QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG

Lượt đọc: 121 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
QUÁN TRỌ TRƯỚC CỔNG THIÊN ĐƯỜNG (19/19) - Trang 8

❊ ❊ ❊

-8-

Cha Surmon vào đảo. Trẻ con bu kín ở khoảng đất trống gần Bệnh-viện chào đón cha, ông già Noël thân ái của Pulau Bidong. Chúng hướng mắt ra cái cầu gỗ dài bắc từ bãi cát tới chỗ nước sâu mà ca-nô có thể đậu được. Người ta quen gọi cầu gỗ đó là cầu Jetty, dẫu Jetty mang nghĩa khác. Cha Surmon vào đảo, ngài mang phúc âm cho cả kẻ có đạo lẫn người ngoại đạo. Phúc âm ngài mang tới là money order, là check, là tiền mặt, Mã kim và Mỹ kim. Phúc âm ngài mang tới còn là thư từ, quà cáp cho đàn bà thai nghén, đồ chơi cho tuổi thơ

Cảnh sát Mã Lai và Task Force thường xuyên làm khó dễ cha Surmon. Bởi vì ngài trở thành thần tượng của thuyền nhân. Thỉnh thoảng, ngài phải xé hết money order, check đề tên thuyền nhân và móc túi bồi thường rồi tính sau với người gửi. Thỉnh thoảng, ngài bị tịch thu hết thư từ của thuyền nhân. Cảnh sát Mã Lai khám xét ngài kỹ lưỡng. Nếu thân nhân của thuyền nhân gửi money order, check đề tên ngài, ngãi sẽ lãnh Mã kim giùm và đem vào đảo phát lại. Cảnh sát không có lý do tịch thu tiền. Chính quyền đảo lấy cớ rằng đã có TMS của MRCS lo việc thư tín, tiền bạc, cha Surmon lo việc này là phi pháp. Nhưng TMS chậm hơn rùa, cha Surmon lẹ và bảo đảm.

Cha Surmon đặt chân lên bãi biển, trẻ con reo hò, người lớn vẫy tay. Tất cả nối đuôi theo ngài về Nhà Thờ. Ngài không nghỉ ngơi, tự mình phát bong bóng, bi, kẹo cho con nít và quần áo, thuốc bổ cho đàn bà thai nghén. Kế đó, ngài nhận chuyển thư cho thuyền nhân vừa ghé đảo. Thư viết một phần tư trang vở thôi, để ngài dễ dấu. Không cần phong bì, tem. Chỉ cần tên, địa chỉ người nhận ghi rõ. Ngài sẽ đem thư về tận Kelantan bỏ vô phong bì, viết tên người nhận và địa chỉ dán tem rồi gửi giúp. Mỗi tháng ngài tốn vô số tiền tem và tiền tặng những thuyền nhân nghèo khổ không có thân nhân ở ngoại quốc. Lần nào vào đảo ngài cũng sang thăm Nhà Chùa và ân cần hỏi cần bất cứ gì thì ngài sẵn sàng phục vụ.

