"Hãy làm cho món quà của bạn trở nên có ích, hãy tặng một chiếc quan tài!"
Đó là khẩu hiệu của lễ Giáng sinh năm 1944. Nó hiện diện khắp mọi nơi trên các bức tường của Berlin. Kể cả dưới này, trong các hành lang của U-Bahn (tàu điện ngầm) nơi chúng tôi đang chen chúc như những con chuột.
Từ năm tháng nay, Lukas và tôi chỉ thấy mỗi quang cảnh trong đường hầm dưới lòng đất của Berlin. Chúng tôi rất hiếm khi đi ra ngoài. Trên đó là những đám cháy, hàng núi những đống đổ nát, những toà nhà xiêu vẹo hoặc đã đổ sập. Không khí ngập ngụa bụi vữa, một thứ bụi dính vào da, chui vào miệng, bám vào răng lạo xạo. Không tài nào xua đi được thứ bụi đó, nó làm bạn ho sặc sụa và phải khạc nhổ. Vô số các cột khói bốc lên bầu trời đang cháy rực, tạo thành những đám mây đen dày đặc cứ cuộn lẫn vào nhau mà không thể tan đi được. Anh sáng có vẻ cũng nhuốm màu đùng đục, như thể chẳng có tí ánh sáng nào hết.
Đế chế Thứ ba đáng lẽ phải kéo chúng tôi ra khỏi bóng tối mịt mùng. Nhưng ngược lại, có vẻ như chính nó đã dìm chúng tôi vào bóng tối.
Lúc Lukas kéo tôi ra khỏi giường để trốn khỏi Napola và bảo với tôi là chúng tôi sẽ tới Berlin, tôi đã rất phấn khởi. Berlin. Thủ đô của đất nước tôi. Cuối cùng thì tôi cũng được thấy nó. Tôi tự hỏi tại sao chúng tôi đang đi về hướng ngược lại với những người khác. Tại sao những người Đức rời bỏ thành phố. Tại sao, với va-li trên tay, họ lẫm lũi bước đi, ngày cũng như đêm, tựa như những kẻ mộng du, phờ phạc, nhớn nhác, vẻ mặt vô cảm. Tại sao chúng tôi thường bất chợt nhìn thấy một cái hố trong đó chất đầy vũ khí, dụng cụ nhà bếp hay những bộ xương ngựa. Cuối cùng tôi hiểu ra rằng đó là những dấu hiệu của một sự hỗn loạn kinh hoàng, một sự sụp đổ quy mô. Một cuộc tháo lui, mạnh ai nấy chạy trên diện rộng.
Chẳng có vẻ gì của một chuyến đi chơi thú vị như tôi tự hình dung.
Trong suốt chuyến đi chúng tôi luôn phải tránh các toán dân quân tự vệ. Có hôm chúng tôi bắt gặp một toán gồm các thanh niên. Họ đang tổ chức một nhóm kháng chiến ở rìa một ngôi làng. Họ chất các khúc thân cây lại với nhau để dựng một hàng rào mà họ tin rằng có thể ngăn được cuộc tấn công của xe tăng. Tay đội trưởng của họ, một đứa bé mười lăm tuổi giống như Lukas, nhận thấy chúng tôi mặc đồng phục của Napola nên muốn thu nạp chúng tôi. Tôi thì sẵn sàng tham gia đơn vị của cậu ta. Tại sao không chứ? Lúc này tôi vẫn còn mong muốn chiến đấu để bảo vệ đất nước, nhằm cứu vãn tình hình. Nhưng Lukas ngăn tôi lại.
"Ê! Đầu lâu, quên những điều vớ vẩn mà người ta đã nhồi đầy vào sọ mày đi! Chẳng có cái quái gì đáng để cứu ngoài mạng sống của chính mày đâu! Tao phát ngấy với lũ nhóc con cuồng tín lắm rồi!"
Nói xong anh ta tung một cú đánh gục tay đội trưởng, khi những đứa khác, chỉ lớn hơn tôi một chút, định phản kháng - bọn này còn chẳng có thứ vũ khí nào trong tay - tôi liền tiến tới gần và nói với chúng:
"Các cậu vừa thoát chết đấy! Anh ta có thể đã chặt đầu hay đâm chết chỉ huy của các cậu! Anh ta đã giết bốn thanh niên khác. Đó là một kẻ giết người hàng loạt!"
