Bậc thầy mưu lược

Lượt đọc: 182 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 17

❊ ❊ ❊

Trong suốt năm năm sau đó, nền kinh tế thế giới đã có những bước phát triển kinh ngạc. Công ty TNHH Krueger-Brent được xây dựng dựa trên nền tảng kim cương và vàng. Nhưng giờ đây, sản phẩm của công ty đã đa dạng hóa và mở rộng ra toàn cầu. Trụ sở kinh doanh không còn nằm ở Nam Phi nữa. Gần đây, công ty đã mua lại một tập đoàn xuất bản, một công ty bảo hiểm và một khu lâm nghiệp rộng năm trăm ngàn mẫu Anh.

Một đêm nọ, Kate lay David thức dậy: "Anh yêu, chúng ta chuyển trụ sở công ty đi thôi."

David ngái ngủ ngồi dậy: "Cái... cái gì cơ?"

"Trung tâm thương mại thế giới hiện nay là New York. Trụ sở của chúng ta nên đặt ở đó. Nam Phi quá xa xôi. Hơn nữa, chúng ta đã có điện thoại, điện báo, có thể liên lạc với bất kỳ văn phòng nào chỉ trong vài phút."

"Sao mình không nghĩ ra nhỉ?" David lẩm bẩm rồi lại thiếp đi.

New York là một thế giới mới đầy phấn khích. Những lần đến đây trước kia, Kate đã cảm nhận được nhịp đập hối hả của thành phố này. Sống ở đây giống như rơi vào trung tâm của sự phát triển, trái đất dường như quay nhanh hơn, mọi thứ đều diễn ra với nhịp độ gấp gáp hơn.

Kate và David đã chọn được một địa điểm tại Phố Wall làm trụ sở mới cho công ty. Các kiến trúc sư cũng bắt đầu bắt tay vào công việc chuẩn bị. Kate lại chọn một kiến trúc sư để thiết kế một tòa dinh thự theo phong cách Phục hưng Pháp thế kỷ 16 trên Đại lộ số 5.

"Thành phố này ồn ào chết mất." David phàn nàn.

Quả thực là vậy. Không khí khắp thành phố tràn ngập tiếng búa tán đinh, những tòa nhà chọc trời nối đuôi nhau mọc lên, cao vút tận mây xanh. New York đã trở thành thánh địa thương mại của toàn thế giới, là trung tâm của vận tải biển, bảo hiểm và giao thông vận tải. Đây là một thành phố có sức sống độc đáo. Kate yêu nơi này, nhưng cô cảm thấy David không mấy vui vẻ.

"David, đây chính là tương lai. Thành phố này đang phát triển, và chúng ta cũng sẽ thịnh vượng theo nó."

"Lạy Chúa, Kate, em còn muốn bao nhiêu nữa?"

Cô không chút do dự đáp: "Có bao nhiêu, em muốn bấy nhiêu."

Cô không hiểu tại sao David lại đặt câu hỏi như vậy. Cuộc chơi là để chiến thắng, chỉ khi đánh bại được người khác mới gọi là thắng. Với cô, điều đó rõ ràng hơn bao giờ hết. Tại sao David lại không hiểu? David là một doanh nhân sắc sảo, nhưng anh thiếu một thứ, thiếu một loại ham muốn, một niềm đam mê chinh phục để trở thành kẻ lớn nhất, giỏi nhất. Cha cô có tinh thần này, và cô cũng vậy. Kate không rõ mình có tinh thần đó từ khi nào. Dù sao thì vào một thời điểm nào đó trong đời, công ty đã trở thành chủ nhân, còn cô trở thành nô lệ; nói đúng hơn là công ty sở hữu cô chứ không phải cô sở hữu nó.

Khi cô kể cho David nghe suy nghĩ của mình, anh cười nói: "Em làm việc vất vả quá rồi." Cô giống cha mình biết bao, David thầm nghĩ. Nhưng không hiểu sao, trong lòng anh thoáng dấy lên một cảm giác khó chịu mơ hồ.

Làm sao một người có thể nghĩ rằng làm việc là quá vất vả? Kate thầm băn khoăn. Trong cuộc sống không có niềm vui nào lớn hơn thế. Khoảnh khắc tràn đầy sức sống nhất của cô chính là lúc làm việc. Mỗi ngày đều có vấn đề mới, mỗi vấn đề là một thử thách, một bài toán khó cần giải quyết, một cuộc cạnh tranh cần chiến thắng. Cô cực kỳ thành thạo việc này. Cô bị mê hoặc bởi một thứ không thể tưởng tượng nổi. Đó không phải là tiền bạc, cũng chẳng phải thành tựu, mà là quyền lực. Loại quyền lực này chi phối số phận của hàng vạn con người ở khắp mọi ngóc ngách trên thế giới. Giống như chính số phận của cô từng bị xoay vần vậy. Chỉ cần nắm giữ quyền lực trong tay, cô sẽ không cần sự giúp đỡ của bất kỳ ai. Quyền lực là thứ vũ khí không thể tin nổi.

Các vị vua, hoàng hậu và tổng thống tranh nhau mời Kate dự tiệc. Họ muốn lấy lòng cô, giành được sự ưu ái của cô. Một nhà máy Krueger-Brent mới mở có thể khiến một khu vực từ nghèo khó trở nên giàu có. Đó chính là quyền lực. Công ty của cô đầy sức sống, là một gã khổng lồ đang ngày càng trưởng thành, cần phải liên tục cung cấp thực phẩm cho nó. Đôi khi buộc phải hy sinh một vài thứ, bởi sự phát triển của gã khổng lồ không thể bị hạn chế. Giờ đây, Kate nhận ra nó có nhịp đập và tiết tấu riêng. Và điều này cũng đã trở thành nhịp đập, tiết tấu của chính Kate.

Họ chuyển đến New York đã được một năm. Vào tháng 3, Kate cảm thấy cơ thể không khỏe, David khuyên cô nên đi khám bác sĩ.

"Anh ta tên là John Harley, một bác sĩ trẻ có tiếng."

Kate miễn cưỡng đồng ý. John Harley là một người Boston gầy gò, nghiêm nghị, khoảng hai mươi sáu tuổi, kém Kate năm tuổi.

"Tôi phải nói trước với anh," Kate nói với anh ta, "Tôi không có thời gian để ốm đâu."

"Tôi sẽ ghi nhớ điều đó, bà Blackwell. Bây giờ, để tôi kiểm tra cho bà."

Bác sĩ Harley đã kiểm tra cho cô, làm một vài xét nghiệm rồi nói: "Có thể khẳng định không có vấn đề gì lớn. Trong một hai ngày tới, kết quả xét nghiệm sẽ có. Thứ Tư hãy gọi cho tôi."

Sáng sớm thứ Tư, Kate đã gọi điện cho bác sĩ Harley. "Tôi báo cho bà một tin tốt, bà Blackwell." Anh ta vui vẻ nói, "Bà mang thai rồi."

Đây là một trong những khoảnh khắc xúc động nhất trong đời Kate, cô nóng lòng muốn báo tin này cho David.

Cô chưa bao giờ thấy David phấn khích đến thế, đôi cánh tay mạnh mẽ của anh bế bổng cô lên và nói: "Chắc chắn là một cô con gái, con bé sẽ giống em như đúc." Anh thầm nghĩ, đây chính là điều Kate cần. Giờ đây, cô sẽ ở nhà nhiều hơn, cô sẽ giống một người vợ hơn.

