Max, Bi Kịch Chủng Thượng Đẳng

Lượt đọc: 81 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương 34

❊ ❊ ❊

Hậu quả của những gì đã xảy ra: Cả Berlin làm tình. Một sự cuồng loạn lan tràn khắp hang cùng ngõ hẻm. Các cô gái trẻ được sự cho phép và lời chúc tốt lành của các bà mẹ đều muốn dâng hiến cho một thanh niên Đức, ai cũng được, còn hơn là bị hiếp bởi những gã Ivan say xỉn. Người ta rất hay vấp phải những cơ thể đang cuốn lấy nhau trên một cái cầu thang, sau một thân cây, một hàng rào dựng tạm, một đống gạch đá. Nhiều khi rất khó phân biệt được những tiếng kêu của một vụ cưỡng bức với âm thanh từ những cuộc truy hoan tự nguyện. Những tiếng kêu đó vọng ra từ các ô cửa sổ vỡ nghe chẳng khác gì nhau.

Rồi một hôm vào sáng sớm, bà Oberham vừa mới trở về sau một đêm ở chỗ các gã Ivan liền lôi Ute ra khỏi đống quần áo, cầm tay chị ta, ra hiệu cho Lukas đi theo bà ta ra cửa rồi hỏi anh ta:

"Nào! Cậu bé, cậu bao nhiêu tuổi rồi nhỉ?"

"Mười sáu, thưa bà."

"Tốt lắm! Ute mười bảy tuổi! Cậu thích nó, nó thích cậu, vậy thì đây, dắt nó đi! Nó thuộc về cậu!"

Nói xong bà ta ấn tay Ute vào tay Lukas, xoay người anh ta và đẩy anh ta lên cầu thang.

"Nhưng mà... Thế tức là...," Lukas quay lại lí nhí.

Ute vẫn không nhúc nhích, chị ta có vẻ chẳng hiểu gì cả. Vẫn còn co ro và mụ mẫm sau một đêm ngủ không ngon mà chị ta đã phải trải qua dưới đống quần áo, chị ta ngáp oạp một cái tưởng như sái cả quai hàm.

"Nào! Đi đi! Cậu còn chờ gì nữa? Đừng bảo là tôi phải chỉ dẫn cho cậu từng li từng tí đấy chứ!" Bà Oberham hỏi với giọng bực bội, bà ta đang vội quay về gieo mình xuống tấm đệm để đánh một giấc.

Lukas và Ute ngơ ngác nhìn nhau một hồi trong im lặng. Rốt cuộc Ute sực tỉnh. Tốt rồi, chị ta đã hiểu ra. Mặt chị ta ửng hồng, miệng khẽ mỉm cười. Chị ta dùng lòng bàn tay vỗ những lọn tóc bù xù làm chúng thẳng ra, vuốt lại váy cho phẳng, vừa ưỡn ẹo từ bên này sang bên kia vừa cắn môi. Tay chị ta vẫn không rời tay của Lukas, chị ta lúc lắc nó như những đứa bé thường làm khi chơi trò múa vòng tròn. Mặt Lukas đỏ dừ, anh ta cố thử đáp lại nụ cười của Ute nhưng không sao làm được, anh ta liền quay lại và nhìn khắp lượt căn hầm.

Tất cả mọi người đều ở đó và đang nhìn anh ta. Khi ánh mắt anh ta dừng lại ở Manfred và tôi, chúng tôi không nhịn được cười. (Do hay phải nhìn những cặp đôi đang quấn vào nhau nên Manfred đã sáng tỏ ra nhiều điều. Cậu ta hiểu rất rõ điều mà Lukas và Ute phải làm ở đó, bây giờ, ngay lập tức.) Bực mình vì chuyện ấy, Lukas trừng mắt nhìn chúng tôi và cố tỏ ra bình thản.

"Được, đồng ý!" Anh ta nói với vẻ sẵn sàng đương đầu thử thách.

Anh ta ra hiệu cho Ute đi trước. Vừa leo được mấy bậc thì anh ta lại chạy xuống.

"Chúng tôi không thể làm ở đây, ngay trước mặt các người được!"