Công việc tông đồ của ngài cao quý thế mà ngài không hề tỏ ra quan trọng như vài anh thầy dòng trốn lao động ở Nhà Thờ. Mấy anh này lập danh sách phát thư tiền, gọi tên thuyền nhân vô lĩnh thư tiền mà ưa hoạnh họe thuyền nhân vô cùng. Cha Surmon, nhân danh phái đoàn Pháp, viết thông báo mời thuyền nhân. Và ngài cũng vì thuyền nhân khốn khổ mà gian dối. “Phái đoàn Pháp đã tới đảo và sẽ mở hồ sơ chiều nay. Đồng bào lắng nghe đọc tên mình lên gặp phái đoàn để được phỏng vấn. Không chấp nhận mọi chậm trể và vắng mặt”. Phái đoàn Pháp phỏng vấn là cha Surmon phát thư, phát tiền. Và nếu có ai xin định cư ở Pháp, cha Surmon chuyển đơn hộ ra Tòa Đại Sứ Pháp tại Kuala Lumpur. Là người Pháp sang Mã Lai truyền giáo đã mấy chục năm, cha Surmon nói tiếng Anh, tiếng Mã giỏi hơn tiếng mẹ đẻ. Ngài là biểu tượng của bác ái trên cái đảo đói khát bác ái này. Cha Surmon đã làm sáng danh Thiên Chúa. Ngài đến cùng kẻ khốn khó, vì kẻ khốn khó mà vác thánh giá. Tôi nghĩ mà xấu hổ giùm những vị linh mục, những vị đại đức đã bỏ rơi trần thế khốn khó, bỏ rơi chúng sinh khốn khó quê nhà bon chen vượt biển đi tìm sự siêu thoát cá nhân nặng tính chất tiểu ngã. Chúa Jesus khuyên loài người nên đi vào cửa hẹp. Ngài dạy rằng, cửa hẹp, đường hẹp dẫn đến sự sống. Môn đệ của ngài, những vị linh mục thuyền nhân, thì lại chê cửa hẹp, mở cửa rộng để vào quán trọ trước cổng thiên đường ! Tại cửa rộng dẫn đến sa ngã, tội lỗi nên vô số linh mục, đại đức vượt biên đã lấy vợ và ráo riết làm giầu ở quê người.

Đảo vừa rộn ràng nhờ cha Surmon, lại rộn ràng thêm nhờ điệu sáo quen thuộc. Mấy hôm liên tiếp thuyền nhân ghé đảo đều đều, hoặc do tầu của giàn khoan dầu hỏa cứu vớt đưa thẳng vào đảo, hoặc trôi dạt bờ bãi nào đó ở Mã Lai , được MRCS địa phương chở tới Marang, Trengganu rồi đáp ca-nô vào đảo. . Như thường lệ, điệu sáo báo tin thuyền nhân tới đảo chấm dứt thì trước cổng đồn Cảnh sát và trụ sở SB., dân tị nạn đã bu kín. Và chừng nửa tiếng sau, tin tức chính xác về con tầu được loan truyền trên Đài Phát Thanh. Lịch sử thuyền nhân bi thảm nhưng cũng lắm ly kỳ. Chẳng hạn con tầu tấp vào giàn khoan và được giàn khoan kéo vào đảo trưa nay. Con tầu bị hải tặc rượt đuổi. Trong số ngót một trăm thuyến nhân già trẻ, lớn bé, có hai nhà sư. Sợ rằng quê người thiếu áo cà sa nên hành lý vượt biên của hai nhà sư gói ghém thật kỹ áo tràng, chuỗi hạt và cuốn kinh. Ở những phút hãi hùng thuyền nhân cuống quýt yêu cầu hai nhà sư khoác áo cà sa và leo lên đứng trên boong, hy vọng dân Thái Lan ngưỡng mộ Đức Phật và Phật giáo, sẽ tha cho con tầu. Hai nhà sư bèn choàng áo vàng, leo lên boong, lần tràng hạt và lâm râm kinh kệ. Hai nhà sư rất bình tĩnh. Có lẽ, Phật đã độ trì. Khi hải tặc đến gần tầu tị nạn chúng ngạc nhiên thấy hai nhà sư thiền… đứng. Dân Thái Lan mộ đạo Phật nhưng hải tặc Thái Lan khoái chơi bùa và rất sợ bùa Phật. Chúng bám sát con tầu một lát rồi tên chủ giặc ra lệnh rút lui. Hải tặc Thái Lan sợ hai nhà sư thuyền nhân tung bùa thì chúng thê thảm. Nhờ vậy, con tầu thoát nạn. Hai nhà sư trở thành thần tượng. Thuyền nhân lênh đênh giữa biển khơi đã thấy Phật. Họ cầu nguyện và hứa sẽ, suốt đời, làm theo lời Phật dạy. Nhưng lên đảo Pulau Bidong vài ngày, chắc chắn, họ sẽ quên cả Phật lẫn hai nhà sư.