Kate thầm nghĩ, chắc chắn là một cậu con trai. Sau này, nó sẽ tiếp quản công ty Krueger-Brent.

Ngày lâm bồn đến gần, Kate rút ngắn thời gian làm việc nhưng vẫn đến văn phòng mỗi ngày.

"Đừng lo chuyện công ty nữa, hãy nghỉ ngơi cho tốt đi." David khuyên cô.

Anh không biết rằng, công việc ở công ty đối với Kate chính là sự nghỉ ngơi.

Ngày dự sinh là vào tháng 12. "Em sẽ sinh vào ngày 25," Kate hứa với David, "Thằng bé sẽ là món quà Giáng sinh của chúng ta."

Đó hẳn sẽ là một lễ Giáng sinh hoàn hảo, Kate nghĩ. Giờ đây, cô là người lãnh đạo của một tập đoàn. Cô đã cưới người đàn ông mình yêu và sắp sinh cho anh một đứa con. Tuy nhiên, Kate không nhận ra rằng thứ tự ưu tiên của cô có phần trớ trêu.

Cơ thể Kate trở nên nặng nề, đi lại khó khăn. Việc đến văn phòng cũng khiến cô ngày càng vất vả. Mỗi khi David hoặc Brad Rogers gợi ý cô nên ở nhà, cô luôn nói: "Đầu óc tôi vẫn làm việc được mà." Còn hai tháng nữa là đến ngày dự sinh, David phải đi Nam Phi thị sát khu mỏ của Neil, anh dự định sẽ quay lại New York sau một tuần.

Kate đang làm việc tại bàn thì Brad Rogers không gõ cửa mà bước vào. Nhìn vẻ mặt nặng nề của anh, cô nói: "Thương vụ Shannon đổ bể rồi à?"

"Không phải, tôi... Kate, tôi vừa nhận được tin, có chuyện rồi, là vụ nổ hầm mỏ."

Cô cảm thấy tim nhói lên một cái. "Ở đâu? Có nghiêm trọng không? Có ai chết không?"

Brad hít một hơi thật sâu: "Có sáu bảy người chết, Kate, David cũng trong số đó."

Câu nói này dường như lấp đầy cả căn phòng, va đập vào các bức tường rồi vang vọng, âm thanh ngày càng lớn cho đến khi biến thành tiếng thét trong tai cô. Âm thanh ấy như thác Niagara trút xuống, nhấn chìm cô. Dần dần, cô lại cảm thấy mình bị hút vào trung tâm của thác nước, rồi càng lúc càng lún sâu, đến mức không thể thở nổi.

Mọi thứ trở nên tối tăm và tĩnh mịch.

Một giờ sau, đứa trẻ chào đời, sớm hơn dự kiến hai tháng. Kate đặt tên cho nó là Anthony James Blackwell. Đây là tên lấy theo tên cha của David. Kate thầm nghĩ, mẹ yêu con vì chính con, con trai của mẹ, và cũng yêu con vì cha của con nữa.

Một tháng sau, tòa dinh thự trên Đại lộ số 5 xây xong, Kate cùng đứa trẻ và một đám người hầu chuyển vào. Mọi vật dụng từ hai tòa lâu đài ở Ý đều được chuyển đến đây. Nơi này gần như đã trở thành một bảo tàng, đồ nội thất phong cách thế kỷ 16 đều làm bằng gỗ óc chó, chạm khắc tinh xảo, cổ kính. Sàn nhà lát đá cẩm thạch màu hồng viền đá cẩm thạch màu đỏ đất. Trong thư phòng ốp gỗ có một chiếc lò sưởi kiểu thế kỷ 18 cực kỳ tinh xảo, phía trên treo một bức tranh sơn dầu quý hiếm của Holbein. Trong phòng kỷ niệm chiến tích đặt đủ loại súng mà David sưu tầm. Ngoài ra còn có một phòng trưng bày nghệ thuật, Kate lấp đầy nó bằng những bức tranh của các bậc thầy như Rembrandt, Vermeer, Velázquez và Bellini. Thêm vào đó là phòng khiêu vũ, phòng tắm nắng, phòng ăn lớn. Cạnh phòng Kate là phòng trẻ. Ngoài ra còn vô số phòng ngủ. Trong khu vườn lớn kiểu Ý có nhiều bức tượng, đều là tác phẩm của các bậc thầy như Rodin, Saint-Gaudens và Maillol. Đây chẳng khác nào cung điện của một vị vua. Vị vua ấy đang lớn dần lên trong đó, Kate nghĩ đầy hạnh phúc.

Năm 1928, khi Tony bốn tuổi, Kate gửi con đến trường mẫu giáo. Thằng bé là một đứa trẻ xinh xắn nhưng rất nghiêm túc. Đôi mắt màu xám và cái cằm bướng bỉnh giống hệt mẹ nó. Nó học nhạc trước, đến năm năm tuổi lại được gửi đến một trường múa. Thời gian tuyệt vời nhất mà hai mẹ con dành cho nhau là ở "Pine Ridge" tại cảng Dark. Kate mua một chiếc du thuyền, tàu buồm gắn máy dài tám mươi feet. Cô đặt tên nó là "Corsair". Cô và Tony cùng du ngoạn vùng bờ biển Maine. Tony cực kỳ thích điều đó. Nhưng công việc vẫn mang lại cho Kate niềm vui lớn nhất.

Công ty mà Jamie McGregor sáng lập có những bí ẩn riêng. Nó luôn tràn đầy sức sống, hấp thụ mọi thứ. Nó là người tình của cô, nó sẽ không chết vào một ngày đông rồi bỏ mặc cô một mình, sự sống của nó là vĩnh cửu. Cô nhất định phải làm cho nó phát triển tiếp. Sau này, cô sẽ giao nó cho con trai mình.

Điều duy nhất khiến Kate phiền lòng trong cuộc sống là vấn đề ở quê nhà. Cô rất quan tâm đến tình hình Nam Phi. Mâu thuẫn chủng tộc ở đó ngày càng gay gắt, Kate rất lo lắng. Ở đó có hai phe chính trị: phe bảo thủ chủ trương phân biệt chủng tộc, phe khai minh chủ trương cải thiện vị thế của người da đen. Thủ tướng James Hertzog và Jan Smuts đã thành lập liên minh, thông qua Luật Đất đai mới. Người da đen bị tước quyền bầu cử, không được sở hữu đất đai. Đạo luật mới này ảnh hưởng ở nhiều mức độ khác nhau đến hàng triệu thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số. Những khu vực không có khoáng sản, trung tâm công nghiệp và cảng biển bị chia cho người da màu, người da đen và người Ấn Độ sinh sống.

Kate đã sắp xếp một cuộc gặp với vài quan chức cấp cao ở Nam Phi. "Đây là một quả bom hẹn giờ." Kate nói với họ, "Các người làm thế này chẳng khác nào nô dịch tám triệu con người."

"Đây không phải là nô dịch, bà Blackwell. Chúng tôi làm thế là vì lợi ích của họ."

"Vậy sao? Các người giải thích thế nào về tất cả những điều này?"

"Mỗi dân tộc đều có những đóng góp độc đáo. Nếu người da đen hòa trộn với người da trắng, họ có khả năng bị đồng hóa. Chúng tôi làm thế là để bảo vệ họ."