Tôi bỏ mặc chúng đứng đó với những đôi mắt tròn xoe như cái đĩa, bị che khuất gần hết bởi các chiếc mũ quá rộng. Tôi chạy theo Lukas lúc này đã tiếp tục cất bước trên đường.
Kể từ lúc bắt đầu cuộc hành trình, anh ta rất ý thức về vai trò anh trai của mình. Anh ta đích thân đưa ra các quyết định quan trọng. Một mặt tôi thích thế hơn là nhìn thấy anh ta trong tình trạng ngây ngây dại dại như mấy tuần vừa qua ở Napola, nhưng mặt khác, tôi rất tức tối khi anh ta cứ ra lệnh cho tôi miết.
Hơn nữa, nhẽ ra tôi không nên theo chân anh ta tới Berlin. Lukas muốn chờ người Nga tới. Anh ta nói rằng người Nga là những người bạn. Chẳng phải điều đó có nghĩa rằng họ là kẻ thù của tôi đó sao?
Chưa hết, anh ta lại bắt đầu gọi tôi là "Đầu lâu". Tôi trả đũa bằng cách gọi anh ta là "Lukas" trong khi anh ta nhất quyết đòi dùng cái tên Ba Lan của mình, Lucjan.
Ga tàu điện ngầm.
Xung quanh chúng tôi là một biển người gồm đàn bà, trẻ con và những người già. Chúng tôi chen chúc, người nọ ép sát người kia như cá mòi đóng hộp. Những tấm nệm và gối được đặt giữa các đường ray, những chiếc mắc áo đầy quần áo treo lủng lẳng bên các sợi dây cáp của những bảng tín hiệu. Quần áo, váy, áo khoác. Cảnh tượng đó làm Lukas kinh ngạc.
"Những thứ kia để làm gì vậy, mày có thể giải thích cho tao không? Người Đức chúng mày cùng với sự ám ảnh về ngoại hình và vệ sinh. Chẳng hiểu họ nghĩ gì nữa? Rằng sau hai mươi giờ là dạ hội hay sao?"
Đúng là những cái mắc áo đó chẳng dùng để làm gì cả, nếu không muốn nói là chúng còn chiếm diện tích, thứ vốn đang rất thiếu thốn lúc này. Quần áo là phẳng phiu để làm gì khi chúng bám đầy bụi? Quần áo mới để thay có ích gì khi bạn còn chẳng thể tắm rửa? Những khi bị cắt điện thì những chiếc mắc áo đó nhìn giống những bóng ma. Hay giống những người bị treo cổ đang đung đưa trên đầu chúng tôi. Tôi ngẫm nghĩ về điều này và tin rằng những bộ quần áo được là phẳng phiu rồi treo lên mắc áo đó giúp giữ lại một chút nhân phẩm. Nhưng Lukas chẳng thèm hiểu điều đó. Tôi thì rất bực khi anh ta cứ chỉ trích đồng bào của tôi.
"Ít ra thì người Đức cũng sạch sẽ!" Tôi vặc lại. "Không như những con lợn Ba Lan!"
Bằng chứng là Lukas không day dứt, khổ sở như tôi vì rác rưởi và sự mất vệ sinh. Anh ta chẳng hề lấy làm khó chịu khi phải mặc quần áo rách rưới, bẩn thỉu, hôi hám. Anh ta có thể giải quyết nhu cầu ở bất cứ đâu, kể cả tại những nhà vệ sinh ở trong tình trạng vô cùng tồi tệ, đường ống thoát bị tắc, sàn ngập lênh láng bẩn thỉu bởi những chất lỏng hay chất rắn mà tôi còn chẳng muốn biết chúng từ đâu tới hay thành phần của chúng là gì. Tiểu tiện thì tôi vẫn đi được, nhưng còn đại tiện thì rất khó khăn. Phần lớn thời gian tôi bị táo bón. Rồi mỗi khi tôi rặn ra được một cục thì sau đó tôi vặn vẹo như một con giun bởi chẳng có giấy để chùi và cái đít bẩn làm tôi khó chịu. Suy cho cùng thì thiếu ăn cũng có cái lợi của nó, bởi chẳng có gì nhiều nhặn để thải ra nên không cần phải đi vệ sinh thường xuyên nữa.
