QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 62 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 3

❊ ❊ ❊

-3-

Bốn cô gái đều độc thân. Mỗi cô theo một chiếc tầu vượt biển và các cô đến Pulau Bidong ngày tháng khác nhau. Cô Hiền làm thông ngôn cho phái đoàn Mỹ. Cô Hân giúp việc ở Khối Giáo-dục. Cô Thi dạy con nít song ngữ. Riêng cô Nhị, cô gái nhóm bếp nấu mì, pha cà-phê mời tôi hôm tôi vừa ghé đảo, cứ nằm trên gác suốt buổi. Cô Nhị có vẻ buồn bã, đôi mắt, dường như lúc nào cũng muốn khóc. Thủ tục kê khai lẩm cẩm của tôi đã xong, chỉ còn chờ tuyên thệ với Cao Ủy và lãnh thẻ tị nạn. Ông nhà báo dẫn chú nhỏ Tâm lên gặp Cao Ủy và Cao Ủy đồng ý Tâm điều chỉnh năm sinh. Tên tình báo quần xà-lỏn SB. thật ác độc. Sáng nay tôi dậy muộn. Cô Nhị ngồi bên khung cửa nhỏ của căn gác cây lẹp xẹp nhìn xuống sân vũ cầu. Cô quay lại, hỏi tôi:

– Em pha cà-phê mời anh nhé?

Tôi nói:

– Cám ơn cô, tôi khoẻ rồi.

Cô Nhị vân vê nẹp áo:

– Em muốn được pha cà-phê mời anh.

Tôi cười:

– Tùy ý cô đấy.

Cô gái bỏ tôi với những suy nghĩ ngọt bùi. Tôi hơi hơi vô tình vì chưa hỏi các cô “lý do rời Việt Nam”. Nếu căn gác tị nạn thê thảm này là thiên thai, tôi đã là Từ Thức. Một Từ Thức khốn khổ trên một thiên thai khốn khó. Bốn tiên nữ của tôi cùng đẹp và cùng duyên dáng. Nhưng tiên nữ Nhị tưởng chừng khoác niềm u uẩn lên vẻ đẹp phiền muộn. Và mái tóc cô, con suối dài rì rào những nuối tiếc xa xăm. Tiên nữ Nhị đang leo cầu thang, đang leo từng bậc của lối dốc thiên thai. Nàng leo dốc thiên thai với ly cà-phê đen và gói thuốc Rothmans.

– Cô không uống cà-phê à, cô Nhị?

– Em chưa bao giờ uống cà-phê cả.

– Nhưng cô pha cà-phê ngon lắm.

Tôi bóc gói thuốc lá, ngần ngại:

– Mà…mà…

Cô Nhị hiểu ý tôi:

– Bác Thanh, bác nhà báo, đã giúp em đủ thứ. Bác ấy xin định cư với con trai ở Na Uy. Phái đòan Na Uy không vô đảo nên phải đợi cả năm, chờ đợi thông báo của Toà đại sứ Na Uy tại Kualar Lumpur. Con trai bác Thanh gửi tiền đều đều, anh ạ!

Tôi bật lửa mồi điếu thuốc;

– Còn cô, cô sẽ định cư ở quốc gia nào?

Cô Nhị bẻ bão tay:

– Em, em chả muốn định cư nữa. Mời anh uống cà-phê, kẻo nguội.

Tôi nâng ly, cái ly từ vỏ chai coca-cola mài nhẵn miệng, nhấp một ngụm.

– Thiếu đường không, anh?

– Vừa độ, không ngọt, chẳng đắng.

Tôi nhả một vòng tròn khói. Vòng tròn khói bay thẳng vào mặt cô Nhị. Cô nghiêng đầu tránh né.

– Tại sao cô không muốn định cư?