"Hoàn toàn là nhảm nhí." Kate phản bác, "Nam Phi đã trở thành địa ngục của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc."

"Đó không phải sự thật. Người da đen ở các quốc gia khác vượt ngàn dặm đến đây đều muốn nhập cảnh vào quốc gia này. Họ trả số tiền cao tới năm mươi sáu bảng Anh để mua một giấy thông hành giả. Người da đen ở đây sống tốt hơn bất kỳ nơi nào trên trái đất."

"Vậy thì tôi thấy thương cho họ." Kate đáp trả.

"Họ đều là những đứa trẻ của xã hội nguyên thủy, bà Blackwell. Đây là vì lợi ích của họ."

Sau cuộc họp, Kate cảm thấy vô cùng chán nản, trong lòng lo lắng sâu sắc cho đất nước của mình.

Kate cũng rất quan tâm đến Banda. Cô thường thấy tin tức về ông trên báo. Báo chí Nam Phi gọi ông là "tắc kè hoa". Trong các bài báo, họ cũng phải lộ ra một chút ngưỡng mộ. Ông thường cải trang thành công nhân, phu xe, lao công để trốn tránh sự truy bắt của cảnh sát. Ông đã tổ chức một đội du kích, vì vậy ông là tội phạm bị truy nã số một. Trên tờ "Cape Times" có đưa tin rằng, những người biểu tình tại một ngôi làng da đen đã khiêng ông trên vai, diễu hành trên phố để ăn mừng chiến thắng. Ông đi từ làng này sang làng khác để diễn thuyết cho học sinh. Và khi cảnh sát nhận được tin đến truy bắt, Banda luôn biến mất không dấu vết. Nghe nói có hàng trăm hàng ngàn người bạn và người ủng hộ làm nhiệm vụ cảnh vệ cho ông. Mỗi đêm ông đều thay đổi chỗ ngủ. Kate biết, không hoàn cảnh nào có thể khiến ông ngừng làm việc, trừ khi cái chết tìm đến.

Cô phải liên lạc được với ông. Vì vậy, cô triệu tập một đốc công người da đen giàu kinh nghiệm. Người này cô luôn rất tin tưởng. "William, anh nghĩ anh có thể tìm thấy Banda không?"

"Chỉ cần ông ấy muốn để người khác tìm thấy."

"Hãy thử xem, tôi muốn gặp ông ấy."

"Tôi sẽ cố gắng hết sức."

Sáng hôm sau, người đốc công nói với cô: "Nếu tối nay bà rảnh, sẽ có một chiếc xe nhỏ chờ sẵn để đưa bà vào nông thôn."

Chiếc xe đưa Kate đến một ngôi làng nhỏ cách Johannesburg bảy mươi dặm về phía Bắc. Tài xế dừng lại trước một ngôi nhà nhỏ, Kate bước xuống và đi vào. Banda đang đợi cô ở đó. Ông vẫn là dáng vẻ của lần cuối cùng cô gặp. Ông hẳn đã sáu mươi tuổi rồi, Kate nghĩ. Những năm qua, ông luôn phải trốn chui trốn lủi để tránh sự truy bắt của cảnh sát. Nhưng trông ông vẫn rất an nhiên, bình thản.

Ông ôm Kate rồi nói: "Cô ngày càng xinh đẹp hơn."

Cô bật cười: "Tôi già rồi, vài năm nữa là bốn mươi tuổi rồi."

"Thời gian để lại dấu vết rất nhẹ trên người cô, Kate."

Họ đi vào bếp. Khi Banda pha cà phê, Kate nói: "Tôi không thích tình hình hiện tại, Banda. Mọi chuyện sẽ phát triển thế nào đây?"

"Mọi chuyện sẽ ngày càng tệ hơn thôi." Banda đáp ngắn gọn, "Chính phủ không cho phép chúng ta đối thoại với họ. Người da trắng đã phá hủy cây cầu nối giữa hai bên. Một ngày nào đó, họ sẽ nhận ra họ cần những cây cầu đó để liên lạc với chúng tôi. Chúng tôi có những người hùng của riêng mình: Nehemiah Thale, Mukunai, Richard Msimang. Người da trắng xua đuổi chúng tôi như lùa gia súc vào đồng cỏ vậy."

"Không phải tất cả người da trắng đều nghĩ như vậy." Kate khẳng định, "Ông có những người bạn đang chiến đấu để thay đổi tất cả những điều này. Một ngày nào đó sẽ thay đổi thôi, Banda, nhưng cần có thời gian."

"Thời gian giống như cát trong đồng hồ cát, rồi sẽ chảy hết thôi."

"Banda, Thame và Magina thế nào rồi?"

"Vợ và con trai tôi đều đang trốn cả rồi," Banda buồn bã nói, "Cảnh sát đang bận rộn truy lùng tôi."

"Tôi có thể giúp gì không? Tôi không thể đứng nhìn mãi được, tiền có ích không?"

"Tiền luôn luôn có ích."

"Vậy tôi sẽ sắp xếp. Còn gì nữa không?"

"Hãy cầu nguyện đi, cầu nguyện cho tất cả chúng ta."

Sáng hôm sau, Kate trở về New York.

Khi Tony lớn lên và có thể đi du lịch, mỗi khi trường nghỉ, Kate lại nhân tiện đi công tác mà đưa cậu đi chơi khắp nơi. Cậu bé đặc biệt thích bảo tàng, có thể đứng ngắm nhìn những bức tranh và tác phẩm điêu khắc của các bậc thầy suốt hàng giờ liền. Ở nhà, Tony vẽ theo những bức tranh sơn dầu trên tường, nhưng cậu ngại không cho mẹ xem tác phẩm của mình.

Cậu bé trông rất đáng yêu, thông minh, hóm hỉnh và có phần nhút nhát, mọi người đều thấy rất quý mến. Kate vô cùng tự hào về con trai mình. Cậu bé luôn đứng nhất lớp. "Con bỏ xa họ rồi, phải không? Cưng à." Cô cười lớn, ôm chặt cậu vào lòng.

Tiểu Tony càng học hành chăm chỉ hơn, quyết không làm mẹ thất vọng.

Năm 1936, đúng ngày sinh nhật mười hai tuổi của Tony, Kate từ Trung Đông trở về. Cô rất nhớ Tony, nóng lòng muốn gặp cậu. Tony chờ mẹ ở nhà. Vừa nhìn thấy cậu, cô đã ôm chầm lấy: "Chúc mừng sinh nhật, cưng, hôm nay vui không?"

"Dạ... dạ... vui... vui... vui lắm ạ, mẹ."

Kate lùi lại, nhìn cậu. Trước đây cô chưa từng thấy cậu nói lắp. "Con sao thế, Tony?"

"Rất... rất tốt, cảm ơn... mẹ."

"Đừng nói lắp như thế. Nói chậm thôi."

"Dạ, mẹ."

Những tuần sau đó, cậu nói lắp ngày càng nặng hơn. Kate quyết định tìm bác sĩ Harley để nói chuyện. Sau khi kiểm tra xong, bác sĩ nói: "Về mặt thể chất, thằng bé không có vấn đề gì. Kate, có phải nó đang chịu áp lực nào không?"

"Con trai tôi? Tất nhiên là không, sao anh lại hỏi vậy?"