Dẫu sao thì bầu không khí Giáng sinh năm nay cũng sẽ chẳng có gì. Tôi vốn dĩ thờ ơ với lễ Giáng sinh. Hồi còn ở Napola, vào dịp này chúng tôi ăn mừng lễ Đông chí. Những đêm thức khuya bên các ngọn đuốc dưới trời tuyết rơi chẳng hề làm tôi thấy nhớ nhung.
Tôi chưa bao giờ có quà Giáng sinh. Tôi cũng chưa bao giờ tin vào những câu chuyện về ông già râu xồm mặc áo đỏ thường chui xuống theo ống khói lò sưởi và chúi mũi vào các đôi giày để nhét quà vào đó.
"Người Do Thái có ăn mừng Giáng sinh không?" Tôi hỏi Lukas.
"Họ ăn mừng lễ Hanoukka. Người ta đốt một ngọn nến trên cây đèn nến trong tám ngày và vào cuối tuần, lũ trẻ con sẽ được nhận những món quà."
À! Vậy là cũng giống nhau cả. Những cây nến trên một cây đèn nến hay những vòng hoa trên một cây thông, nhất là cái màn tặng quà. Cũng thế cả thôi.
Một bé gái ngồi gần chỗ chúng tôi, hẳn là cô bé đã nghe chúng tôi nói chuyện. Cô bé hỏi mẹ của mình:
"Chúng ta sẽ có món ngỗng quay cho bữa tối chứ mẹ? Ông già Noel có xuống ga tàu điện ngầm đêm nay không?"
Người mẹ vuốt tóc cô con gái và gượng cười.
"Chúng ta sẽ không có món ngỗng quay đâu con gái yêu ạ."
Bà ta lén nhìn vào xấp quần áo chứa trong chiếc va-li, bên dưới là chỗ cất giấu hộp bánh Dauerbrot và cái bi-đông đựng trà mà bà ta kịp đem theo lúc vội vã rời khỏi nhà.
"Nhưng mẹ tin chắc là ông già Noel sẽ tới. Kia kìa, hãy nhìn những dòng tin nhắn viết trên tường mà xem, chúng sẽ giúp ông ấy tìm được đường đấy."
Đó là một lời dối trá. Những dòng chữ viết nguệch ngoạc trên các bức tường, dù là dưới đường tàu điện ngầm này hay trên những bức tường của các toà nhà trong thành phố, đều là những câu nhắn nhủ mà các gia đình để lại cho một người anh, một người con trai hay một người chồng khi trở về từ chiến trường, để anh ta còn biết đi tìm họ ở đâu.
Tại sao bà ta không nói sự thật? Rằng ông già Noel năm nay sẽ đỏ hơn mọi năm, màu đỏ Bolshevik, màu đỏ máu. Rằng ông ta sẽ không tới trên một cỗ xe trượt tuyết mà là một cỗ xe tăng. Rằng cái gùi của ông ta đựng đầy vũ khí và ông ta sẽ bắn vào bất cứ thứ gì đang động đậy?
Đứa con gái làm tôi chảy nước miếng với câu chuyện về món ngỗng quay của nó. Miệng tôi nhỏ rãi ròng ròng, cơn co thắt dạ dày ập tới, tôi thấy nó đang ở ngay trước mặt mình, con ngỗng quay bốc khói nghi ngút, mùi béo ngậy toả ra thơm nức mũi. Để trả đũa cho cơn hành hạ mà nó khiến tôi phải chịu đựng, tôi sẽ nói toẹt ra sự thật. Tôi có thể làm thế lắm.
Hiện giờ chúng tôi có thể nói chuyện một cách tự do. Chẳng ai còn sợ bị tố giác nữa, cho dù vì quan điểm, vì quốc tịch, vì tôn giáo hay bất cứ lí do gì khác. Lukas có thể đứng trên đường ray và gào to vào loa rằng anh ta là người Do Thái, tôi tin chắc rằng sẽ chẳng có ai phản đối cả. Tôi không dám chắc trăm phần trăm nhưng tôi không còn cảm thấy sự đe doạ ghê gớm như trước kia nữa.