Cô Nhị ôm mặt khóc . Cô khóc nức nở. Tôi để mặc cô gái khóc. Khi người ta đau khổ, nước mắt là niềm an ủi duy nhất. Mọi khuyên can đều nặng tính chất đãi bôi. Những tiếng ồn ào phía dưới, chung quanh tôi lắng đọng. Tôi chỉ còn nghe những giọt nước mắt của cô gái thuyền nhân rụng xuống nỗi oan khiên nào đó trong thời đại của tôi. Cô Nhị ngước mặt nhìn tôi.

Tôi đã uống cạn ly cà-phê và đang nhả khói thuốc vào vùng bất hạnh mơ hồ. Cô Nhị lau nước mắt.

– Em làm phiền anh?

– Không đâu.

– Em hứa sẽ không khóc nữa.

– Cô cứ khóc, cô Nhị ạ! Đời sống chẳng bao giờ làm nên bằng toàn những tiếng cười. Theo tôi, ý nghĩa của đời sống lung linh trong những giọt nước mắt tủi nhục. Cô có đọc truyện Tấm Cám không nhỉ?

– Thưa anh, có ạ!

– Vậy hãy bắt chước con Tấm, khóc đi, khóc nữa đi, rồi cô sẽ gặp ông Bụt. Phải biết đau khổ mới hiểu giá trị của hạnh phúc. Mà, ta nói chuyện khác .

Tôi bỏ mẩu thuốc vô ly cà-phê đã cạn:

– Cô có thân nhân ở ngoại quốc chứ?

Cô Nhị gật đầu.

– Ở đâu?

Cô Nhị khẽ đáp:

– Mỹ.

– Sang Mỹ đợi chừng bao lâu?

– Nếu phái đoàn Mỹ ở đảo lâu thì họ kịp mở hồ sơ nhiều tầu và rời đảo sớm. Nhưng tới Sungai Besi nghe nói, vô số vấn đề rắc rối.

– Cô đến Pulau Bidong được bao nhiêu ngày rồi.

– Trước anh mười hôm.

– Còn mới quá.

– Vâng ạ, còn mới. Từ bữa em đến, chưa có phái đoàn nào vô. Tầu cứ nằm ụ, đã hàng chục cái.

– Cô cũng ở Sàigòn?

– Vâng.

– Vẫn đi học?

– Vâng.

– Học gì?

– Văn. Em học Trưng Vương, năm 1977 đậu tú tài chế độ mới và em học tiếp Đại học Văn Khoa cũ. Học Văn ở trường, học Anh văn ở nhà.

– Ba má cô đã định cư bên Mỹ?

– Anh ruột em. Ba má em còn sống tại Sàigòn.

– Cô sẽ học nữa.

– Vâng.

– Lý do nào khiến cô rời Việt Nam?

– Em thấy đời sống càng ngày càng vô vị tẻ nhạt

– Bây giờ cô thấy đời sống ra sao?

Cô Nhị lại khóc. Để yên cô khóc, tôi bỏ xuống nhà. Ra giếng xách thùng nước về đánh răng, tắm gội rồi tôi ra phía trước uống trà với ông nhà báo. Một gói mì đổi được mấy chục gói trà cám, tha hồ trà đàm. Ông nhà báo kiếm gỗ và cây đóng cái bàn mộc mạc. Với hai cái ghế dài, chúng tôi ngồi uống trà bằng lon Seven-up mài thủng một mặt.

– Bác Thanh ạ, cháu có điều thắc mắc.

Ông nhà báo ngó tôi chăm chăm:

– Cậu làm con bé Kiều Nhị khóc, phải không?

– Không, cháu thắc mắc tại sao cô ấy khóc.

– Tội nghiệp con bé.

Ông nhà báo thở dài:

– Giả dụ cậu là cô gái trinh trắng, cậu gặp hải tặc Thái Lan, những gì xảy ra, cậu nghĩ gì?

Tôi cắn muốn nát môi:

– Cháu sẽ khổ nhục suốt đời.