"Tony là một đứa trẻ rất nhạy cảm. Nói lắp thường là một biểu hiện của sự thất vọng, là kết quả của việc không thể đối phó với một môi trường nào đó."

"Anh nhầm rồi, John. Ở trường, môn nào Tony cũng đứng đầu. Học kỳ trước, nó còn nhận được ba tấm bằng khen: Vận động viên toàn năng nhất, Học sinh toàn năng nhất, Học sinh xuất sắc nhất môn Mỹ thuật. Tôi khó mà đồng ý rằng nó không thể đối phó với môi trường xung quanh."

"Ra là vậy." Anh nhìn cô, "Vậy khi Tony nói lắp, bà làm gì? Kate."

"Tất nhiên là tôi sửa cho nó rồi."

"Tôi khuyên bà đừng làm thế, như vậy sẽ khiến thằng bé càng căng thẳng hơn."

Kate tức giận vì câu nói này. "Nếu Tony thực sự có vấn đề về tâm lý như anh nghĩ, tôi có thể đảm bảo với anh, đó tuyệt đối không phải do mẹ nó gây ra. Tôi yêu nó, nó cũng biết điều đó, tôi coi nó là đứa trẻ thông minh nhất thế giới."

Đó chính là mấu chốt của vấn đề, không một đứa trẻ nào có thể đạt được tiêu chuẩn cao đến thế. Bác sĩ Harley cúi nhìn biểu đồ của mình: "Chúng ta xem nào, Tony đã mười hai tuổi rồi?"

"Đúng vậy."

"Có lẽ đi xa một thời gian sẽ tốt cho nó. Có thể tìm một trường tư thục nào đó."

Kate chỉ nhìn anh không nói.

"Hãy để thằng bé tự do một chút, đợi nó học xong cấp ba rồi tính. Một vài trường ở Thụy Sĩ khá tốt."

Thụy Sĩ! Nghĩ đến cảnh Tony bị gửi đến một nơi xa xôi như vậy, cô lập tức hoảng sợ. Nó còn quá nhỏ, không có khả năng sống độc lập, nó... Bác sĩ Harley nhìn cô. "Tôi sẽ cân nhắc thêm." Kate nói với anh.

Chiều hôm đó, cô hủy một cuộc họp hội đồng quản trị và về nhà sớm. Tony đang làm bài tập trong phòng.

"Hôm nay con... con... con toàn được điểm ưu, mẹ."

"Con có muốn đi Thụy Sĩ không?"

Đôi mắt cậu sáng lên: "Con... con... con đi được không ạ?"

Sáu tuần sau, Kate sắp xếp cho Tony lên một con tàu. Cậu sẽ đến học tại Học viện Rosey ở thành phố Rolle, một thị trấn nhỏ bên hồ Geneva. Kate đứng bên bến cảng New York, nhìn con tàu khách khổng lồ được tàu kéo đưa ra khỏi cảng, rồi tự do lướt đi. Chết tiệt! Mình sẽ nhớ nó lắm. Cô quay người bước vào chiếc xe đang chờ sẵn. Chiếc xe đưa cô lao về phía tòa nhà văn phòng.

Kate thích làm việc cùng Brad Rogers. Anh đã bốn mươi sáu tuổi, hơn Kate hai tuổi. Nhiều năm qua, họ đã trở thành bạn tốt của nhau. Kate thích anh vì anh cực kỳ trung thành với công ty Krueger-Brent. Brad chưa kết hôn, có vài cô bạn gái xinh đẹp. Nhưng dần dần, Kate nhận ra anh yêu cô một nửa. Anh không ít lần cố ý đưa ra vài ám chỉ. Nhưng cô lại muốn giữ mối quan hệ giữa họ ở mức công việc, chỉ một lần duy nhất cô phá vỡ ranh giới này.

Brad bắt đầu hẹn hò thường xuyên với một cô gái. Tối nào anh cũng về muộn, sáng họp hành thì vẻ mặt mệt mỏi, tâm trí để đâu đâu. Tình trạng này rất bất lợi cho công ty. Một tháng sau, anh ngày càng quá đáng, Kate quyết định phải có biện pháp. Cô nhớ lại việc David suýt nữa đã rời bỏ công ty này vì một người phụ nữ. Cô không thể để Brad xảy ra chuyện tương tự.

Kate dự định một mình đi Paris để mua lại một công ty xuất nhập khẩu, nhưng vào phút cuối, cô quyết định bắt Brad đi cùng. Ngày họ đến nơi, ban ngày tham dự nhiều cuộc họp, buổi tối hai người cùng đi ăn tối tại nhà hàng Le Grand Véfour. Sau đó, Kate gợi ý Brad đến phòng suite của cô tại khách sạn George V để cùng nghiên cứu báo cáo về công ty mới. Khi anh đến, Kate đang mặc chiếc váy ngủ lụa xuyên thấu chờ đợi.

"Tôi mang đến các điều kiện đã sửa đổi đây," Brad mở lời, "Chúng ta..."

"Việc đó để lát nữa hãy nói." Kate dịu dàng nói. Trong giọng nói của cô có một sự quyến rũ khiến anh không kìm được mà ngước nhìn cô. "Tôi muốn chúng ta ở riêng với nhau, Brad."

"Kate..."

Cô lao vào vòng tay anh, ôm chặt lấy anh.

"Lạy Chúa!" anh nói, "Tôi đã nhớ em từ rất lâu rồi."

"Tôi cũng muốn anh, Brad."

Họ bước vào phòng ngủ.

Kate là một người phụ nữ gợi cảm, nhưng từ lâu, động lực tình dục của cô đã chuyển hóa sang các kênh khác. Công việc đã hoàn toàn khiến cô thỏa mãn, lần này cô tìm đến Brad là có ý đồ riêng.

"Kate, tôi đã yêu em từ lâu rồi..."

Anh nằm trên người cô, lặp lại nhịp điệu cổ xưa và vĩnh hằng.

Nhưng trong lòng cô lại đang nghĩ: "Giá họ đưa ra cho công ty này, mẹ kiếp, thật quá cao. Họ biết mình đang rất cần thâu tóm công ty này. Xem ra họ sẽ không nhượng bộ rồi."

Brad thì thầm những lời tình tứ bên tai cô.

"Mình có thể tạm dừng đàm phán, đợi họ tự tìm đến mình. Nhưng nếu họ không đến thì sao? Vậy mình sẽ mất thương vụ này, mình có nên mạo hiểm không?"

Nhịp điệu của anh nhanh dần, Kate phối hợp chuyển động hông đón lấy cơ thể anh.

"Không, họ rất dễ tìm được người mua khác, hay là cứ đưa bao nhiêu trả bấy nhiêu cho xong. Mình có thể bán một công ty con để bù đắp tổn thất."

Brad rên rỉ trong khoái cảm, Kate tăng tốc chuyển động, đưa anh tới cao trào.

"Mình sẽ bảo họ ngay, quyết định chấp nhận điều kiện của họ."

Một tiếng thét dài run rẩy, Brad nói: "Ôi, lạy Chúa, Kate, tuyệt quá. Em thấy tốt không, cưng?"

"Như ở thiên đường vậy."