Dân đảo lũ lượt kéo nhau tới SB. chiêm ngưỡng hai nhà sư, trong khi tình báo xà-lỏn và đầm hái nho đang hạch sách hai nhà sư lý do rời Việt Nam. Ông nhà báo và tôi cũng đi “xem mặt” hai nhà sư. Không muốn nhìn lâu cảnh tượng SB. dọa nạt thuyền nhân và Cảnh sát Mã Lai cầm roi thị uy, ông nhà báo rủ tôi về. Ở bàn trà, ông nhà báo nói:

– Lịch sử vượt biên của dân mình ly kỳ lắm. Nhiều chuyện khó tin, nhưng có thật. Tôi đã làm việc ở Ban Sưu Tầm Tài Liệu Cướp Biển hai tháng, đọc hồ sơ cả trăm vụ. Tôi định sẽ viết một cuốn sách về bọn hải tặc.

– Ghê tởm hả, bác ?

– Không hẳn thế. Nhiều vụ khá cảm động, nhiều vụ khá khôi hài. Thuyền nhân gặp hải tặc phải khai báo với SB. và Ban Sưu Tầm Tài Liệu Cướp Biển. Ở chỗ nào họ cũng bị dọa nếu khai không đúng sẽ hại cho quyền lợi định cư.

– Và họ khai hết sự thật.

– Dĩ nhiên. Các bà, các cô “quay phim” bi hải tặc hãm hiếp cho Cao Ủy Tị Nạn “coi”. Thê thảm là các bà, các cô được yêu cầu phát biểu cảm tưởng !

Phát biểu cảm tưởng ! Dân tộc tôi bị phát biểu cảm tưởng nhiều nhất về những oan khiên mình phải chịu đựng. Môt lần vượt biên, thuyền của tôi gặp hải tặc. Chúng hãm hiếp đàn bà, con gái và bóc lột hết vàng bạc thì phá máy. Thuyền của chúng tôi lênh đênh mấy ngày rồi dạt lại bờ bãi quê hương. Công an đón tiếp chúng tôi. Họ tổ chức cuộc mít-tinh cho nhân dân tham dự. Tất cả phu nữ bị gọi đứng lên lần lượt, mỗi người kiểm điểm bằng miêng vụ hải tặc hãm hiếp. Tôi đã chứng kiến cái hình phạt hiếp dâm tinh thần này . Cộng sản không cho phép con người bị găm tên ngồi trong bóng tối liếm vết thương đời hệ lụy, họ cầm dáo nhọn đâm sâu xuống vết thương nhức nhối của thời đại mà họ phải chịu nửa phần trách nhiệm. Các bà, các cô vừa khóc vừa tự kiểm nỗi ô nhục chẳng do mình tạo ra. Rồi phát biểu cảm tưởng ! Bây giờ, nghe ông nhà báo nói, sang đến thế giới tự do, thuyền nhân bị hải tặc cưỡng hiếp phải thành thật khai báo đầy đủ chi tiết và phát biểu cảm tưởng thì tôi ngậm ngùi. Không có tự do cho chúng ta, những kẻ mất nước. Cái thứ tự do chúng ta tưởng đang có chỉ là tự do bố thí, tự do bệ rạc. Chắc chắn nhất, thứ tự do chúng ta mơ ước, phải là dưới một ngọn cờ, chúng ta phóng lên đòi hỏi và dùng máu của chúng ta viết hoa TỰ DO ngay tại quê hương chúng ta.

– Thưa bác, cảm tưởng nào bác thấy là nhất.

– Cảm tưởng hoan lạc tột cùng của một số bà vượt biển theo chồng !

– Họ được hãm hiếp ?

– Phải, họ khẳng định hải tặc đã làm họ sung sướng ngất ngây.

– Còn các cô ?

– Môt nửa ghê tởm và thù hận hải tặc, một nửa thản nhiên coi như cái giá của tự do mà họ phải trả.