Ông nhà báo ngậm ngùi:

– Thắc mắc của cậu được giải toả rồi đó.

Kiều Nhị đã gặp hải tặc. Những kẻ khốn nạn vừa lần chuỗi hạt niệm Phật vừa hãm hiếp thuyền nhân. Chúng đã quên tội ác của chúng nhưng tội ác của chúng là ung thư trong tâm hồn thuyền nhân.

Kiều Nhị đã mang dấu tích ô nhục, khôn, nàng đã mang lương tri của lịch sử và dân tộc Thái Lan theo chuỗi tháng năm lưu vong đòi đoạn. Nàng đã ngồi khóc ở quán trọ trước cổng thiên đường.

– Có ai biết đâu, thưa bác?

– Cậu nói sao?

– Ai biết chuyện cô Nhị mắc nạn.

Ông nhà báo nhổ toẹt bãi nước miếng:

– Bọn đi chung tầu với con bé, bọn SB. , rồi cả mấy đứa khốn kiếp ở cái Ban Sưu Tầm Tài Liệu Cướp Biển. Chúng tung tin khắp trại, chúng trêu chọc những nạn nhân của hải tặc khiến đàn bà, các cô đã nhục nhã càng nhục nhã thêm. Vẫn thừa thải những đứa thích dí chân lên nỗi đau đớn của “đồng bào”!

Đồng bào. Ông nhà báo gằn giọng hai tiếng linh thiêng ấy. Tôi đã hiểu tại sao Kiều Nhị nằm nhà cả ngày . Tự nhiên tôi thương Kiều Nhị lạ lùng và tôi muốn được chia sẻ niềm khổ nhục với nàng.

– Cậu đã tính sẽ làm việc ở Khối, ở Ban nào chưa?

Ông nhà báo chuyển mục trà đàm.

– Phải làm việc nữa sao?

Mỉm cười chua chát, ông nhà báo nói:

– Đảo Pulau Bidong theo chế độ…quân phiệt! Trưởng trại là sĩ quan cấp tá quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Phó trại và các Trưởng khối nằm trong tay sĩ quan tá, úy ráo trọi. Cứ y hệt Tổng thống và qúy vị Bộ trưởng thôi. Dân sự ra rìa hết, đừng hòng bon chen Trưởng khối. Quân đội ta nắm cả giáo dục đấy. Ghê gớm nhất có Khối Hồ-sơ lý-lịch, Khối An-ninh. Đáng nể có Khối Hành-chánh thông-dịch. Béo bở có Khối Vật-liệu. Khối Vật-liệu quân đội ta đành nhường cho Ba tầu. Lại cái lũ hội tề thượng đội Mã Lai, hạ đạp dân tị nạn! Cậu muốn tránh vác củi, khiêng gạo thì nên kiếm một khối mà núp.

Tôi lắc đầu:

– Cháu vác củi, bác ạ! Lao động ở trại tập trung Cộng sản quen rồi.

Ông nhà báo gật gù:

– Tốt, tốt. Thiếu gì anh lao cải quê nhà, sang đây cậy cục trốn lao động.

– Thưa bác, con gái có vác củi không?

– Con gái quét đường, lượm rác. Đàn ông trên bốn mươi nhăm miễn lao động. Đàn bà dưới ba lăm cầm chổi thể thao.

Cuộc trà đàm đang nặng về…kiến thức Pulau Bidong thì máy phóng thanh của Khối Thông-tin oang oang reo:

– Đồng bào Vũ Thương Hoài đi tầu SS 1348 IA Pulau Bidong 821 lên ngay Khối An-ninh có việc cần bàn. Không chấp nhận mọi sự vắng mặt và chậm trễ!

Pulau Bidong 821 là số hiệu của Cao Ủy Tị Nạn cấp cho tầu chúng tôi.