Họ sẽ không làm điều đó trong hầm mà trong căn hộ của chúng tôi. Mọi việc được quyết định như vậy.

Vậy là sáng hôm đó chúng tôi quay lại căn hộ, đây là lần đầu tiên kể từ khi những gã Ivan tới. Tôi nói "chúng tôi" là bởi vì mặc cho Lukas phản đối, tôi nhất quyết đi theo anh ta để nhân cơ hội này rời khỏi căn hầm chết tiệt. Tôi mơ ước được thấy lại cái nhà vệ sinh tráng lệ của mình ở trên đó với chồng giấy cao ngất. Còn Manfred thì bám đít tôi không rời nửa bước.

"Phải có ai đó canh gác chứ, không đúng vậy sao? Nhỡ có một gã Ivan xuất hiện đúng lúc anh chị đang ôm nhau thì anh chị làm thế nào?"

Lukas buộc phải xuống nước trước lí lẽ không thể phủ nhận của tôi.

May thay căn hộ không có ai, ít ra là vào sáng hôm đó vì có nhiều dấu hiệu cho thấy đã từng có người ở đây. Sàn nhà dính phân ngựa - đế giày của những gã Ivan lúc nào cũng dính đầy phân ngựa - những cái chăn vứt trên giường, thứ mà chúng tôi không có, và bát đĩa bẩn trong nhà bếp. Mọi thứ đều nhơ nhớp, bẩn thỉu, kể cả cái nhà vệ sinh của tôi. Không còn tí giấy nào, chồng sách đã biến mất, chỉ còn lại những bìa sách. Vậy là tuyệt tác Mein Kamp đã được dùng để chùi một cái đít Xô-viết.

Xót xa trước cảnh tượng đó, Manfred lại quay về với thói quen của mình, bắt tay vào dọn dẹp chu đáo. Còn Lukas thì sau khi ghép và đóng đinh cố định mấy tấm ván gỗ lại thành một cái cửa tạm cho phòng ngủ của người lớn, anh ta ở lì trong đó cùng với Ute.

Tôi ngồi trong bếp, ở đó còn một số thức ăn thừa. Một hộp thịt mà những gã Ivan mới ăn một nửa, một miếng mỡ muối, vài lát bánh mì đã cứng đanh lại, một chút sữa.

Tôi cắm cúi ăn.

Thấy thế Manfred không cưỡng được cái bụng, cậu ta bỏ chổi xuống rồi ngồi vào bàn với tôi. Ngoài kia không có tiếng bom, không có tiếng giày cồm cộp trên vỉa hè, giờ là lúc những gã Ivan đang ngủ. Do vậy nên tôi nhận thấy rằng ngoài tiếng nhai thức ăn của chúng tôi thì không có tiếng động nào khác trong căn hộ. Một sự im lặng không bình thường.

"Ngó qua một cái xem họ đang làm gì! Làm gì thì làm nhanh nhanh lên chứ, chúng ta không có nguyên cả buổi sáng đâu!"

Manfred không đợi nhắc đến lần thứ hai. Cậu ta đứng lên rồi ghé mắt nhìn qua một trong vô vàn những lỗ thủng trên các tấm ván được dùng làm cửa.

"Họ còn chưa cỏi quần áo nữa!" Cậu ta quay lại và nói với vẻ thất vọng.

"Đồ ngốc, không nhất thiết phải trần truồng! Chỉ cần Lukas tụt quần dài xuống và cởi quần lót của Ute ra."

"Nhưng mà, anh ta vẫn chưa tụt quần dài ra còn Ute vẫn mặc quần lót! Họ ngồi trên giường, tay trong tay, mắt nhìn nhau và cười. Chỉ có vậy thôi!" Manfred kết luận trong khi nhúng lát bánh mì khô vào sữa.

Tôi buông một tiếng thở dài lo lắng. Với cái đà này thì họ sẽ chẳng thể nào xong trước buổi trưa và không rõ phải làm thế nào mói có thể cuốn gói trước khi những gã Ivan thức dậy.