Đêm đó, cô nằm trong vòng tay Brad. Khi anh đã chìm vào giấc ngủ, cô lại đang suy tư, hoạch định. Sáng hôm sau, khi anh thức dậy, cô nói: "Brad, người phụ nữ mà anh vẫn hay hẹn hò ấy..."

"Lạy Chúa tôi, em ghen à!" Anh cười vui vẻ, "Quên cô ta đi, anh sẽ không gặp cô ta nữa, anh hứa."

Kể từ đó, Kate không bao giờ chung giường với Brad nữa. Anh không hiểu tại sao cô lại từ chối mình, còn cô chỉ nói: "Anh không biết em muốn điều đó đến nhường nào đâu, Brad. Nhưng em sợ rằng như vậy chúng ta sẽ không thể tiếp tục làm việc cùng nhau được nữa. Cả hai chúng ta đều phải biết hy sinh mới được."

Anh đành phải nhẫn nhịn như thế.

Trong khi công ty không ngừng mở rộng, Kate đã xây dựng một số quỹ từ thiện, quyên góp cho các trường đại học, nhà thờ và trường học. Bộ sưu tập nghệ thuật của cô cũng không ngừng tăng lên. Cô mua lại các tác phẩm của những bậc thầy thời kỳ Phục hưng và sau đó, như Raphael, Titian, Tintoretto và El Greco, cùng một số bức họa theo phong cách Baroque như Rubens, Caravaggio và Van Dyck. Người ta đồn rằng, giá trị bộ sưu tập của nhà Blackwell đứng đầu trong các bộ sưu tập tư nhân trên thế giới. Những bộ sưu tập đó nổi danh khắp nơi, chỉ những khách mời đặc biệt mới có cơ hội chiêm ngưỡng. Kate không cho phép chụp ảnh, cũng không thảo luận về những bộ sưu tập này với giới truyền thông. Cô có những giới hạn nghiêm ngặt, không bao giờ thay đổi trong việc giao tiếp với báo chí. Đời sống riêng tư của gia tộc Blackwell không công khai. Người hầu, nhân viên trong công ty đều không được phép bàn tán chuyện trong nhà Blackwell. Tất nhiên, muốn hoàn toàn không có tin đồn hay suy đoán là điều không thể. Kate Blackwell là một nhân vật bí ẩn không thể dò thấu. Bà là một trong những người phụ nữ giàu có và quyền lực nhất thế giới. Có thể đặt ra hàng ngàn câu hỏi về bà, nhưng câu trả lời thì vô cùng ít ỏi.

Kate gọi điện cho viện trưởng học viện Rose: "Tôi muốn tìm hiểu tình hình của Tony."

"Ồ, cậu ấy rất tốt, bà Blackwell. Con trai bà là một học sinh ưu tú, cậu ấy..."

"Tôi không hỏi cái này, ý tôi là..." Cô ngập ngừng, dường như không muốn thừa nhận trong nhà Blackwell còn có chuyện không vẻ vang gì. "Ý tôi là, nó còn nói lắp không?"

"Thưa bà, không thấy bất kỳ dấu hiệu nói lắp nào cả. Cậu ấy hoàn toàn bình thường."

Kate âm thầm trút được gánh nặng trong lòng. Cô luôn hiểu rõ, đó chỉ là tạm thời, một giai đoạn bắt buộc phải trải qua mà thôi. Bác sĩ cũng chỉ có bản lĩnh đến thế!

Một tháng sau, Tony trở về nhà, Kate đón nó ở sân bay. Nó trông rất khỏe mạnh, khôi ngô, trong lòng Kate tràn đầy niềm tự hào.

"À, con yêu của mẹ, con khỏe không?"

"Con kh—khỏe, mẹ—mẹ ơi, m—m—mẹ có khỏe không?"

Những ngày nghỉ ở nhà, Tony say sưa ngắm nhìn những bức tranh sơn dầu mà mẹ đã sưu tầm khi nó đi vắng. Nó tôn sùng những kiệt tác của các bậc thầy đến mức phục lăn. Nó mê mẩn trường phái ấn tượng của Pháp như Monet, Renoir, Manet và Morisot: họ đã mở ra một thế giới kỳ diệu trước mắt Tony. Nó mua màu vẽ và giá vẽ, bắt đầu tập tành. Nó cảm thấy mình vẽ rất tệ, vẫn không muốn đưa cho bất cứ ai xem. Chúng làm sao có thể so sánh với những kiệt tác tinh mỹ kia chứ?

Kate nói với nó: "Tương lai một ngày nào đó, tất cả những bức tranh này đều thuộc về con, cưng à."

Tuy nhiên, ý nghĩ này lại khiến cậu bé mười ba tuổi cảm thấy bất an. Mẹ nó không hiểu điều đó. Những bức tranh này sẽ không bao giờ thực sự thuộc về nó, vì nó không phải trả bất cứ cái giá nào để có được chúng. Nó hạ quyết tâm phải tìm cách đi con đường của riêng mình, nó có một tâm lý mâu thuẫn, vừa muốn rời xa mẹ, lại vừa không nỡ rời đi. Xung quanh bà, mọi thứ đều thú vị và hấp dẫn. Bà là tâm điểm của cơn bão, ra lệnh, mua vào bán ra, việc kinh doanh lớn đến mức đáng sợ. Bà còn đưa nó đến những nơi kỳ diệu, cho nó kết giao với những nhân vật thú vị. Bà là một ông trùm đáng kính, Tony vô cùng tự hào về bà. Trong mắt nó, bà là người phụ nữ quyến rũ nhất thế giới. Điều khiến nó buồn lòng là chỉ cần đứng trước mặt bà, nó luôn bị nói lắp.

Kate vẫn không biết con trai mình kính sợ bà đến mức nào. Cho đến một lần nó về nhà nghỉ, nó hỏi: "M—mẹ, m—mẹ th—thống trị cả thế giới ạ?"

Bà cười lớn, nói: "Tất nhiên là không rồi, sao con lại hỏi câu ngốc nghếch như vậy?"

"B—bạn bè ở trường con thường bàn tán về mẹ, ôi, mẹ thật là... l—lợi hại."

"Mẹ rất lợi hại," Kate nói, "Mẹ là mẹ của con."

Tony chỉ muốn mang tất cả những gì tốt đẹp nhất trên thế giới về để làm Kate vui. Nó biết công ty quan trọng với bà thế nào, bà hy vọng nó sau này sẽ quản lý công ty này ra sao. Trong lòng nó tràn đầy hối hận, vì nó biết mình không thể làm được như vậy. Nó không muốn sắp đặt cuộc đời mình như thế.

Khi nó cố gắng giải thích những điều này với mẹ, bà luôn cười lớn: "Nói nhảm. Tony, con còn quá trẻ, không biết cách sắp đặt tương lai của mình đâu."

Nó lại bắt đầu nói lắp.

Chỉ cần nghĩ đến việc trở thành một họa sĩ, Tony đã thấy vô cùng phấn khích. Có thể nắm bắt mọi thứ tươi đẹp, giữ chúng mãi mãi trên khung vẽ, đó mới là điều đáng làm. Nó muốn đến Paris học vẽ, nhưng nó cũng hiểu mình phải cẩn trọng khi đề cập vấn đề này với mẹ.

