố cáo tôi bắt họ nhẩy xuống biển đẩy tầu.
Tôi nói:
– Tình đời nó thế đấy, anh Phước ạ! Những kẻ có lòng thường bị hàm oan.
Anh Phước lo ngại:
– SB. họ muốn làm phiền mình.
Tôi cười:
– Cuối cùng anh vẫn sang Úc thôi.
SB., thuyền nhân sợ hãi SB. hơn hải tặc. Các cô cậu tình báo đầm hái nho và quần xà-lỏn đã nạt nộ, đe doạ những thuyền nhân yếu bóng vía hơi kỹ. Mỗi không gian và mỗi thời gian, chúng ta đều thấy lộ ra một hạng người thích làm đầy tớ giá rẻ cho ngoại nhân để quên tình nghĩa đồng bào, để vắt chanh, sát muối lên vết thương còn tươi rói của đồng bào họ. Tôi đã khinh bỉ bọn cờ đỏ sư đoàn 304. Tôi càng khinh bỉ bọn SB. cầy cáo. Tại sao chúng nó nhẫn tâm hành hạ tinh thần những thuyền nhân đã bạc nhược thể xác? Ai cho chúng có quyền uy tình báo mạt hạng đó? Có lẽ cái tủ lạnh và cái cầu tiêu.
Tôi chưa kịp tìm chữ nghĩa chính xác cho bọn SB. đảo Pulau Bidong thì chú Tâm mếu máo cầm tay tôi :
– Hỏng rồi, hỏng rồi, anh ơi!
– Sao?
– Nó bảo em khai đúng ngày, tháng, năm sinh. Em khai đúng.
– Sao nữa?
– Em ký tên xong xuôi, nó mới nói rằng em không được hưởng quy chế con quân nhân vì em đã thành niên.
– Xin khai lại.
– Nó không cho. Nó mắng mỏ em.
Chú bé Tâm vượt biên một mình. Cha chú đang nằm ở trại cải tạo miền Bắc nước Việt Nam . Chú ra đi mang theo quân số, cấp bậc, ngày nhập ngũ của cha chú, hy vọng con sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, phái đoàn Mỹ nhận ngay. Nhưng thằng SB., thằng tình báo quần xà-lỏn ác độc đã không giúp đỡ chú nhỏ. Nó doạ nạt chú nhỏ khiến chú nhỏ khai thật năm sinh.
– Đừng lo, Tâm! Anh sẽ kiếm người hiểu biết gỡ rối dùm em.
– Được không?
– Được mà. Nếu không được, thiếu gì nơi định cư dưới ánh mặt trời, cần quái chi Mỹ quốc.
Các vị Trưởng khu đã đến nhận thuyền nhân mới . Như những tên Trưởng khu ở đề lao Gia Định vậy. Tầu SS 1348 IA bị phân tán. Gia đình ông Hân lên khu ? . Những gia đình khác tới khu B, khu C và khu G. Tôi về khu A. Căn nhà của tôi xây dựng bằng thân cây nhỏ, mái tôn, có gác. Ông nhà báo đứng tên chủ gia đình . Ông ở tầng dưới với vài người đứng tuổi. Tôi ở tầng trên với bốn cô con gái không một chút liên hệ từ quê nhà. Một cô tặng ngay tôi thùng nước giếng bảo tôi đi tắm gội. Ông nhà báo cho tôi cái áo thung mới và cái quần soọc. Sau đó cô gái nhóm bếp nấu nước sôi làm mì gói thịt bò hộp và pha cà-phê mời tôi. Mọi người nghe tôi kể chuyện tầu SS 1348 IA. Tôi nhả khói thuốc, hớp từng ngụm cà-phê, nhìn ông nhà báo ông nhà buôn, ông công chức và bốn cô gái. Và tôi quên bọn SB., cái tủ lạnh, cái cầu tiêu.
“Cậu vừa đến, chưa rõ sự tình đâu. Phải nằm mục đảo thì mới ngậm ngùi”, ông nhà báo nói thế. Tôi không muốn nằm mục đảo nhưng tôi muốn rõ sự tình, cái sự tình ấm áp và luôn cả cái sự tình bạc bẽo. Một đời tù, những nhà tù, những trại tập trung, những lần chuyển trại cơ chừng chưa đủ nghẹn ngào, cay đắng. Có thêm một thời tị nạn, một chuyến vượt biển, may ra sẽ thấm thía nguồn cơn. Người ta thoát địa ngục đi về đâu nhỉ? À, người ta sẽ lên thiên đàng. Quê hương tôi đang là địa ngục. Tôi rời bỏ địa ngục Việt Nam để lên thiên đường Mỹ quốc, Úc quốc, Gia-nã-đại quốc, Pháp quốc…Mỗi thuyền nhân chọn lựa một thiên đường. Nhưng trước khi cổng thiên đường mở, thuyền nhân phải ăn chực, nằm nhờ ở các quán trọ. Pulau Bidong là một trong những quán trọ buồn tênh.
—>3