Tiểu thuyết này lấy cảm hứng từ những sự việc có thật: Chuơng trình "Lebensborn" được khởi xướng bởi Heinrich Himmler và bắt đầu tại nuớc Đức vào năm 1933, sau đó là trong các năm 1940-1941 tại những quốc gia bị chiếm đóng, ước tính có khoảng tám nghìn trẻ em được sinh ra trong các nhà trẻ của Lebensborn ở Đức, từ tám nghìn tới mười hai nghìn trẻ em tại Na Uy, hàng trăm trẻ em tại Áo, Bỉ và Pháp.
Việc bắt cóc và quá trình Đức hoá các trẻ em Ba Lan. (Các trẻ em Ukraina và các quốc gia vùng Baltic cũng nằm trong số này. Ước tính số trẻ em bị bắt cóc khỏi gia đình của mình là khoảng hơn hai trăm nghìn đứa trẻ.)
Nhiệm vụ của UNRRA (Cơ quan cứu trợ nhân đạo Liên Hiệp Quốc), cùng với các tổ chức giúp đỡ người tị nạn khác, là bằng mọi cách giúp đỡ một phần những đứa trẻ này đoàn tụ với gia đình sau chiến tranh.
Tuy vậy, Konrad, nhân vật chính của tôi, không dựa vào bất kì nhân vật có thật nào. Nhân vật này hoàn toàn do tôi hư cấu. Nhưng Lukas thì được dựa vào một nhân vật lịch sử có thật là Salomon Perel. Vào năm 1941, thiếu niên Do Thái này đã may mắn thành công trong việc giả danh người Aryan. Anh ta đã chiến đấu trên mặt trận phía Đông suốt một năm trong một đơn vị của quân đội Đức, sau đó vào học tại một trường nổi tiếng của Đoàn thanh niên Hitler. Trái với Lukas, anh ta đã sống sót.
Nhiều nhân vật đã thực sự tồn tại, có người chỉ được nhắc đến tên, có người đã đóng một vai trò quan trọng trong sáng tác của tôi:
Max Sollmann, giám đốc điều hành của chương trình Lebensborn.
Gregor Ebner, tướng quân y trong lực lượng SS, người không chỉ quản lý nhiều nhà trẻ của chương trình Lebensborn mà còn là người phụ trách việc tuyển chọn và Đức hoá những trẻ em bị bắt cóc.
Johanna Sander, nữ hiệu trưởng trường nội trú Kalish.
“Braune Schwester", các "nữ tu áo nâu", những người đã thực hiện các vụ bắt cóc trẻ em.
Ngài Tesch, bà Viermetz, bà Müller (NSV - Cơ quan phúc lợi xã hội Quốc Xã), Karl Brandt (bác sĩ riêng của Hitler), và vợ, bà Anni Rehborn.
Vào các năm 1947-1948, Sollmann, Ebner và các cộng sự của họ đã bị đem ra xét xử ở Nuremberg, nhưng toà án của quân đồng minh đã không công nhận "yếu tố tội phạm" của chương trình Lebensborn. Họ đã được phóng thích sau phiên toà.
Tôi đặc biệt đề cao quyển sách tuyệt vời của Marc Hillel: Nhân danh chủng tộc, (NXB Fayard, 1975), là tác phẩm đã cung cấp cho tôi tư liệu tối cần thiết cho việc viết cuốn tiểu thuyết của mình. Tôi tin rằng tác phẩm của Marc Hillel là tác phẩm duy nhất đã tập trung tất cả các thông tin liên quan tới chương trình Lebensborn.
Một phụ nữ ở Berlin, nhật kí (tác giả khuyết danh, NXB Gallimard, tuyển tập Folio64, 2006), nguồn cảm hứng lớn cho tôi để mô tả những cuộc phiêu lưu của hai nhân vật chính trong thành phố Berlin đổ nát vào cuối chiến tranh.
Sau đây là những cuốn sách khác đã cung cấp cho tôi nguồn tư liệu quý giá:
Napola, những ngôi trường lừng danh của Đế chế Thứ ba, Herma Bouvier, Claude Geraud, L'Harmattan, 2009.
Sự sụp đổ của Berlin, Antony Beevor, NXB Fallois, 2002.
Những vị hôn thê của Quốc trưởng, Will Berthold, NXB Presses de la Cité, 1961.
Europa, Europa, Sally Perel, NXB Ramsay, 1990.
Những đứa trẻ thành Vienna, Robert Neumann, NXB Liana Levi, 2009.
Chúa tể rừng xanh, NXB Gallimard, tuyển tập Folio, 1970.
Tôi cũng phải thêm vào danh sách này rất nhiều trang Web mà tôi đã tham khảo nhưng rất tiếc là tôi đã không thể ghi lại các địa chỉ trong những lần truy cập của mình.
Xin cảm ơn Zosia Orlicka về các văn bản dịch từ tiếng Ba Lan.
Cuối cùng tôi xin nồng nhiệt cảm ơn Thierry Lefèvre. Vài năm trước đây, chính anh là người đã gọi ý tôi về việc viết cuốn tiểu thuyết này, và anh ấy đã sát cánh với tôi trong công việc bằng những lời động viên không ngừng.
ebook©vctvegroup
Scan: VC
Text & Ebook: Bọ Cạp
12.3.2021
Chú Thích
1Trong nguyên bản tiếng Pháp dùng từ tiếng Đức là Herr, thường đứng trước tên nam giới, mang ý nghĩa lịch sự, chúng tôi chuyển sang tiếng Việt là ngài cho bạn đọc tiện theo dõi. (Chú thích của ban biên tập, từ sau sẽ viết tắt là B/T)
2Một hãng lớn chuyên về sản xuất thép và vũ khí, biểu tượng cho ngành công nghiệp nặng của nước Đức thời đó. (Chú thích của dịch giả, từ sau sẽ viết tắt là D/G)
3Hay Waffen-SS, là một nhánh của Lực lượng ss (Schutzstaffel), các sư đoàn thuộc Waffen-SS cũng tham chiến như quân .chính quy. (D/G)
4Trẻ con, bếp núc, nhà thờ. (Chú thích của tác giả, từ sau sẽ viết tắt là T/G)
5Nghĩa là "nhà", để chỉ nơi thực hiện chương trình "Lebensborn". (B/T)
6Hitler muôn năm! (câu chào kiểu Quốc Xã). (D/G)
7Quân đội Đức trong Thế chiến thứ Hai chỉ có Lực lượng vũ trang SS có cấp bậc Chuẩn tướng, tương đương với Chuẩn đô đốc hải quân, trong khi đó lục quân và không quân không có cấp bậc này. (D/G)
8Trong nguyên bản tiếng Pháp dùng từ tiếng Đức là Frou, thường đứng trước tên nữ giới, mang ý nghĩa lịch sự, chúng tôi chuyển sang tiếng Việt là cô, chị, bà... cho bạn đọc tiện theo dõi. (B/T)
9Một địa danh lịch sử nằm ở phía Bắc của nước Đức, nơi những nhóm người Đức cổ từng sinh sống. (D/G)
10Chủng người sống phổ biến ở quanh bán đảo Balkans, Đông Nam châu Âu. (D/G)
11Otto von Bismarck (1815-1898) là một chính khách Phổ, sau là thủ tướng đầu tiên của đế quốc Đức. (BAO
12Paul von Hlndenburg (1847-1934) là một Thống chế và chính khách người Đức. (B/T)
13Trước khi đường viên và đường cát xuất hiện thì đường dạng thỏi có nhiều kích cỡ khác nhau với đáy bằng và đầu hình bầu dục. Trước khi dùng phải cắt đường ra bằng một cái kìm nhỏ. (D/G)
14Mark: Đơn vị tiền tệ của Đức. (D/G)
15Bund Deutscher Mädel: thành lập năm 1930, Liên đoàn này là một nhánh dành cho nữcủa Đoàn Thanh Niên Hitler. Liên đoàn có hai nhóm tuổi khác nhau, nhóm bé từ mười đến mười bốn tuổi, nhóm lớn từ mười lăm đến hai mốt tuổi. (D/G)
16Nữ lãnh đạo, nữ chỉ huy. (D/G)
17Rhénanie vốn là một vùng phi quân sự, năm 1936 Hitỉer đưa quân vào chiếm đóng Rhénanie mặc dù điều này vi phạm Hiệp ước Locarno mà nước Đức đã kí kết trước đó. (D/G)
18Hay khóc dạ đề, hiện tượng quấy khóc ở trẻ sơ sinh. (D/G)
19Jour J: từ được dùng trong quân sự để chỉ ngày diễn ra một sự kiện quan trọng, ví dụ một trận đánh lớn, tương tự như D - Day trong tiếng Anh. (D/G)
20Giờ bắt đầu một chiến dịch quân sự. (B/T)
21Giờ bắt đầu một chiến dịch quân sự. (B/T)
22Thủ đô của nước Áo. (D/G)
23 Tiếng Đức: Để dành cho lần sau. (T/G)
24 Cơ quan mật vụ Đức Quốc Xã. (D/G)
