Nếu đọc qua tư liệu lịch sử vào cuối đời Minh đầu đời Thanh thì sẽ biết được khí hậu khắc nghiệt đến mức nào, trong hai triều Sùng Trị, Thuận Trị không ngừng có thiên tai. Đặc biệt thời tiết vào mùa đông còn cực kỳ giá rét, bảy năm sau chỉ còn lại vài huyện ở Hà Bắc, lịch sử ghi chép “Một trận tuyết lớn kéo dài hơn bốn mươi ngày, chim hoang lạnh cóng đến chết, việc di chuyển cũng bị cắt ngang”.
Bây giờ vẫn ổn, chỉ là nạn hạn hán và bão lũ, còn chưa tới lúc thời tiết lạnh nhất năm.
“Ngươi đi trị thủy đi, không cần ở lại Tề Trữ.” Triệu Hãn nói: “Trong số những thân vệ đi theo ta, ngươi mang theo năm trăm người rồi rời đi, hoặc là cứu tế, hoặc là đàn áp, ngươi cứ xem rồi làm.”
“Tạ bệ hạ!”
Năm trăm thân vệ của Hoàng Đế đi theo bên cạnh, so ra còn lợi hại hơn cả cầm thượng phương bảo kiếm trong tay.
. . .
Triệu Hãn vừa trở lại Nam Kinh, Thi Úy Hiền đã dâng lên một quyển sách.
Thi Úy Hiền là nữ quan chưởng ấn của ti lễ giám, Du Cư Liên là nữ quan chưởng ấn của ngự mã giám. Hai người này đều có dung mạo xấu xí, cũng là lão nhân trong nhóm truyền giáo. Tuy nhiên, phần lớn quyền lực của ti lễ giám và ngự mã giám đều đã bị Triệu Hãn cắt mất, vậy nhưng các nàng vẫn là những người tối cao nhất ở Tử Cấm thành.
“Bệ hạ, đây là ấn thư đầu tiên của Kinh Hán ti lễ giám.” Thi Úy Hiền dâng quyển sách lên.
Lý Hương Quân nhận sách, giao vào tay Triệu Hãn.
Triệu Hãn nhìn qua mặt bìa, sách tên là “Vĩnh Lạc đại điển hí bản”. Trích từ “Vĩnh Lạc đại điển”, quyển này lấy ra 33 bài hí kịch, 90 bài tạp kịch, được chọn lọc bởi Phí Như Di đang chăm sóc lão phụ ở nhà, sau đó được biên soạn lại bởi quốc trượng Phí Ánh Hoàn.
Tuy “Dân thủy toàn thư” vẫn chưa được biên soạn nhưng “Vĩnh Lạc đại điển” thì đã bắt đầu được sửa sang lại các lỗi in, trong đó những nội dung thích hợp cho việc phát hành cũng sẽ dần dần được sửa lại và đóng thành một quyển mới để được xuất bản.
Bản “Vĩnh Lạc đại điển hí bản” này cực kỳ thích hợp với việc xuất bản, bên trong ghi lại những hí khúc đã bị thất truyền, những độc giả thích hí khúc dân gian chắc chắn sẽ tranh giành nhau mua.
Triệu Hãn lật xem nội dung trong sách, phát hiện hiệu quả cũng giống như in bằng văn tự gỗ rời, hỏi: “In bằng văn tự đồng à?”
“Đều là văn tự đồng ạ.” Thi Úy Hiền trả lời.
Thư cục trực thuộc Lễ bộ được thành lập từ năm đầu dân thủy, chủ yếu dùng văn tự rời bằng gỗ để in ấn, các nội dung đã xuất bản gồm: Đại Đồng tập, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách lịch pháp, tài liệu tham khảo chính thống vân vân.
Mà Kinh Hán ti lễ giám thì đã được chuẩn bị suốt ba năm kể từ khi dân thủy, đồng thời vẫn luôn bận rộn với việc đúc văn tự bằng đồng.
Tuy nói nguyên liệu của văn tự đồng chính là đồng nhưng thật ra là hợp kim đồng thiếc. Phương pháp đúc cũng có hai loại, một là khắc chữ lên một tấm ván gỗ để in, sau đó dùng một thanh đồng đúc kim loại để đè lên mặt chữ; một loại khác chỉ dùng văn tự bằng gỗ, sau đó trực tiếp in lên một phần đất sét, tiếp đó lại được nung lên rồi gắn vào thanh đồng, rèn thành kim loại.
Sau khi luyện kim xong, cả hai phương pháp đều cần công tượng chậm rãi mài giũa.
Ở thời Minh, tuy in văn tự rời đã rất phổ biến nhưng những ấn thư chính thức vẫn dùng cách in khuôn là chính, đến tận thời Thanh thì các ấn thư quan phương mới được in bằng văn tự rời.
Triều đình Đại Đồng cũng thuận theo thời đại, sau này Lễ bộ dùng văn tự rời bằng gỗ, Kinh Hán ti lễ giám thì dùng văn tự bằng đồng. Trừ bỏ chi phí ra, hiệu quả đều không khác nhau, nếu không phải nhân sĩ chuyên nghiệp thì không thể nhận ra được.
Rốt cuộc Triệu Hãn cũng đã bãi bỏ quy định hoàng thất không làm xí nghiệp, Kinh Hán ti lễ giám chính nơi in ấn của hoàng thất, chuyên xuất bản những sách lẻ ít được chú ý hoặc những quyển tra cứu khoa học mà những thư cục khác không muốn in. Bình thường còn nhận thêm cả những đơn hàng riêng, kiếm thêm một khoản thu nhập nhờ việc in sách cho nhân dân, nhưng nếu hoàng thất đã ra nhiệm vụ, những đơn phụ đều phải gác lại một bên.
Triệu Hãn hỏi: “Làm được bao nhiêu văn tự bằng đồng rồi?”
Thi Uý Hiền trả lời: “Khởi bẩm bệ hạ, văn tự đồng có thể cấu thành câu đã được năm nghìn chữ, văn tự đồng làm dấu ngắt câu được hai ngàn chữ, văn tự đồng không có chữ được một ngàn chữ. Tổng cộng đã dùng hơn ba mươi ngàn lạng bạc rồi ạ.”
Văn tự đồng không có chữ không phải được dùng để khắc những chữ còn thiếu mà là để in vào những chỗ còn trống. Nếu một chữ nào đó tạm thời bị mất thì sẽ dùng văn tự bằng gỗ để thay thế.
Quả thật là rất phí tiền, trừ phí đúc luyện ra thì lúc công tượng đến mài khắc cũng rất phiền phức, tiền công của từng chữ cũng không hề ít.
Triều Khang Hy từng biên soạn “Cổ kim đồ thư tập thành”, tốn hơn mấy trăm vạn văn tự đồng (cũng có người nói là mấy chục vạn văn tự). Hoàng Đế Càn Long cũng thật thú vị, mang toàn bộ đồng của gia gia để nung chảy, một phần thì để đúc thành đồng tiền, một phần thì để đúc thành tượng Phật trong Ung Hoà cung.
Nếu Khang Hy dưới suối vàng biết được chuyện này, không biết có muốn đánh chết đứa tôn tử này hay không.