Nhưng chỉ vài phút sau giả thiết đó của tôi đã bị bác bỏ. Hẳn là Lukas đã quyết định chuyển sang thế tấn công. Có những tiếng thì thào vọng ra, lúc đầu còn không rõ ràng, sau là những câu rành rọt hơn. "Không! Chờ đã, không phải như thế! Phải thế này cơ! Từ từ thôi! Nhè nhẹ thôi"... Đó là tiếng của Ute. Cái tình huống này thật kì cục, trong tất cả các cuộc giao hoan mà tôi từng chứng kiến, đàn ông luôn là người dẫn dắt chứ không phải đàn bà. Rõ ràng là chiến tranh đã làm đảo lộn tất cả.

"Đúng rồi, như thế thích hơn! Đúng rồi, đúng rồi! Tiếp tục đi!... Đúng! Đúng! Đừng dừng lại!"

Tiếp đó thì không còn giọng thì thào nào nữa mà chỉ còn âm thanh những chiếc lò xo của tấm đệm rên lên kẽo kẹt, chúng ngày càng mạnh hơn, làm những thanh gỗ lát sàn nhà phát ra tiếng kêu ken két. Cuối cùng là tới những âm thanh đặc trưng. Màn kết thúc quen thuộc.

Vậy là, tuy bắt đầu một cách khó khăn, mọi việc diễn ra khá chóng vánh. Theo ước đoán của tôi - tôi không có đồng hồ để kiểm chứng, và cũng không một người Đức nào còn đồng hồ nữa - cuộc mây mưa của Lukas và Ute đã kéo dài cùng lắm là năm phút.

Sau khi xong việc, họ vào bếp cùng chúng tôi. Lukas càu nhàu vì Manfred và tôi đã chén gần hết mọi thứ. Nhưng trong khi lục lọi các ngăn đựng đồ, Ute đã phát hiện một lô thực phẩm: các hộp thịt khác, sữa, các hộp su hào, cháo bột, bánh bột yến mạch. Một bữa tiệc thực sự!

Chúng tôi chén một bữa no căng bụng.

Nhũng ngày tiếp theo diễn ra tương tự. Ban đêm ở dưới hầm, buổi sáng ở trong căn hộ. Các cuộc mây mưa của Lukas và Ute diễn ra thường xuyên. Chúng ngày càng kéo dài và ầm ĩ hơn. Họ đã bén mùi với nó. Rồi cùng nhau ăn uống. Mỗi buổi sáng, chúng tôi không thấy có gì suy chuyển trong căn hộ, bởi vậy chúng tôi đoán rằng nó không còn nằm trong số những địa chỉ mà những gã Ivan hay lui tới nữa. Thế là chúng tôi đánh liều ở lại trong căn hộ cả ngày lẫn đêm. Đúng như dự đoán, không ai đuổi chúng tôi ra khỏi nhà. Đó là vì căn hộ có một lợi thế mà lúc đầu chúng tôi đã không nhận ra: nó nằm trên tầng năm, mà theo đài-thu-thanh-truyền-miệng thì những gã Ivan không thích leo cầu thang. Phần lớn trong số họ là những người nông dân, họ thích mặt đất và sự tiếp xúc với mặt đất, thế nên họ ưa ở tầng trệt. Ở các tầng cao khiến họ cảm thấy bị cô lập và trong trường hợp rút lui họ sẽ mất nhiều thời gian hơn.

Manfred cần mẫn làm công việc nội trợ với tất cả sự nhiệt tình để tạo cho chúng tôi một mái ấm gia đình. Là con gái, nhẽ ra Ute phải giúp cậu ta, nhưng mà không, chị ta từ chối thẳng thừng. Đồ đỏm dáng! Từ khi không còn bị bà Oberham quản nữa và nhất là kể từ khi ngủ với Lukas, tiểu phu nhân xử sự như một công chúa. Chị ta tiết lộ với chúng tôi rằng bà Oberham không phải mẹ đẻ của mình mà là một giáo viên tại BDM57 và chị ta là một thành viên. Sự hỗn loạn cũng xảy ra tại BDM giống như ở Napola, tất cả mọi người mạnh ai nấy chạy, thân ai nấy lo. Ute bỏ trốn cùng bà Oberham, người mà hiện nay chị ta rất hài lòng vì đã dứt ra được.