– Thông báo của Khối An-ninh: Đồng bào Vũ Thương Hoài…

Ông nhà báo khôi hài:

– Bộ Nội vụ gọi cậu đấy. Cậu sẽ gặp…Tổng giám đốc cảnh sát! Lên trình diện các quan chức thuyền nhân đi.

Tôi đi ngay đến Khối An-ninh. Ông Trưởng khối thẩm vấn tôi một cách bẽn lẽn:

– Hôm mới ghé đảo, anh khai địa chỉ của anh ở Dinh Độc Lập là nhằm ý gì?

Tôi hơi khó chịu nhưng cố bình tĩnh:

– Thưa ông Trưởng khối, ông đã đọc lý lịch của tôi chưa?

– Rồi.

– Một giáo sư, dẫu là giáo sư ngụy thì cũng không thể ngu đến thế.

Tôi trình bày sự việc xảy ra ở SB. với cô tình báo đầm hái nho. Từ SB. tôi mọi xuống An ninh hội tề, cái Dinh Độc Lập mãi tận Sàigòn đã bị xuyên tạc chụp mũ! SB. mượn tay An ninh chơi tôi.

– Anh đã bị học tập cải tạo?

– Đúng.

– Trong tù Cộng sản, anh có làm trật tự không?

– Xin lỗi anh (tôi đổi cách xưng hô), vấn đề này ngoài tầm nhiệm vụ của anh đấy.

– Vậy chúng tôi sẽ nhờ Task Force.

– Anh cứ việc. Tôi đủ tiếng Anh nói chuyện với Mã Lai .

Ông Trưởng khối bảo tôi về. Buổi chiều, thông báo của Khối An-ninh lại réo tôi. Lần thứ hai, tôi gặp một “cảnh sát đặc biệt đảo”. Anh ta lôi ra một tờ bìa ghi hàng chữ :Hồ sơ Vũ Thương Hoài để hù tôi:

– Người ta tố cáo anh.

– Ai?

– Thư nặc danh.

– Anh thụ lý cả thư nặc danh ư? Anh hiểu gì về tư pháp? Ai cho phép anh làm công việc này? An ninh của các anh là canh chừng trộm cắp trên đảo thôi. Lát nữa, tôi sẽ hỏi Cao Ủy.

Anh an ninh dịu giọng:

– Chúng tôi muốn làm sáng tỏ vấy đề và sẽ điều tra kẻ ném đá dấu tay.

Tôi nói:

– Anh bạn, anh sẽ chỉ sợ các phái đoàn khước từ định cư như tôi. Sáng tỏ hay tối om nhằm nhò gì. Tôi biết đọc, biết viết, biết nói tiếng Anh thông thạo. Anh nhớ giùm.

Ông nhà báo dạy tôi cách doạ bọn an ninh. Quả nhiên, anh an ninh xin lỗi tôi vài “vụ” của tôi chìm xuống êm ả. Ông nhà báo bảo:”Bọn chức sắc thuyền nhân quen doạ nạt dân đánh cá và dân ít học nên chúng tưởng ai cũng doạ nạt được. Ở Pulau Bidong, tiếng Anh ‘là chìa khóa mở mọi cửa, giải quyết mọi việc’.” Đúng thế. Có lẽ, tôi phải nằm đảo khá lâu vì định cư tại Hoà Lan nhanh nhất là một năm rưỡi. Tôi thừa thời gian ngậm ngùi thế sự.

Buổi tối, Pulau Bidong đầy ánh sáng bên ngoài mà thiếu ánh sáng trong nhà. Cái bàn trà đàm của chúng tôi bị quan chức đảo chiếm cứ bầy nước nôi và vợt vũ cầu nên ông nhà báo, ông nhà buôn, ông công chức kéo nhau dạo bờ biển, sợ bất chợt bị Mã Lai sai thì nhục mà không làm thì không xong. Các cô Hiền, Thi, Hân đi chơi gần giờ giới nghiêm mới về. Nhà dưới vắng tanh, chuột đảo mặc sức tung hoành. Trên gác, cô Nhị ngồi bên khung cửa nhỏ như buổi sáng, như mọi lúc, như mọi ngày. Ánh đèn néon từ sân vũ cầu hắt lên soi khuôn mặt cô sầu thảm.