Trái lại tôi gặp khó khăn với một số thói quen mới. Ví dụ như bây giờ người ta không giơ tay lên khi chào nữa. Chấm dứt. Dẹp bỏ. Chẳng ai nói "Heil Hitler!" nữa. Câu đó không còn phù hợp chút nào. Thay vào đó người ta nói: "Bleib übrigi" có nghĩa là: "Cố mà sống!" Nhiều khi tôi vẫn còn phản xạ giơ tay lên cao, nó là thói quen cố hữu. Lukas luôn đoán ra cử động của tôi ngay cả hước khi tôi thực hiện nó, anh ta lập tức túm lấy cổ tay tôi để buộc tôi đứng im.
"Chấm dứt cái kiểu chào như con rối của mày đi được rồi đấy!" Anh ta nói và nhìn tôi một cách giận dữ.
Tôi thấy rằng người dân Berlin chẳng còn tí ý thức tự tôn nào. Họ chế giễu mọi thứ bằng cách vẽ nguệch ngoạc lên các bức tường. Ví dụ những chữ cái đầu tiên, LSR, có nghĩa là Luftschutzraum ("hầm phòng không"), họ đã biến nó thành Lemt schnell russisch, "Hãy học tiếng Nga cấp tốc".
Tôi cảm thấy bất an.
Trước khi chui xuống ga tàu điện ngầm chúng tôi đã ở vài tuần trong cái boong-ke của vườn thú. Đó là một trong những hầm phòng không lớn nhất, một pháo đài bằng bê-tông cốt thép được bảo vệ bởi một đơn vị súng cao xạ trên sân thượng. Nơi ấy là địa điểm trú ẩn rộng thênh thang mà người dân Berlin ùn ùn kéo tới.
Một hôm, tôi muốn đi ra ngoài chơi. Chúng tôi đang ở trong vườn thú cơ mà! Tôi chưa bao giờ được đi vườn thú! Lúc đầu Lukas gạt phăng đi, nhưng bởi tôi nài nỉ miết, cuối cùng chính anh ta cũng trở nên tò mò, thế là chúng tôi chui lên. Một cuộc dạo chơi chớp nhoáng. Không phải vì các trận bom - lúc đó tình hình chiến sự đang im ắng - mà bởi vì các con thú giờ chỉ còn là những xác chết. Các chuồng sắt mở toang, méo mó. Khỉ, gấu, khỉ đột, tất cả đều đã chết, như thể chúng đã tham gia vào những trận chiến ác liệt đang hoành hành khắp nơi. Xác những con khỉ mới được xẻ thịt cách đây không lâu. Lukas và tôi hiểu ra rằng chúng tôi đã từng đi vườn thú mà không hay biết. Trong dạ dày của mình. Chẳng là tối hôm trước một người đàn bà đã chia cho chúng tôi một tảng thịt to. Chúng tôi chén một bữa căng bụng mà chẳng buồn hỏi xem nó từ đâu tới.
Chúng tôi buộc phải rời cái boong-ke của vườn thú, nguyên nhân là do những cái nhà vệ sinh. Không chỉ bởi tình trạng vệ sinh của chúng thật kinh khủng mà còn bởi nhiều ngưòi tới đó để tự tử. Vả lại, đó cũng chính là nơi chứng táo bón của tôi bắt đầu. Không dễ gì giải quyết nhu cầu khi đôi chân của một người chết treo đung đưa trước mắt bạn.
Trước đó nữa thì chúng tôi ở trong boong-ke của ga Anhalter. Công trình này được xây bằng bê-tông cốt thép, gồm ba tầng nổi và hai tầng ngầm. Tường của nó dày bốn mét rưỡi. Lúc mới đầu thì ở đó khá dễ chịu. Có những hàng ghế dài để mọi người có thể ngồi, giống như trong một nhà ăn tập thể, cùng một kho dự trữ cá mòi đóng hộp khá lớn. Nhưng những hộp cá mòi được giải quyết một cách nhanh chóng. Còn những chiếc ghế dài thì bị người ta đem ra làm củi để sưởi ấm. Rồi các ống dẫn nước bị cắt và hậu quả là chúng tôi bị thiếu nước trầm trọng.
Boong-ke của vườn thú và boong-ke của nhà ga được nối với đường tàu điện ngầm bằng hệ thống địa đạo dài năm cây số. Bạn có thể đi bộ dưới đó mà không cần chui lên mặt đất.