Khi ở bên nhau, họ chơi rất vui vẻ. Kate là nữ chủ nhân của rất nhiều bất động sản. Cô mua một vài ngôi nhà ở Palm Beach và South Carolina, mua một trang trại nuôi ngựa giống ở Kentucky. Cô và Tony đã đi thăm thú những nơi này trong kỳ nghỉ. Họ xem giải đua thuyền buồm America's Cup ở Newport. Ở New York, họ đến nhà hàng Delmonico ăn trưa, uống trà ở khách sạn Plaza, ăn tối Chủ nhật tại nhà hàng Lutece. Kate rất hứng thú với đua ngựa, trang trại của cô đã trở thành một trong những trang trại tốt nhất thế giới. Khi ngựa của cô tham gia thi đấu, nếu đúng lúc Tony nghỉ học về nhà, Kate sẽ đưa nó đến trường đua, họ ngồi trong phòng hạng sang. Tony thấy mẹ hò reo đến lạc cả giọng, trong lòng cảm thấy khó hiểu, nó biết sự phấn khích của bà chẳng liên quan gì đến tiền bạc cả.

"Nó thắng rồi, Tony. Hãy nhớ lấy điều này. Thắng mới là quan trọng nhất."

Họ tận hưởng sự tĩnh lặng và an nhàn ở Duckport. Họ đến trung tâm thương mại Pendleton và Coffin mua sắm, uống soda kem ở cửa hàng Duckport. Mùa hè, họ chèo thuyền, đi bộ đường dài hoặc tham quan triển lãm tranh. Mùa đông thì trượt tuyết, trượt băng hoặc đi xe trượt tuyết. Họ cũng thường ngồi bên lò sưởi lớn trong thư viện để sưởi ấm. Kate kể cho con trai nghe về những chuyện xưa của gia tộc cổ xưa này. Ví dụ như chuyện của ông nội nó và Banda, chuyện phu nhân Agnes và những cô gái của bà mở tiệc tặng quà cho bà nội của Tony, vân vân. Đây là một gia tộc đầy màu sắc, một gia tộc đáng tự hào và trân trọng.

"Công ty Kruger-Brent một ngày nào đó sẽ thuộc về con, Tony, con sẽ quản lý nó, và..."

"Con kh—không muốn quản—quản lý nó, mẹ ạ, con không hứng thú với kinh doanh lớn và quyền lực."

Kate nổi giận. "Đồ ngốc này! Con biết thế nào là kinh doanh lớn hay quyền lực không? Con tưởng mẹ chạy khắp thế giới là để gieo rắc tai họa sao? Là để làm hại người khác sao? Con tưởng công ty Kruger-Brent là cái máy nghiền tiền tàn nhẫn, muốn nghiền nát mọi chướng ngại vật sao? Được thôi, để mẹ nói cho con nghe, đứa trẻ ạ. Công ty là vị cứu tinh vĩ đại chỉ sau Chúa Jesus. Chúng ta chính là đấng cứu thế đã phục sinh, Tony. Chúng ta đã cứu sống tính mạng của hàng trăm ngàn người dân. Khi chúng ta mở một nhà máy ở vùng hoặc quốc gia nghèo khó, người dân ở đó sẽ có tiền xây trường học, thư viện, xây nhà thờ, có thể cung cấp thực phẩm, quần áo và phương tiện giải trí tử tế cho con cái họ." Bà thở gấp, giận dữ khôn cùng, "Chúng ta xây nhà máy ở những nơi người dân đói kém và thất nghiệp. Nhờ có chúng ta, những người đó mới có thể sống một cuộc đời tử tế, ngẩng cao đầu. Chúng ta là vị cứu tinh của họ. Từ nay về sau không được để mẹ nghe thấy con chế giễu kinh doanh lớn và quyền lực nữa."

Trong tình huống này, Tony chỉ có thể nói: "X—x—xin lỗi, m—m—mẹ."

Thế nhưng trong lòng nó vẫn bướng bỉnh nghĩ: Mình muốn trở thành một họa sĩ.

Khi Tony mười lăm tuổi, Kate gợi ý nó đến Nam Phi nghỉ hè. Nó vẫn chưa từng đến đó. "Bây giờ mẹ không rời đi được, Tony, nhưng con sẽ thấy đó là một nơi đầy mê hoặc. Mẹ sẽ sắp xếp mọi thứ cho con."

"Con có—có chút muốn—muốn đi nghỉ ở Duckport, m—m—mẹ."

"Để mùa hè năm sau đi." Kate kiên quyết nói, "Mùa hè năm nay, mẹ muốn con đến Johannesburg."

Kate dặn dò kỹ lưỡng người phụ trách ở Johannesburg, họ cùng nhau vạch ra lộ trình và lịch trình du lịch cho Tony. Mỗi ngày sắp xếp đều xoay quanh một mục đích: phải bằng mọi cách khiến Tony cảm thấy chuyến đi này khó quên, phải khiến nó hiểu rằng tương lai của nó và công ty gắn liền với nhau.

Kate nhận được báo cáo về con trai mỗi ngày. Nó được đưa đi tham quan một mỏ vàng. Ở khu mỏ kim cương, nó tham quan suốt hai ngày. Nó còn được dẫn đi tham quan một số nhà máy của công ty Kruger-Brent. Ngoài ra còn có một chuyến đi săn ở Kenya.

Vài ngày trước khi kỳ nghỉ của Tony kết thúc, Kate gọi điện cho giám đốc công ty ở Johannesburg. "Tony thế nào rồi?"

"Ồ, cậu ấy rất vui vẻ, bà Blackwell. Thú thật với bà, sáng nay cậu ấy còn hỏi tôi liệu có thể ở lại thêm vài ngày nữa không đấy."

Kate thấy vui trong lòng, "Tốt quá, cảm ơn ông."

Sau khi Tony nghỉ hè xong, trước tiên nó đến Southampton, Anh, rồi đi máy bay của hãng Pan Am bay về Mỹ. Kate chỉ cần có thể là luôn đi máy bay của Pan Am, họ dành cho cô nhiều ưu đãi, vì thế cô không quen ngồi máy bay của các hãng khác.

Để đón con trai về, Kate đã bỏ một cuộc họp rất quan trọng. Máy bay hạ cánh xuống sân bay LaGuardia mới xây ở New York, khi nó xuất hiện tại nhà ga của Pan Am, gương mặt tuấn tú của nó tràn đầy sức sống.

"Chuyến đi vui vẻ không, cưng?"

"Nam Phi quả là một đất n—nước thần kỳ, m—mẹ ạ. Họ đưa con đi máy bay đến sa mạc Namib, chính là nơi ông nội lấy trộm kim cương từ cụ cố Vander Merwe đấy. Mẹ biết không?"

"Ông ấy không lấy trộm, Tony." Kate đính chính lời nó, "Ông ấy chỉ lấy lại thứ thuộc về mình thôi."

"Tất nhiên là vậy rồi." Tony cười nhạt, "Dù sao thì con cũng đã đến đ—đó rồi. Con không thấy sương mù biển, nhưng họ v—vẫn có bảo vệ, chó săn vân vân." Nó cười, "Họ không cho con bất cứ mẫu v—vật nào."

Kate cười vui vẻ, "Họ không cần thiết phải đưa cho con bất cứ mẫu vật nào, cưng à, tương lai một ngày nào đó, tất cả đều là của con."

"Vậy mẹ đi n—nói với họ đi, họ không nghe l—lời con."