– Cô Nhị…

– Dạ.

– Nếu cô muốn đi dạo bãi biển, tôi đưa cô đi?

– Em sợ nhìn biển lắm.

– Không sợ gì cả. Người ta cần nhìn vào nỗi sợ để khỏi sợ hãi.

– Em pha cà-phê mời anh nhé?

– Thôi.

Tôi gợi chuyện:

– Cô cần hỏi gì về tôi không?

Cô Nhị nhỏ nhẹ:

– Em đâu dám.

– Tôi sẽ qua Hoà Lan sống với em gái tôi. Nhưng bất cứ phái đoàn nào nhận, tôi sẽ định cư ở bất cứ nước nào. Tôi chưa lập gia đình thành ra đỡ rắc rối.

– Anh thích nước Mỹ không?

– Tôi thích mỗi nước Việt Nam thôi, cô Nhị ạ! Thân phận tị nạn là thân phân lênh đênh, gửi quãng đời thừa của mình, nơi nào cũng vậy.

– Anh….anh…

– Tôi nghĩ tổ quốc là quý báu nhất, thiêng liêng nhất. Tổ quốc đã mất thì mọi sự mất mát đều trở nên bình thường, tầm thường. Cái còn lại để giữ gìn chỉ là phẩm cách con người. Hồi sáng, tôi khuyên cô cứ khóc và tôi nói rằng ý nghĩa của đời sống lung linh trong những giọt nước mắt tủi nhục. Bây giờ, tôi khuyên cô đừng khóc nữa, tôi nghĩ khác, ý nghĩa của đời sống rực rỡ trong sự kiên nhẫn chịu đựng mọi nghịch cảnh.

– Anh…anh đã hiểu…

– Phải, tôi đã hiểu.

– Anh có khinh em?

– Hiểu biết là để cảm thông, chia sẻ và gần gũi. Nếu phải khinh, tôi khinh bỉ Cộng sản bắt cô phải rời bỏ quê hương, khinh bỉ dân tộc Thái Lan man rợ, khinh bỉ luôn cả thế giới vĩ đại không che chở nổi cô.

Cô Nhị lết nhanh đến chỗ tôi ngồi. Cô ôm chặt lấy tôi và oà lên khóc. Tôi vuốt tóc cô, vỗ nhẹ vai cô. Cô thổn thức:

– Hãy nói yêu em đi!

Nước mắt tôi ứa ra. Tôi ghé sát tai Kiều Nhị:

– Anh yêu em, anh yêu em..

Chúng tôi hôn nhau. Nụ hôn dài hơn đường biển của thuyền nhân và cay đắng hơn những oan khiên chập chùng gối sóng trùng khơi. Xưa, Từ Thức nhập một thiên thai vô nghĩa. Nay, Từ Thức bị lưu đầy lên thiên thai chứa chan bí tích và gặp tiên nữ đoạ đầy. Những phút kỳ ảo của hai kiếp đời luân lạc.

– Anh.

– Em.

– Chiều mai đưa em dạo bãi biển .Em coi thường biển, em hết sợ biển.

– Anh sẽ đưa em lên Đồi Tôn Giáo.

– Đưa em đi khắp nơi nhé!

– Tại sao không nhỉ?

– Một nơi em thích nhất, mơ ước định cư nhất.

– Nước Mỹ?

– Chẳng phải nước Mỹ đâu. Nơi mơ ước định cư là trái tim anh tuyệt diệu.

Chúng tôi gối nhau ngủ say sưa , quên lệnh loan báo giới nghiêm, quên tiếng dừa khô rơi xuống mái tôn, quên luôn cả ba cô bạn trở gót lúc nào

—>4


Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »