Một gương mặt cúi sát xuống bên tôi, một người đàn bà với mái tóc ngắn màu hạt dẻ và đôi mắt màu xanh xám. Một người không trẻ cũng không già. Cô ta mặc đồng phục trắng gồm váy, áo sơ-mi và khoác một chiếc áo kiểu gi-lê nâu độn bông dày không tay ở ngoài cùng. Đầu cô ta đội một chiếc khăn cũng màu trắng. Cô ta làm tôi nhớ tới các nữ tu áo nâu, hẳn là vì bộ đồng phục trắng-nâu này. Chỉ khác một chút là trên cái váy xấu xí nhìn như túi đựng khoai tây của các nữ tu áo nâu chỉ có viền cổ và viền tay áo có màu trắng. Còn ở đây thì ngược lại, trắng là màu chủ đạo trên đồng phục của cô ta. Và cô ta rõ ràng là đỡ xấu hơn một nữ tu áo nâu. Nụ cười của cô ta không giả tạo cũng không cau có.
"Ê! Xin chào cậu bé! Rất vui vì được đón tiếp cậu."
Cô ta nói bằng tiếng Anh, tôi hiểu điều cô ta vừa nói. Chúng tôi có các tiết tiếng Anh ở Napola. Chỉ vài giờ hồi đầu thôi, sau đó thì ngừng. Tuy nhiên cô ta càng nói thì tôi càng ù ù cạc cạc và chẳng hiểu gì nữa. Cô ta nhận ra điều đó và tiếp tục chuyển sang nói bằng tiếng Đức một cách hoàn toàn tự nhiên, chỉ như bấm một cái nút vậy. Mặc dù có giọng nằng nặng nhưng tiếng Đức của cô ta rất trôi chảy.
"Cháu có đói không? Cháu muốn ăn chút gì đó không?"
Tôi có đói không? Câu hỏi này thì tôi có thể hiểu bằng bất cứ ngôn ngữ nào. Tất nhiên là tôi đói. Chỉ cần nghe những tiếng sôi òng ọc trong bụng tôi là biết - một dạng ngôn ngữ quốc tế đấy. Tôi ngồi dậy và cô ta bón súp cho tôi, chầm chậm, từng thìa một. Cô ta bảo hiện tại tôi chưa nên ăn thức ăn cứng, tôi sẽ không tiêu hoá được chúng bởi tôi đã bị bỏ đói trong một thời gian dài. Món súp rất ngon, nóng nhưng không tới mức bỏng. Một món súp được nấu bằng các loại rau củ thực sự. Tôi có thể liệt kê chúng một cách chính xác: cà rốt, củ cải, tỏi tây, bí ngòi, đậu que. Có lẽ là các loại rau củ của Mĩ. Những rau củ ngon lành như vậy không thể nào mọc được trên mảnh đất đầy cát bụi sau các trận bom như đất của chúng tôi. Chẳng lẽ điều đó có nghĩa là tôi đang ở Châu Mỹ? Tôi đã tới được tận đó rồi sao?
Được ăn làm đầu óc tôi trở nên minh mẫn, khai lại các kí ức. Tôi nhớ tới những chuyến đi bộ dài, tới ngôi nhà im ắng cùng những chủ nhân đã chết. Tới cái giường sạch sẽ tinh tươm mà tôi đã ngủ vùi trong đó. Tôi đã ngủ rất lâu, rất lâu, cho tới khi chợt nghe thấy một tiếng động trong ngôi nhà tĩnh mịch. Những tiếng chân bước, những giọng nói. Người ta bế thốc tôi ra khỏi giường và đặt lên một cái băng-ca. Những bóng người lần lượt cúi xuống nhìn tôi. Họ mặc quân phục, đó là những người lính. Không phải quân Nga cũng không phải lính Đức. Tôi chịu không nhận ra những phù hiệu được thêu trên tay áo hay trên cổ áo của họ. Sau đó là một chuyến đi bằng tàu hoả. Có nhiều đứa trẻ cùng đi với tôi. Rất nhiều.
Vụ bắt cóc trong ngôi nhà. Những người lính. Một chuyên tàu chật rách trẻ con. Và bây giờ là người đàn bà này, trong bộ đồng phục trắng-nâu... Tôi đã bị bắt cóc bởi những nữ tu áo nâu phiên bản Mỹ. Những... Bà sơ áo nâu?
Phải chăng đó là bí danh của họ? Có rất nhiều người như vậy trong căn phòng nơi tôi đang ngồi, tất cả đều ăn mặc cùng một kiểu, họ bận rộn chăm sóc những đứa trẻ như tôi đang nằm la liệt khắp nơi. Nhiều đứa trong bọn chúng nhìn còn thảm hại hơn tôi nữa.
"Cậu bé tội nghiệp! Khi chúng tôi tìm thấy cháu thì cháu gần như đã tắt thở. Chỉ chậm chút nữa thôi."
Bà sơ dừng lại một chút để lau miệng cho tôi - tôi ăn lấy ăn để và súp chảy cả xuống cằm. Rồi cô ta tiếp tục:
"Họ của cháu là Glaser, đúng vậy không? Còn tên của cháu là gì?"
Glaser? Cô ta mò đâu ra cái nên này vậy?... À! Tôi hiểu rồi! Đó chắc hẳn là tên của gia đình trong căn nhà ấy. Bà sơ nghĩ rằng những người chết là cha mẹ cùng em trai và em gái của tôi. Tôi lắc đầu một cách dứt khoát, ý nói là cô ta đã nhầm. Tôi cảm thấy dễ chịu - vẫn còn hơi yếu và lờ đờ nhưng tôi không thấy đau ở đâu cả. Hiện giờ tôi không biết điều gì đang xảy ra, giọng nói của tôi bị nghẽn lại. Dường như nó là vô số mẩu nhỏ nằm tận dưới đáy của cuống họng mà lúc này tôi không tài nào ghép được chúng lại với nhau.
Bà sơ không lấy làm bất bình về sự im lặng của tôi. Ngược lại cô ta còn tươi cười hơn. Cô ta không hề có vẻ độc ác như các nữ tu áo nâu. Một nữ tu áo nâu từng cho tôi hai cái bạt tai vì tội không trả lời các câu hỏi của mụ ta. Người đàn bà bón cho tôi thêm nhiều thìa súp nữa, đợi tôi nuốt xong rồi mới tiếp tục.
"Tên cô là Abigael, nhưng người ta gọi cô là Abi, như thế đơn giản hơn. Cháu cũng có một biệt danh chứ hả?"
Một người không độc ác, nhưng khôn khéo. Cô ta đang thử gài bẫy tôi. Nếu tôi nói biệt danh của mình ở đây thì trước sau gì tôi cũng phải phun ra tên họ thật.
Tôi im lặng và tiếp tục ăn.
"Cháu không có gì phải sợ khi nói rằng ông bà Glaser là cha mẹ của cháu." bà sơ nói tiếp. "Sẽ không ai động đến cháu đâu. Ngay cả khi cha của cháu là một sĩ quan Quốc Xã, cháu chẳng có gì phải sợ hết. Trẻ con không phải trả giá cho sai lầm của cha mẹ chúng."
Cô ta muốn nói tới chiến dịch "tẩy bỏ các giá trị Quốc Xã". Tôi đã nghe nói tới nó khi đi bộ trên đường, khi đi nhờ xe hay nhảy lên một chuyến "tàu tốc-hành-chuột-đất". Các đội quân chiếm đóng bắt giữ các đảng viên Quốc Xã trên khắp đất nước. Họ rà soát quá trình hoạt động chính trị của tất cả những người Đức trên mười tám tuổi.
Abi đã hiểu nhầm về sự im lặng của tôi. Tôi đâu có sợ phải nói ra cha mẹ tôi là những người Quốc Xã. (Lại còn không phải Quốc Xã bình thường!) Nhưng dù sao thì cũng không phải là nhà Glaser.
"Cháu không phải Glaser. Cháu là Konrad von Kebnersol. Hai biệt danh: Đầu lâu và Max."
Nói được rồi, giọng của tôi đã hết bị nghẹt. Những từ ngữ cứ thế bật ra chẳng phải do tôi quyết định. Hơn nữa lại còn bằng tiếng Anh. Một thứ tiếng Anh bập bõm. Vậy là giờ tôi nói giống như những đứa trẻ Ba Lan từng ở Kalish. Tôi nghĩ rằng sau khi bị các bà sơ áo nâu bắt cóc, hẳn là hiện nay tôi đang ở trong một trường Kalish của người Mỹ.