Cô ôm lấy nó, "Con chơi vui lắm phải không?" Cô cực kỳ hạnh phúc, Tony cuối cùng cũng phấn khích vì gia sản mà nó sẽ thừa kế.

"Mẹ biết con th—thích nhất cái gì không?"

Kate cười hiền từ, "Cái gì nào?"

"Màu sắc, con đã v—vẽ rất nhiều tranh phong cảnh ở đ—đó. Con không muốn rời đi, con muốn đến đó v—vẽ tranh."

"Vẽ tranh?" Kate cố gắng làm cho lời nói của mình mang chút nhiệt tình, "Đó là một sở thích rất hay đấy, Tony."

"Không, con không nói là—là sở thích, mẹ. Con muốn làm một họa—họa sĩ. Con đã suy nghĩ rất nhiều, con muốn đến P—Paris học. Con thực sự nghĩ mình có thể có chút thiên phú."

Thần sắc Kate căng thẳng lên, "Con không định cả đời đi vẽ tranh đấy chứ?"

"Đúng vậy, con muốn như thế, m—mẹ, đây là việc duy nhất con y—yêu thích."

Kate biết, cô đã thất bại.

"Nó có quyền sống theo cách của mình," Kate nghĩ, "Nhưng làm sao mình có thể để nó phạm phải sai lầm khủng khiếp như vậy chứ?"

Tháng 9, cả hai người tạm thời không cần phải đưa ra quyết định, chiến tranh nổ ra ở châu Âu.

"Mẹ muốn con học ở trường Tài chính và Thương mại Wharton." Kate nói với Tony, "Hai năm sau, nếu con vẫn muốn làm họa sĩ, con sẽ nhận được sự chúc phúc của mẹ." Trong lòng Kate vô cùng chắc chắn, đến lúc đó Tony nhất định sẽ thay đổi. Cô không thể tưởng tượng nổi, con trai mình khi hoàn toàn có thể lãnh đạo một tập đoàn liên hợp kinh ngạc nhất thế giới, lại chọn cách dành cả đời để bôi màu lên vải bố. Dù sao thì, nó cũng là con trai cô.

Đối với Kate Blackwell, Thế chiến thứ hai không nghi ngờ gì là một cơ hội tốt. Cả thế giới thiếu hụt quân nhu và vật tư, còn công ty Kruger-Brent lại có thể cung cấp cho họ những mặt hàng này. Công ty có một bộ phận chuyên cung cấp trang bị cho quân đội, một bộ phận khác phụ trách phục vụ dân dụng. Các nhà máy của công ty sản xuất suốt hai mươi bốn giờ không nghỉ.

Kate khẳng định Mỹ sẽ không khoanh tay đứng nhìn. Tổng thống Roosevelt kêu gọi cả nước phải trở thành kho vũ khí của thế giới dân chủ. Ngày 11 tháng 3 năm 1941, "Đạo luật Cho thuê" cuối cùng được Quốc hội thông qua. Các hạm đội vận tải của Đồng minh vượt Đại Tây Dương bị đe dọa bởi sự phong tỏa mặt biển của người Đức. Tàu ngầm Đức theo nhóm tám chiếc một, đánh chìm hàng chục tàu của Đồng minh.

Đức lúc đó trở thành bá chủ không ai sánh bằng, dường như không ai có thể ngăn cản sự bành trướng của nó. Adolf Hitler chà đạp Hiệp ước Versailles, xây dựng nên cỗ máy chiến tranh lớn nhất trong lịch sử. Người Đức dùng chiến tranh chớp nhoáng chiếm đóng Ba Lan, Bỉ và Hà Lan. Ngay sau đó quân đội Đức lại đập tan tuyến phòng thủ của Đan Mạch, Na Uy, Luxembourg và Pháp.

Kate nhận được tin các nhà máy của công ty Kruger-Brent bị Đức quốc xã tịch thu, những công nhân người Do Thái bị bắt giữ, đưa đến trại tập trung. Thế là cô quyết định hành động. Cô gọi hai cuộc điện thoại trước. Một tuần sau cô đến Thụy Sĩ. Sau khi đến khách sạn ở Zurich, cô nhận được một tờ giấy, trên đó viết: Đại tá Brinkman muốn gặp cô. Brinkman từng là giám đốc chi nhánh Berlin của công ty Kruger-Brent. Sau khi nhà máy bị chính phủ Đức quốc xã tiếp quản, Brinkman được phong quân hàm đại tá, phụ trách công việc của nhà máy.

Ông ta đến khách sạn gặp Kate. Ông ta là một người gầy gò, sắc sảo, mái tóc vàng óng được chải kỹ lưỡng trên cái đầu hói. "Tôi rất vui được gặp bà, bà Blackwell. Tôi đến để truyền đạt một thông điệp của chính phủ tôi cho bà. Tôi được ủy quyền đảm bảo với bà rằng, khi chiến tranh kết thúc, nhà máy của bà vẫn sẽ được trả lại cho bà. Đức sẽ trở thành cường quốc công nghiệp hùng mạnh nhất thế giới. Chúng tôi hoan nghênh những người như bà hợp tác với chúng tôi."

"Nếu người Đức bị đánh bại thì sao?"

Đại tá Brinkman nở một nụ cười trên môi. "Bà và tôi đều biết rất rõ, điều đó là không thể, bà Blackwell. Mỹ rất khôn ngoan, không can thiệp vào công việc của châu Âu, tôi hy vọng nó sẽ tiếp tục làm như vậy."

"Tôi có thể khẳng định, ông đúng là hy vọng như vậy, đại tá." Cô nghiêng người về phía trước, "Tôi nghe đồn rằng người Do Thái bị đưa vào trại tập trung để hành quyết, có thật không?"

"Tôi có thể đảm bảo với bà, đó hoàn toàn là tuyên truyền của người Anh. Đúng, người Do Thái bị đưa đến các trại lao động, nhưng tôi lấy danh nghĩa một sĩ quan đảm bảo rằng, họ đã được đối xử thỏa đáng."

Kate không biết những lời này rốt cuộc có ý nghĩa gì. Cô chuẩn bị làm cho ra nhẽ.

Ngày hôm sau, Kate hẹn gặp một thương nhân người Đức có danh tiếng, tên là Herr Buhler. Ông ta hơn năm mươi tuổi, ngoại hình phi phàm, khuôn mặt từ bi, ánh mắt dường như đã thấu hiểu nỗi khổ nhân gian. Họ gặp nhau tại một quán cà phê nhỏ gần Bahnhof. Ông Buhler chọn một cái bàn ở góc vắng người.

"Tôi nghe nói," Kate dịu dàng nói, "ông bắt đầu hoạt động ngầm, lén đưa những người Do Thái đó sang các nước trung lập, có thật không?"

"Không phải vậy, bà Blackwell. Một hành động như vậy là sự phản bội đối với Đệ tam Đế chế."

"Tôi còn nghe nói, ông thiếu kinh phí để thực hiện những hoạt động này."

Ông Buhler nhún vai, "Vì không có hoạt động ngầm nào, nên tôi cũng không cần tiền, đúng không?"

Đôi mắt ông ta căng thẳng nhìn quanh quán cà phê. Người đàn ông này mỗi ngày ngay cả thở, ngủ cũng sống trong nguy hiểm.

"Tôi hy vọng có thể giúp ông một tay." Kate cẩn trọng nói, "Công ty TNHH Kruger-Brent có nhà máy ở nhiều nước trung lập và Đồng minh. Nếu có người có thể đưa người tị nạn đến đó, tôi sẽ sắp xếp việc làm cho họ."

Ông Buhler ngồi đó, nhấp ngụm cà phê đắng. Cuối cùng ông nói: "Tôi hoàn toàn không biết gì về những điều này, bây giờ làm hoạt động chính trị rất nguy hiểm. Nhưng nếu bà có ý muốn giúp đỡ những người khốn khổ, tôi có một người chú ở Anh, ông ấy mắc một căn bệnh tiêu hao khủng khiếp, chi phí y tế rất đắt đỏ."

"Đắt bao nhiêu?"

"Mỗi tháng năm mươi ngàn đô la. Để chi trả chi phí y tế cho ông ấy, phải tìm cách gửi tiền đến London trước, sau đó mới chuyển tiền đến một ngân hàng Thụy Sĩ."

"Tôi có thể sắp xếp."

"Chú tôi sẽ rất vui."

Khoảng hai tháng sau, những nhóm nhỏ người tị nạn Do Thái bắt đầu liên tục đến lãnh thổ các nước Đồng minh. Họ tìm được việc làm tại các nhà máy của công ty Kruger-Brent.

Hai năm sau, Tony bỏ học. Nó đến văn phòng của Kate, thông báo tin này cho bà. "Con đã c—cố gắng rồi, m—m—mẹ. Th—thật đấy. Nhưng con vẫn quyết đ—định học v—vẽ. Chiến—chiến tranh kết thúc, con sẽ đi—đi P—Paris."

Từng chữ từng chữ như búa tạ nện vào tim cô.

"Con b—biết, mẹ sẽ th—thất vọng. Nhưng con muốn sống c—cuộc đời của mình, con nghĩ con sẽ xuất sắc—thực sự xuất sắc." Nó nhìn sắc mặt Kate, "Con đã làm những việc mẹ bắt con làm. Bây giờ mẹ nên cho—cho con cơ hội này. Học viện Nghệ thuật Chicago đã nhận con vào học rồi."

Trong đầu Kate rối bời, công việc mà Tony muốn theo đuổi lại là thứ vô dụng như vậy. Điều duy nhất cô có thể nói là: "Con định khi nào khởi hành?"

"Ngày 15 bắt đầu đăng ký."

"Hôm nay ngày bao nhiêu?"

"Ngày 6 th—tháng 12."

Ngày 7 tháng 12 năm 1941, Chủ nhật, máy bay ném bom Nakajima và máy bay tiêm kích Zero của Hải quân Đế quốc Nhật Bản đánh úp Trân Châu Cảng. Ngày hôm sau, Mỹ tham chiến. Chiều hôm đó, Tony bị gọi nhập ngũ vào Thủy quân lục chiến Mỹ. Nó được đưa đến trường sĩ quan Quantico ở Virginia để huấn luyện, sau khi tốt nghiệp được phái đến Nam Thái Bình Dương.

Kate cảm thấy mình đang sống trên bờ vực thẳm. Mỗi ngày cô đều bị những công việc trong công ty đè nặng không rút ra được. Thế nhưng, trong thâm tâm mỗi giây mỗi phút đều có một nỗi sợ hãi, sợ rằng sẽ nhận được tin tức khủng khiếp về Tony—nó bị thương hoặc đã hy sinh.

Cuộc chiến với Nhật Bản diễn ra không mấy suôn sẻ, máy bay ném bom Nhật Bản tấn công các căn cứ không quân của Mỹ tại Guam, Midway và đảo Wake. Tháng 2 năm 1942, chúng chiếm đóng Singapore, sau đó nhanh chóng chiếm lấy New Britain, New Ireland, quần đảo Admiralty và quần đảo Solomon. Tướng MacArthur buộc phải rút lui khỏi Philippines. Lực lượng vũ trang hùng mạnh của phe Trục đang dần dần chinh phục toàn thế giới, bóng tối bao trùm khắp mọi nơi. Kate lo sợ Tony sẽ trở thành tù binh và bị tra tấn. Dù bà có quyền lực và tầm ảnh hưởng, nhưng ngoài việc cầu nguyện, bà chẳng thể làm gì khác.

Mỗi lá thư Tony viết gửi về đều là một ngọn đuốc hy vọng, chứng minh rằng vài tuần trước anh vẫn còn sống. "Họ chẳng nói với chúng con điều gì cả," Tony viết, "Người Nga vẫn đang cầm cự chứ? Lính Nhật rất tàn bạo, nhưng mẹ phải nể phục họ. Họ không sợ chết..."

"Tình hình ở Mỹ thế nào rồi? Công nhân thực sự đang đình công để đòi tăng lương sao?..."

"Tàu phóng lôi hoạt động rất hiệu quả ở đây, những chàng trai đó ai cũng là anh hùng..."

"Mẹ có nhiều mối quan hệ rộng rãi mà, hãy gửi cho chúng con vài trăm chiếc máy bay chiến đấu F4U mới của Hải quân nhé, nhớ mẹ..."

Ngày 7 tháng 8 năm 1942, quân Đồng minh thực hiện cuộc phản công đầu tiên tại Thái Bình Dương. Thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ lên đảo Guadalcanal thuộc quần đảo Solomon. Kể từ đó, họ không ngừng tiến công, giành lại những hòn đảo bị quân Nhật chiếm đóng.

Tại châu Âu, quân đội Đồng minh đạt được chuỗi chiến thắng gần như liên tiếp. Ngày 6 tháng 6 năm 1944, với cuộc đổ bộ chung thành công của quân đội Mỹ, Anh và Canada tại Normandy, quân Đồng minh bắt đầu chiến dịch tại Tây Âu. Một năm sau, ngày 7 tháng 5 năm 1945, người Đức đầu hàng vô điều kiện.

Ngày 6 tháng 8 năm 1945, một quả bom nguyên tử với sức công phá hơn 20.000 tấn thuốc nổ TNT đã được thả xuống Hiroshima, Nhật Bản. Ba ngày sau, một quả bom nguyên tử khác hủy diệt thành phố Nagasaki. Ngày 14 tháng 8, người Nhật đầu hàng, cuộc chiến đẫm máu kéo dài cuối cùng cũng kết thúc.

Ba tháng sau, Tony trở về nhà. Anh và Kate cùng đến cảng Dark, ngồi trên sân ga, phóng tầm mắt nhìn những cánh buồm trắng lấp lánh trên vịnh.

Chiến tranh đã thay đổi nó, Kate thầm nghĩ, Tony trông trưởng thành hơn nhiều. Anh để một hàng ria mép nhỏ, làn da rám nắng, vóc dáng vạm vỡ, trông vô cùng anh tuấn. Xung quanh mắt cũng đã xuất hiện vài nếp nhăn mà trước đây không có. Kate chắc chắn rằng, vài năm sống ở hải ngoại đã cho anh đủ thời gian để suy nghĩ lại về quyết định không vào công ty làm việc của mình.

"Kế hoạch hiện tại của con là gì, con trai?" Kate hỏi.

Tony mỉm cười, "Vẫn là câu nói con đã nói trước khi bị bạo lực ngắt quãng, thưa mẹ — con sẽ đi đến Pa — Paris."

[DeepSeek phụ dịch] C.7
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026