Các bạn có biết chứng tôi đã gặp cái gì ở một trong những bậc thềm của nhà ga không? Ngồi đó bất động như một hộp quà Giáng sinh, hay đúng hơn một thứ của nợ trong Giáng sinh?... Mantred. Một Manfred còn thấp bé và còm nhom hơn khi cậu ta ở Napola. Gầy xọp, nhăn nheo. Chân tay xương xẩu như chân nhện. Tóc, lông mày và lông mi phủ đầy bụi, trắng xoá như râu tóc của một ông cụ. Lớp bột vôi vữa bám chặt vào da cậu ta tạo thành những vết nứt nẻ.
Đúng như điều cậu ta lo sợ trước lúc lên đường, tay đội trưởng của cậu ta đã bỏ rơi cả nhóm. Trong khi những đứa khác đứa nào cũng thân ai nấy lo thì Manfred ngồi bệt xuống bậc thềm và không rời khỏi chỗ đó. Trong năm tháng trời như vậy! Cậu ta chưa từng thử về nhà hay tìm cha mẹ mình, không hề. Cậu ta ngồi im phăng phắc, bất động, và cậu ta cứ chờ. Cậu ta sống sót được là nhờ vào những người đàn bà đi ngang qua, họ thường dúi cho cậu ta một ít thức ăn mỗi lẫn nhìn thấy cậu.
Cậu ta không nhận ra tôi. Khi tôi lại gần và vỗ vai cậu ta, cậu ta giơ cánh tay lên để tự vệ, như thể tôi sắp đánh cậu ta vậy. Tôi cá rằng cậu ta tưởng tôi là một người lính Nga. Khi đã nhận ra tôi, cậu ta nhảy cẫng lên ôm chầm lấy tôi và reo lên:
"Konrad! Konrad của tôi! Đúng là cậu đấy chứ?... Tôi được cứu rồi! Tôi được cứu rồi!"
"Tao không biết là mày đã có vợ chưa cưới cơ đấy, Đầu lâu ạ!" Lukas nói với tôi khi nhìn thấy thằng ngốc kia đeo lên cổ tôi.
Kết quả là Manfred dính với chúng tôi như hình với bóng. Một hòn lê50 thực sự. Hễ có ai trong số chúng tôi rời ra xa xa là cậu ta lại run lẩy bẩy, hoảng hốt. Trên một khía cạnh khác, tôi thấy sự hiện diện của Manfred giúp lấy lại đôi chút cân bằng. Lukas ra lệnh cho tôi, còn tôi thì ra lệnh cho Manfred.
Điều làm tôi ấn tượng nhất ở cái thành phố Berlin đổ nát này không phải là những trận bom, những đống đổ nát hay sự bẩn thỉu. Cũng không phải sự cam chịu thất bại mà tôi cho là rất đáng thất vọng.
Mà là những người đàn bà.
Họ mới đông làm sao! Họ có mặt ở khắp nơi! Họ đang cai quản thành phố này. Họ lãnh đạo nó. Tôi không quen với việc bị vây quanh bởi nhiều đàn bà như vậy. Ở Napola, ngoại trừ những đầu bếp mà bạn hiếm khi bắt gặp, thì chỉ toàn là đàn ông. Tôi nhớ mang máng những nữ y tá ở Steinhöring, hay rõ rệt hơn một chút là các nữ tu áo nâu - các con mụ khốn nạn! - hoặc các cô gái điếm ở Poznan. Những người đàn bà cuối cùng mà tôi thường gặp và bởi thế cũng nhớ rõ nhất, chính là các nữ giám thị ở Kalish.
Nhưng những người đàn bà Berlin không phải gái điếm cũng không phải những kẻ khốn nạn.
Vứt béng cái quy tắc 3K đi. Họ đang thay thế những người đàn ông với sự kiêu hãnh, quyết tâm, nghị lực và hiệu quả. Họ không có tóc vàng và không cao lớn nhu người ta vẫn dạy chúng tôi trong giờ sinh vật học ở Napola. Phần lớn trong số họ, trừ một vài trường hợp cá biệt, đều có tóc nâu, bé nhỏ, chắc mập. Họ trở nên co bắp bởi công việc vận chuyển những bao than đá và những chiếc va-li cồng kềnh trong đó chứa tất cả của cải của bản thân trước khi chạy xuống hầm trú ẩn. Và họ rất dũng cảm. Khi mất nước thì chính họ là những người mạo hiểm chạy ra ngoài tới chỗ có máy nước. Họ xếp hàng nhiều giờ liên tục trước cửa hàng chỉ vì vài gam bo thực vật.