Ông nhà báo châm điếu thuốc mới :

– Thỉnh thoảng cũng có những tên hải tặc hào hoa .

Tôi hỏi :

– Hải tặc mà hào hoa ?

Ông nhà báo nhả khói thuốc:

– Tôi nói những gì đã ghi trong tài liệu.

– Vậy nó hào hoa ra sao, thưa bác ?

– Nó không hãm hiếp phụ nữ, không đánh đập đàn ông, không cướp bóc. Nó chìa tay yêu cầu ai có vàng thì đưa nộp. Có người gỡ nhẫn cưới, tên chúa giặc lắc đầu từ chối.

– Hào hoa thật.

– Môt vài chiếc thuyền hỏng máy, không gặp hải tặc là chết. Nó sửa máy, cho dầu, cho nước, cho lương thực và chỉ đường.

– Những trường hợp hiếm hoi.

– Còn một chút hiếm hoi cũng đủ để tin vào đời sống. Cái thiện vốn rất ít. Cái ác thì tràn ngập. Nghĩ cho cùng thì bỏ rơi cả một dân tộc vẫn ghê tởm hơn hải tặc. Tôi khinh bỉ chính sách Mỹ đối với Việt Nam. Chính sách đó đã hãm hiếp thuyền nhân trên biển cả. Cậu nên công bình một chút. Thiếu gì thuyền nhân gặp tầu đánh cá Quốc Doanh. Người Việt vẫn cứ lột người Việt và bắn bỏ người Việt. Cậu lại vừa chứng kiến người Việt hành hạ người Việt trên đảo nầy. Truy nã cái ta đã rồi hãy phán xét người. Thế giới đầy những mâu thuẩn. Đầy ải con người chán chê và đi cứu vớt con người. Hoa Kỳ ném dân tộc ta vào các trại tập trung và Hoa Kỳ phất cờ nhân quyền.

Tôi sợ ông nhà báo nổi cơn phẫn nộ, bèn lảng sang chuyện khác. Nhưng ông nhà báo đang say sưa nói về những ly kỳ vượt biên, ông không muốn dứt ra :

– Cậu có tin phép lạ không ?

– Cháu đã tin vì cháu đã thấy phép lạ.

– Ở đâu ?

– Cồn Ngựa.

Tôi thuật chuyện con tầu của tôi mắc cạn ở Cồn Ngựa. Thuật xong, tôi chợt nhớ một phép lạ tôi đã hưởng tại trại cải tạo Z 30 D. Và tôi kể cho ông nhà báo nghe luôn. Giữa năm 1981, tôi đang lao động ở đội 23 Nông Nghiệp thì đội giải thể và các trại viên bị biên chế tứ tung sang các đội khác. Tôi qua đội Vệ Sinh, chuyên quét sân trại, nhổ cỏ và đổ phân, rửa cầu cho bệnh xá. Lâu lâu, trực trại khám xét hành lý tù, vất bỏ những gì họ thích vất bỏ, tôi phải đẩy xe cải tiến đến thu dọn và đem đốt. Môt hôm, tôi đẩy xe đến phòng biệt giam của tù nhân miền Bắc chuyển về. Trực trại và bọn trật tự kiểm tra tỉ mỉ. Kinh sách, thánh giá, tượng Chúa, tượng Phật chúng liệng hết. Tôi ngồi ở cửa phòng chờ lệnh thu dọn. Bỗng tôi thấy một miếng đá dẹp vất xuống sàn phòng và một tên công an dí gót giày lên. Tôi lén lượm miếng đá bỏ vào túi.

Xong việc, tôi tới nhà bếp của bệnh xá tắm rửa. Tôi cũng dùng xà phòng chùi rửa kỹ miếng đá. Miếng đá mài dẹp công phu. Một mặt khắc hình Đức Mẹ. Một mặt khắc hình con tầu lênh đênh trên sóng biển, dưới thêm bốn tiếng Này con là đá. Tác giả cái mề-đay thiêng liêng này là tù nhân miền Nam đã bị lưu đầy ra tận miền núi phiá Bắc. Hẳn anh ta đã gửi trọn vẹn niềm tin của anh ta khi ngồì mài đá và khắc hình. Tôi khoe với anh Nhân nấu bếp. Anh ta nói: “Anh sẽ được ân sủng của Đức Mẹ”. Anh Nhân và tôi đều ngoại đạo. Tháng sau, tôi được thả. Tôi đến Nhà Thờ Dòng Chúa Cứu Thế nhờ một linh mục làm phép cho miếng đá. Lần cuối cùng vượt biên, tôi đeo miếng đá trước ngực. Khi tầu mắc cạn ở Cồn Ngựa, tôi bình tĩnh lạ lùng, cứ đưa tay mân mê miếng đá. Rồi đêm gặp bão, tôi nắm chặt miếng đá. Và phép lạ hai lần cứu tôi chung với 153 người khác.

– Phép lạ của cậu chưa lạ lắm.

– Còn phép lạ khác ư ?

– Còn.

Ông nhà báo kể: Hai chị em đi một chuyến. Cô chị tên là Tố Tâm. Cậu em tên là Mạnh Hùng. Tầu của họ gặp hải tặc. Hãm hiếp, cướp bóc xong, hải tặc cho phép tầu chạy. Riêng cô Tố Tâm xinh đẹp được chúa giặc giữ lại. Hai hôm sau cậu Manh Hùng tới Pulau Bidong. Và hai hôm sau nữa, cô Tố Tâm cũng tới Pulau Bidong nhờ một tầu vượt biển khác vớt.

– Phép lạ ở chỗ cô Tố Tâm hôn mê. – Ông nhà báo nói.- Cậu tưởng tượng xem, lúc hải tặc hãm hiếp no nê rồi liệng cô Tố Tâm xuống biển, cô ấy chìm hay nổi? Cô ấy đã nổi, ít nhất, nửa tiếng đồng hồ mới kịp tầu khác đến không gặp hải tặc để vớt cô ấy. Thông thường không có tầu vượt biển nào muốn vớt xác chết cả. Lại phép lạ ! Cô Tố Tâm lên tầu bèn tỉnh táo. Hai chị em cô ta còn ở đảo. Cậu muốn gặp “điều tra” phép lạ không ?

– Không. Cháu sợ làm cô ấy đau khổ.

– Phép lạ cứu cô ấy sống sót. Phép lạ không giúp cô ấy định cư sớm. Hai chị em nằm đảo ngót hai năm rồi. Các phái đoàn “xù” hết ! Chị em cô ấy đợi Mỹ “hốt rác”.

– Cháu nghe nói thuyền nhân bị hải tặc hãm hiếp ưu tiên định cư.

– Chẳng bao giờ có lòng trắc ẩn ấy đâuVô số thuyền nhân ba, bốn lần gặp hải tặc quần thảo mà vẫn chờ…”hốt rác”.

– Thế thì họ lập ra cái Ban Sưu Tầm Tài Liệu Cướp Biển làm cái gì ?

– Để ngó nỗi khổ của thuyền nhân.

Tôi muốn văng một câu chửi thề. Kiều Nhị của tôi đã phải khai sự thật bị hãm hiếp với Cao Ủy. Nỗi khổ không được phép dấu diếm. Nỗi khổ không được phép nghiến răng chịu đựng một mình. Chúng ta không có tự do hưởng hạnh phúc . Chúng ta còn không có tự do ngậm đau khổ.

– Cậu suy nghĩ gì thế ?

– Thân phận Việt Nam lêu bêu quá, bác ạ ! Mọi nhân danh của tư bản chủ nghĩa, vô sản chủ nghĩa trên đất nước ta đều đã tập trung vào sự phát biểu cảm tưởng khổ nhục.

– Rồi sao ?

– Rồi sao, cháu đang muốn biết ?

– Hoặc chúng ta nhớ hoặc chúng ta quên.

– Nhớ để làm gì ?

– Để khôn lớn, để làm lại quê hương, để mong ước ngày về.