Đêm đầu tiên chị ta ngủ trên gác xép nhà bếp vì lí do an toàn, sau đó Lukas nảy ra sáng kiến hoá trang chị ta thành đàn ông. Anh ta lượm được một bộ com-lê cũ ở đâu đó trong một chiếc va-li bị vứt bỏ. Manfred phụ trách việc cắt tóc cho chị ta. Kết quả: họ quấn lấy nhau hai bốn giờ trên hai bốn giờ. Và những cuộc mây mưa diễn ra bất kể ngày hay đêm.

Tốt thôi, nếu Lukas không lấy làm phiền trong trường hợp những gã Ivan mò lên tận tầng năm và nghĩ rằng anh ta là một kẻ đồng tính thì đó là việc của anh ta.

Vậy là hiện nay chúng tôi gồm có bốn người sống cùng nhau.

Lukas lục lọi trong những ngôi nhà mà các gã Ivan trú lại rồi đem về cho chúng tôi đồ ăn thừa của họ, thường khá phong phú.

Lukas vẫn tiếp tục thay đổi. Vì được ăn uống đầy đủ và thoả sức làm tình nên bây giờ anh ta nhìn đàn ông hơn. Anh ta đẹp trai hẳn lên. Manfred giúp anh ta cắt tóc, kiểu tóc ngắn gần như cạo trọc rất hợp với anh ta. Nó làm nổi bật đôi mắt của anh ta lên, nhìn to hơn. Giọng anh ta trầm đi một âm bậc, khi anh ta nói có thể thấy cái viên tròn tròn ở cổ anh ta - cục yết hầu - chạy lên chạy xuống. Vì phải chạy đi chạy lại trong thành phố Berlin, phải leo cầu thang các toà nhà mà anh ta ghé vào để tìm thức ăn, các cơ bắp được hình thành từ hồi còn ở Napola đã xuất hiện trở lại dưới lớp quần áo bắt đầu chật căng. Đôi vai rộng, xương chậu hẹp, đôi chân cuồn cuộn bắp, một học viên sĩ quan thực thụ như trước đây. Anh ta cũng trở nên hoà nhã, bớt hung hăng hơn. Nhất là đối với tôi.

Thỉnh thoảng khi có chút nắng ấm và những tiếng nổ trở nên thưa thớt trên phố, chúng tôi đi dạo. Chỉ hai đứa chúng tôi với nhau. Chúng tôi ra ngoài ngồi trong sân của toà nhà để hút thuốc lá. Một sáng nọ khi chúng tôi định châm một điếu thuốc để hút chung thì có một bà vén váy lên và đi vệ sinh ngay giữa sân. Sau một thoáng ngây người ở đó nhìn người đàn bà kia đại tiện giữa thanh thiên bạch nhật, chúng tôi phá ra cười.

"Chẳng còn gì là niềm tự hào Quốc Xã nữa, phải không Max?" Lukas hỏi tôi.

Từ sau cái chết của bà tóc vàng, anh ta gọi tôi là Max. Tôi không thấy có gì phiền phức cả. Còn hay hơn chán cái từ "Đầu lâu". Cái tên này nghe rất kêu, dù chỉ là nghe từ miệng anh ta nói ra.

Tôi đưa mắt nhìn về phía người đàn bà đang ngồi xổm kia. Mái tóc rối bù, bẩn thỉu, đi chân đất. Có vô vàn những người đàn bà như vậy đi lại trong Berlin với đôi chân trần và vẻ mặt nhớn nhác. Tôi nhớ tới những nữ y tá ở Steinhöring, những nữ tu áo nâu ở Poznan, những nữ giám thị ở Kalish. Tất cả bọn họ nhìn mới tuyệt làm sao trong những bộ đồng phục của mình. Và tôi phải thừa nhận một điều, vâng, cái niềm tự hào Quốc Xã ấy, nó đã đi đời nhà ma rồi.

Tôi cầm lấy điếu thuốc mà Lukas đưa và lợi dụng khoảnh khắc hiếm hoi này để hỏi anh ta một điều đã làm tôi day dứt bấy lâu nay.

"Tại sao anh không nói với những gã Ivan rằng anh là nguời Ba Lan?"

Lukas lấy lại điếu thuốc, rít một hơi dài và nhún vai.

"Tao đã suýt làm thế, vài lần là đằng khác, nhưng... tao không biết... tao thấy không thoải mái lắm. Mày biết đấy, khi bọn họ tràn sang chiếm Ba Lan cùng với lính Đức, họ đối xử với chúng tao cũng chả ra gì."

Ừ nhỉ, những gã Ivan từng là đồng minh của chúng tôi khi chiến tranh mới bắt đầu. Tôi đã quên khuấy điều đó.

"Tao thấy sờ sợ. Chính người Nga cũng tùng có truyền thống bài Do Thái lâu đời." Lukas nói tiếp. "Mới cả dù sao thì sau chiến tranh tao cũng không muốn bị họ gửi trả về Ba Lan. Tao chẳng còn ai ở đó. Tao muốn chờ người Mỹ. Chúng ta có thể hi vọng về một sự thay đổi với họ. Nghe này, Max," giọng anh ta chợt phấn chấn hẳn lên. "Khi các cuộc giao tranh kết thúc, lúc mà chúng ta có thể rời khỏi Berlin, chúng ta phải bằng mọi cách đi về phía Tây và cầu cứu người Mỹ."

Với vẻ suy tư, anh ta rít hết hơi thuốc này đến hơi thuốc khác, quên béng cả việc chuyền điếu thuốc cho tôi.

"Họ đã giải phóng các trại tập trung đấy, mày có biết không? Nghe nói có một số người sống sót. Rất ít. Tao không biết liệu mẹ tao có nằm trong số đó không. Tốt hơn cả là tao nên chuẩn bị cho tình huống xấu nhất..."

Anh ta ngừng nói để ngắm đám khói thuốc đang bay lên. Bởi anh ta nhắc tới người mẹ của mình, trong suốt vài phút tôi lo ngay ngáy là anh ta sẽ lại hành xử kì quặc giống như những tuần cuối cùng ở Napola. Nhưng không, anh ta nói tiếp với giọng bình tĩnh:

"Nếu người ta bảo tao rằng mẹ tao đã chết thì tao sẽ thành mồ côi giống mày Max ạ. Không chỉ có mỗi chúng ta đâu, đất nước sẽ tràn ngập trẻ mồ côi đủ mọi quốc tịch. Ở đây không đủ chỗ cho tất cả mọi người. Người Mỹ sẽ lôi chúng ta ra khỏi đống lầy này, họ sẽ gửi chúng ta đi thật xa, tới nước họ hoặc... Mày nghĩ sao nếu chúng mình đi Canada chẳng hạn, hay nước Úc?"

Tôi suy nghĩ mông lung, tôi chẳng nhớ Canada nằm ở đâu, Úc thì lại càng mù tịt.

"Em không biết. Đức là đất nước của em."

"Giờ thì hết rồi, Max ạ. Hãy nhìn nước Đức kia kìa! Nó giống cái gì hả?"

Anh ta hất hàm chỉ cho tôi bãi phân mà người đàn bà lúc nãy để lại trên mặt đường lát gạch. Mùi thối của của nó bay tới chỗ chúng tôi. Xa hơn một chút, những người lính đang ngồi trên vỉa hè. Kiệt quệ, nhếch nhác, hôi hám. Nhiều người quấn trên đầu lớp băng loang lổ máu, chân tay teo tóp hay bị cắt cụt.

"Mày nghĩ điều gì sẽ đến với mày ở đây? Mày sẽ bị tống vào trại trẻ mồ côi, may mắn hơn thì vào một gia đình không phải do mày chọn để làm con nuôi. Đó là điều mà mày muốn hay sao?"

Tôi lắc đầu phủ nhận. Con nuôi thì không. Nhất định không. Về điểm này thì tôi không hề đổi ý.

"Nhưng... Nhưng nếu người ta nói với anh rằng mẹ anh vẫn còn sống, nếu anh tìm được bà ấy, anh với bà ấy cũng không định quay về Ba Lan sao?"

"Không! Chúng tao sẽ đi khỏi đây! Chúng tao sẽ tới Canada hay Úc! Và đem cả mày theo... Ai cũng sẽ đến lượt, anh bạn thân mến ạ!" Anh ta tiếp tục, không để tôi có thời gian đáp lại. "Tao đã sống với bọn Quốc Xã trong nhiều năm trời, chắc mày cũng chịu đựng được hai người Do Thái chứ hả?"

Tôi không nói gì mà chỉ cười trừ.

"Ute và Manfred thì sao, họ cũng sẽ đi cùng chứ?" Tôi hỏi sau một hồi im lặng.

"Không, bọn chúng thì khác. Cha mẹ chúng ở đây. Chúng có cơ hội tìm được họ."

Tôi vẫn đắn đo.

"Nhưng chúng ta sẽ làm gì ở Canada hay Úc?"

"Tao cóc biết. Cái đó để từ từ rồi tính!"

Những lúc như thế này thật hiếm hoi.

Dù biết rằng Ute góp phần vào sự thay đổi của Lukas (việc làm tình giúp bình tâm lại, giảm bớt sự hung hăng, sự tức giận), nhưng tôi vẫn không ưa chị ta. Chị ta đã lén lút xâm nhập vào cuộc sống của chúng tôi. Không có chị ta hẳn Lukas sẽ dành nhiều thời gian hơn cho tôi. Không có chị ta thì có lẽ hai chúng tôi đã đi về phía Tây. Chị ta làm tôi phát bực với điệu bộ công chúa của mình. Viện cớ là chúng tôi ít tuổi hơn, chị ta tự cho mình cái quyền được ra lệnh cho tôi và Manfred.

Đôi lúc các bạn biết chúng tôi giống cái gì không? Một gia đình. Một gia đình nhỏ hiền hoà, người cha, người mẹ và hai đứa con. Manfred thích nghi tốt với điều đó, cậu ta cảm thấy yên tâm, cậu ta thích bị sai bảo và được chiều chuộng, nhưng tôi lại không thích thế chút nào.

Tôi căm ghét các gia đình. Từ trước tới giờ vốn thế.

Thế là một buổi sáng, nhân lúc Lukas đã đi tìm lương thực, tôi nói với Ute trong lúc cắn ngập răng vào một lát bánh mì mà ôi kì diệu thay, nó được phết một lớp bơ thực vật khá dày.

"Khi chiến tranh kết thúc, Lukas và em sẽ đi sang Canada. Chỉ hai đứa chúng em thôi."

Sau khi ngước mắt lên trời ngao ngán, Ute nhìn Manfred với ánh mắt đồng loã, vẻ như muốn nói: "Đừng để ý, đó là điều nhảm nhí!", và chẳng buồn trả lời tôi, chị ta tự làm cho mình một lát bánh phết bơ.

Tôi quyết định tiếp tục tấn công. Lần này thì với pháo hạng nặng.

"Lukas là người Do Thái đấy."

Manfred thấy cần thiết phải can thiệp.

"Đừng lo, Ute. Konrad vẫn thường cợt nhả như vậy. Nó như là một nỗi ám ảnh đối với cậu ấy."

"Câm mồm đi, thằng kia! Tao không nói chuyện với mày!... Lukas là người Do Thái đấy." Tôi nhìn thẳng vào đôi mắt cũng không kém xanh của Ute và nhắc lại.

Chị ta vuốt tóc Manfred như để an ủi, cậu ta đang tiu nghỉu vì bị tôi mắng.

"Cậu không còn gì để bịa ra nữa hả? Đồ nhãi ranh!" Rốt cuộc chị ta trả lời tôi. "Được, tôi nói cho cậu biết, Lukas không thể nào là Do Thái. Có... một chi tiết bí mật nhỏ để chứng minh là cậu nói láo." Chị ta nói với giọng đắc chí.

Cho rằng mình đã ghi điểm, chị ta ngắm nghía những chiếc móng tay đen đúa, nham nhở với vẻ hài lòng chẳng khác nào mình vừa từ tiệm sửa móng tay ra. Rồi chị ta cắn một miếng rõ to vào lát bánh mì phết bơ.

"Ý chị muốn nói tới cái của quý chưa cắt bao quy đầu của anh ấy? Đó là cái chi tiết bí mật chứ gì? Hồi đầu em cũng bị mắc lừa như vậy, nhưng nó chẳng chứng minh điều gì cả. Nó không ngăn cản được việc Lukas là người Do Thái."

Thế là tôi bèn kể tuốt tuồn tuột câu chuyện ra. Cuộc gặp gỡ của chúng tôi ở Kalish, việc Đức hoá bắt buộc, những gì Lukas kể với tôi về cha mẹ mình khi chúng tôi nằm trong bệnh xá, cái chết của cha và em trai anh, việc mẹ anh bị đày tới Treblinka. Rồi những ngày ở Napola và các vụ ám sát học viên sĩ quan.

Khi tôi kết thúc lời kể, Ute và Manfred đã đánh rơi những lát bánh mì xuống bàn tự lúc nào. Tôi đã làm họ ăn mất ngon. Còn tôi thì tiếp tục ăn một cách bình thản, chậm rãi thưởng thức cùng lúc hương vị của món bơ thực vật trên lát bánh mì và những bộ mặt sững sờ của họ.

Manfred là người đầu tiên trấn tĩnh lại, cậu ta thốt lên.

"Ôi trời! Lukas là một người Ba Lan? Một người Do Thái? Không thể thế được! Anh ấy..."

Tôi đoán rằng đây là lần đầu tiên cậu ta nhớ lại những tiết sinh vật ở Napola. Thậm chí có thể cậu ta nhớ ra cả bức tranh mà cậu ta đã vẽ hộ tôi hồi đó, bức tranh về một gã Do Thái bụng phệ ngồi trên quả địa cầu được gạch ngang với chữ TIỀN. Tôi nói nốt câu hộ cậu ta.

"Tao biết, anh ấy có tóc vàng và mắt xanh. Anh ấy cao lớn và rắn chắc chứ không thấp bé và béo ụ. Anh ấy không có mũi quả ổi hay các ngón tay bị khoằm, tuy thế anh ấy vẫn là Do Thái."

Lại một sự im lặng. Tin tức mới mẻ này thật là khó tiêu hoá trong bữa ăn sáng.

"Vậy là, hai người bọn cậu không phải anh em?" Manfred dò hỏi.

Tôi lắc đầu, nhìn sang Ute. Chị ta vẫn không nói gì. Từng là thành viên của BDM, hẳn là chị ta đã nghe nói không ít về người Do Thái.

"Chị vẫn sẽ ngủ với anh ấy chứ?"

"..."

"Chị sẽ làm gì với đứa bé của chị?" Tôi hỏi để tìm hiểu sâu hơn.

"Đứa bé nào?"

"Đứa bé trong bụng chị ấy. Đứa con của của chị với Lukas."

"Nhưng mà tôi... tôi không có bầu!" Chị ta quả quyết với giọng hơi rít lên.

Một thoáng sợ hãi lướt qua trong mắt chị ta và theo bản năng chị ta đặt hai tay lên bụng mình, tựa như chị ta có thể nhận ra sự hiện diện của đứa bé mà tôi vừa nói đến.

"Chị có thể tặng nó cho nhà lãnh đạo mới của nước Đức sau khi biết người đó là ai."

Một nhà lãnh đạo mới, vâng.

Bởi vì Hitler đã chết.

Ông ta chết vào hôm qua. Đó là ngày 30 tháng Tư năm 1945. Chúng tôi đã xuống hầm để tìm một số đồ đạc mà Ute muốn lấy lại, đúng vào lúc cái máy thu thanh của bà Betstein đang bật. Nó đang phát một bản nhạc tang lễ cùng giọng nói của Dönitz58 thông báo tin buồn. Và rồi điện bị cắt và cái máy thu thanh câm tịt.

Chẳng ai có phản ứng gì. Không một ai. Mọi người đều thờ ơ.

Kể cả tôi.

"Đi đời Hitler. Đi đời Gœbbels.59 Staline, muôn năm!"

Đó là câu mà những gã Ivan hò reo trên phố (Nghe nói là sau đó thì Goebbels cũng tự sát.)

Hay là Ute sẽ tặng đứa con của mình cho Staline?

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026