25Chào chiến thắng (một câu chào chính thức của nước Đức Quốc Xã thời đó). (D/G)
26Cấm tuyệt đối. (T/G)
27Những vùng nói tiếng Đức của Tiệp Khắc. (D/G)
28Thần Sấm trong thần thoại Bắc Âu, sở hữu bảo bối quý nhất là Búa sét Mjollnir. (BTT)
29Tạm biệt. (D/G)
30Sacoche trong tiếng Pháp, chỉ túi bằng vải dày hoặc da đeo ở bên mình. (B/T)
31Phỏng theo truyền thuyết về vua Arthur/nàng tiên trên hồ" là người đã trao cho nhà vua thanh kiếm thần Excalibur. (D/G)
32Ravensbrück là một trại tập trung nữ trong Thế chiến II, nằm ở miền Bắc nước Đức, cách Berlin khoảng chín mươi ki-lô-mét về phía Bắc, tại một địa điểm gần làng Fũrstenberg, được xây dựng vào tháng Mười Một năm 1938 theo lệnh của lãnh đạo ss Heinrich Himmler và được dự định chỉ giam giữtù nhân nữ. (B/T)
33Chiến thắng muôn năm. (D/G)
34Rất đúng (tiếng Đức). (T/G)
35Thủ đô Ba Lan. (B/T)
36Viết tắt của "Quốc Trưởng Đặt Tên". (B/T)
37Trong thời kì chiến tranh, do cà phê trở nên khan hiếm nên người ta thường rang rễ cây diếp xoăn lên để trộn cùng cà phê hay uống thay cà phê. (D/G)
38Quốc ca của nước Đức Quốc Xã thời kì 1933-1945. (D/G)
39Người đàn ông trẻ tuổi, cũng dùng để chỉ một học viên sĩ quan. (D/G)
40Những tên gọi khác để chỉ người Do Thái. (D/G)
41Cút! Thằng Do Thái kia! Cút đi! (T/G)
42Câu này lấy từ truyền thuyết trong Kinh Thánh, trong đó nhà tiên tri Moses đã rẽ nước biển Đỏ giúp người Do Thái đi qua dưới lòng biển, chạy thoát khỏi sự truy đuổi của người Ai Cập. (D/G)
43"Cuộc chiến đấu của tôi", tên một quyển sách dạng hồi kí được viết bởi Adolf Hitler, xuất bản lần đầu năm 1925. (D/G)
44Tiền. (D/G)
45Thiết bị định vị dưới nước. (B/T)
46Tiếng lóng người Đức dùng để chỉ những người lính Liên Xô. (T/G)
47"Volkssturm" trong tiếng Đức, đội dân quân tự vệ Đức thành lập năm 1944, chủ yếu bao gồm quân nhân ở độ tuổi rất trẻ, hoặc ngược lại, rất cao tuổi. (T/G)
48Nhà độc tài, người lãnh đạo phong trào phát xít của nước Ý khi đó cùng phe Trục với Đức Quốc Xã. (D/G)
49Một khu nhà ở quận Tiergarten, thành phố Berlin. Đây từng là nơi làm việc của các sĩ quan đã tham gia vào vụ ám sát Hitler. Họ cũng bị kết án và sau đó bị hành quyết ngay trong toà nhà này. (D/G)
50Quả cầu bằng sắt có sợi xích dùng để đeo vào chân các phạm nhân nhằm hạn chế khả năng di chuyển của họ. (D/G)
51Người Nga đã tới rồi. (T/G)
52Đơn vị SS chuyên phụ trách các trại tập trung, phù hiệu của đơn vị này có hình cái đầu lâu. (D/G)
53"Mày có phải lính SS không?" (T/G)
54Không có đồng hồ ở trong đó đâu! (D/G)
55Kiểu đồng hồ giống đồng hồ quả quýt có chức năng bấm giờ. (D/G)
56Toà nhà Nghị viện của Đức. (D/G)
57Liên đoàn nữ thanh niên Đức (D/G)
58Karl Dönitz: một vị tướng Hải quân, người kế nhiệm Hitler giữ vai trò đứng đầu nước Đức. (B/T)
59Joseph Gœbbels, Bộ trưởng Bộ tuyên truyền của Đức Quốc Xã. (D/G)
60Tiếng Do Thái-Đức. (B/T)
61Tiếng Do Thái, ngôn ngữ bản địa của Isarel. (B/T)
62Máy in quay tay kiểu thủ công. (B/T)
63Bỏ hình thập ngoặc, lá cờ Quốc Xã chỉ còn là màu đỏ gần với cờ của nước Nga Xô-viết. (B/T)
64Folio: tuyển tập sách được in với khổ rihỏ (10.8 X 17.8cm) của NXB Gallimard. (D/G)