Ở họ vẫn còn một thứ trong cái 3K kia. Một số người trong bọn họ không ngơi tay dọn dẹp. Người ta gọi họ là Trümmerfrauen, "những người đàn bà trên đống đổ nát". Giữa hai trận bom, họ xếp thành một hàng dài và dùng những cái xô để thu dọn đống sỏi, đá, gạch lát. Họ quét dọn những đống đổ nát, bụi bặm, rác rưởi. Họ chấn chỉnh lại một thành phố đã không còn tồn tại nữa.
Có hôm một người đàn bà tóm được chúng tôi, Manfred và tôi. Bà ta thấy cần thiết phải tắm rửa cho chúng tôi. Một ý tưởng bất chợt nhưng nghiêm túc.
"Không thể chấp nhận cái kiểu ăn ở bẩn thỉu thế này được!" Bà ta kêu lên, tay chộp lấy cổ chúng tôi như một con sư tử cái cắp lũ sư tử con bằng lớp da ở cổ.
Dùng một miếng giẻ nhúng vào nước nóng đựng trong một cái bình, bà ta lau mặt, lau tay, lau nách. Thậm chí bà ta còn định tụt quần chúng tôi ra để lau mông. Manfred để mặc cho bà ta làm thế nhưng tôi thì không, tôi đạp cho bà ta một cú rồi co giò bỏ chạy.
Một buổi tối có một người đàn bà khác sấn sổ tới chỗ Lukas lúc đó đang ở trong hầm trú ẩn. Không phải để lau người cho anh ta, không, không thể có chuyện ép buộc một thanh niên cao lớn như vậy. Mà bởi vì bà ta nghe thấy anh ta nói những câu tục tĩu. Bà ta thẳng thừng cho anh ta ăn một cái bợp tai.
"Ở đây có nhiều trẻ con," bà ta nói bằng giọng nghiêm khắc. "Hãy ăn nói có chừng có mực, con trai ạ!"
Lukas đã không cãi lại.
"Cháu xin lỗi." Anh ta trả lời, mắt cụp xuống.
Có hôm tôi còn thấy một nguòi đàn bà đang xẻ thịt một con ngựa chết vì đạn pháo và ngâm các miếng thịt vào những cái bình đựng dấm chua. Bà ta cho tôi một bình. Chúng tôi nướng thịt lên và ăn ba bữa thịt nướng liên tục. Thịt ngựa mềm và dễ tiêu hoá hơn thịt khỉ. Nhưng mà không thơm ngon bằng.
Chúng tôi đã chán ngấy bến tàu điện ngầm, những hầm trú ẩn, những địa đạo. Chán ngấy tất cả những con người mà chúng tôi không quen biết. Chán ngấy với những quy định mà họ bắt chúng tôi tuân theo, về việc này thì tôi đồng ý với Lukas: sau Kalish và Napola, thật khó chịu khi phải sống trong một cộng đồng. Chúng tôi muốn tự do, muốn chỉ có chúng tôi với nhau và đặt ra những quy tắc của riêng chúng tôi, có nghĩa là chẳng có quy tắc nào cả.
Bởi thế chúng tôi quyết định chui ra khỏi hầm và tìm tới một căn nhà bỏ hoang. Gì chứ nhà thì trên này đầy, cả thành phố Berlin đều vắng vẻ. Bất chấp việc nếu ở ngoài này thì chúng tôi sẽ phải đương đầu với mối nguy hiểm kép. Một bên là bom và đạn pháo của quân thù, một bên là những đội quân trấn áp của lực lượng SS hay Cảnh binh dã chiến. Họ bắt giữ những người đi riêng lẻ và ép họ gia nhập các đội quân tạm bợ mới thành lập. Khác với những đoàn viên Đoàn thanh niên Hitler mà chúng tôi gặp trên đường lúc chạy trốn khỏi Napola. Họ là một lũ tàn bạo. Họ treo cổ những kẻ cứng đầu lên các cành cây dọc hai bên đường hay lên những cột đèn. Rồi họ đeo vào cổ nạn nhân một tấm biển với hàng chữ "Tôi là một thằng hèn".