– Còn quên ?

– Quên thì ngàn lần bị phát biểu cảm tưởng khổ nhục. Nhưng tin tôi đi, cậu Hoài, người ta chóng quên lắm. Người ta đã quên ngay ở đây rồi.

– Sẽ còn những người nhớ.

– Những người nhớ sẽ cô đơn, sẽ biến thành những kẻ ăn mày sự thông cảm.

Ông nhà báo lật tờ báo xuất bản ở Canada, bảo tôi:

– Cậu thử đọc coi.

Bên cạnh bài báo đóng khung, nhan đề: Thể lệ và điều kiện gia nhập quốc tịch Canada là một tin mừng những gia đình đã khước từ Việt tịch. Trong cái tin mừng đó, người ta tổ chức khao vọng tập thể đã trở thành công dân Canada, từ nay, đầy đủ quyền lợi như Canada chính gốc ! Trang bên canh quảng cáo Dạ Vũ Thương Nhớ Việt Nam . Người ta nhẩy đầm thương nhớ tổ quốc. Cố quốc, những bà mẹ không sữa nuôi con, những trẻ thơ gầy guộc đứng sát bàn ăn nhà hàng để chờ húp một miếng nước phở thừa, gặm đỡ miếng xương hết thịt. Cố quốc, những chiến sĩ đã hy sinh trọn đời mình cho dân tộc đang quằn quại trong ngục tù Cộng sản . Cố quốc, một địa ngục trần gian. Và người ta nhẩy đầm thương nhớ cố quốc!

Tôi gấp tờ báo lại:

– Bác muốn về là phải. Cháu cũng muốn trở lại Việt Nam. Thà ở lại chống Cộng sản theo cung cách “giặc cỏ” vẫn ấm lòng hơn sang thế giới tự do nhẩy đầm yêu nước..

Ông nhà báo thở dài:

– Moise dẫn dắt đám dân Do Thái về Đất Hứa cũng đã xẩy ra những sa đọa tương tự. Hoan lạc vẫn hấp dẫn hơn đau khổ. Moise còn biết thỉnh Chúa Trời ban Mười Điều Giới Răn cứu vãn dân Do Thái lưu lạc. Ai dẫn dắt chúng ta, ai dẫn dắt thuyền nhân và ai vì thuyền nhân, vì lưu dân Việt Nam tạo lập Kinh Lưu Vong? Phải có Kinh Lưu Vong, cần thiết có Kinh Lưu Vong, cậu hiểu chưa, không có Kinh Lưu Vong không có ngày về phục quốc. Cậu ạ, sẽ chẳng bao giờ có Kinh Lưu Vong cả. Bởi lẽ, tôi thấy cái đám goi là nhân vật rặt một bọn ăn cắp. Vậy thì sứ mạng phục quốc vẫn nằm gọn trong tay những người chiến đấu chống Cộng sản ở quê nhà. Tôi muốn về hầu hạ họ.

Tôi hỏi:

– Bác về bằng cách nào ?

Ông nhà báo đáp:

– Tôi đang nghĩ đây. Chắc chắn, Cao Ủy Tị Nạn sẽ không nhận đơn xin về của tôi.

Ông nhà báo đưa tay dụi mắt. Ông uống cạn lon trà rồi im lặng. Tôi bỗng lây nỗi buồn của ông. Quả thực tôi đã nhìn rõ tôi, nhìn rõ thân phận kẻ mất quê hương từ Pulau Bidong. Và, tự nhiên, tôi có một ý nghĩ rất độc ác: Hạnh phúc cho những thuyền nhân có tâm hồn đã chết chìm giữa biển hoặc đang nằm trong ngục tù quê nhà. Hạnh phúc cho họ vì họ chưa thấy thế giới tự do và những hệ lụy ở quán trọ trước cổng thiên đường .

—>9


Nguồn: duyenanhvumonglong.wordpress.com
Được bạn:Mot Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 6 năm 2026

« Lùi
Tiến »