Bất ngờ vì điều tôi vừa nói, Abi lùi lại cùng bát súp vẫn đang ở trên tay. Tôi với lấy nó từ tay cô ta. Tôi hoàn toàn có thể tự ăn. Cô ta hơi cau mày nhìn tôi, có vẻ như cô ta đang tự hỏi liệu tôi có được bình thường không.
"Konrad von Kebnersol? Đó là tên của cháu à?"
Tôi thừa nhận.
"Và người ta đặt biệt danh cho cháu là... Là gì ấy nhỉ?"
Tôi nhắc lại chúng.
"Lạ lùng thật! Nhất là cái tên đầu tiên!... Tại sao họ lại đặt cho cháu cái tên đó?"
Tôi không trả lời. Cần phải giải thích với cô ta rằng chính Lukas đã bịa ra cái tên đó. Tôi cần kể chuyện về Lukas. Mà thôi. Lukas chết rồi. Chết rồi. Chôn cất ở Berlin trong một khu vườn, giống như một con chó.
"Vậy là ông bà Glaser không phải là cha mẹ cháu? Nhưng trong trường hợp này, cháu làm gì trong nhà của họ?"
Để chứng minh cho Abi thấy rằng tôi hoàn toàn tỉnh táo, thậm chí còn rất thông minh, tôi cần phải bỏ cái mớ tiếng Anh bồi này đi và chuyển sang tiếng Đức.
"Nếu ông bà Glaser là cha mẹ cháu, họ hẳn đã đầu độc cháu giống như đứa bé trai và bé gái trong phòng. Cháu vào nhà họ một cách ngẫu nhiên không với mục đích nào khác ngoài ngủ một giấc."
"Được rồi, Max, được rồi."
Cô ta gọi tôi bằng cái tên Max chứ không phải Konrad. Có thể là vì cái tên đó nghe Mỹ hơn là Konrad?
"Cô hỏi kĩ là bởi vì bọn cô biết hiện nay cậu con trai cả của ông bà Glaser đang ở đâu. Cậu ta vẫn còn sống, và trong trường hợp cậu ta là anh ruột của cháu thì bọn cô có thể giúp cho hai đứa gặp lại nhau..."
Cô ta ngừng lại trong giây lát, nghĩ rằng tôi sẽ có phản ứng, rằng tôi sẽ tự để lộ tung tích, sẽ nhảy cẫng lên vì vui mừng khi nghe nói tới người anh trai này. Đừng hòng. Anh trai của tôi đã chết rồi.
"Thôi, chúng ta không nói tới nhà Glaser nữa!" Cô ta quyết định.
Cũng đến lúc rồi đấy.
Tôi đã ăn hết súp và còn liếm sạch miệng bát với vẻ thèm thuồng. Cô ta lấy lại cái bát rồi đặt nó lên cái bàn nhỏ ở cạnh đầu giường. Tôi vẫn còn đói và rất muốn cô ta cho tôi ăn cái gì đó khác.
"Cháu đang ở trong tu viện Kloster Indersdorf. Cô và các cộng sự (cô ta chỉ các bà sơ khác trong phòng) là những y tá và bọn cô làm việc cho tổ chức 'UNRRA', Cơ quan cứu trợ nhân đạo Liên Hiệp Quốc. Nói ngắn gọn là ở đây bọn cô chăm sóc tất cả những đứa trẻ mồ côi hay thất lạc gia đình. Bọn cô giúp chúng tìm lại gia đình của mình. Cháu hiểu chứ?"
Vâng, tôi hiểu. Nhưng cô ta và các đồng sự của mình sẽ chẳng thể làm gì cho tôi cả. Tôi quả thực không có gia đình. Tôi chưa bao giờ có gia đình và cô ta không thể hiểu được điều đó. Tôi cần phải giải thích cho cô ta nhưng tôi quá mệt mỏi để làm việc đó. Tôi nhắm mắt không đáp lại. Đó chính là câu trả lời: "Hãy để cho tôi được yên!"
Cô ta hiểu ra thông điệp đó.
"Bây giờ cô sẽ để cháu nghỉ ngơi," Abi nói, giọng đượm vẻ thất vọng. "Cô sẽ quay lại vói cháu sau."
Cô ta đứng dậy và rời đi, tôi hé mắt kiểm tra và thấy cô ta đã ra khỏi căn phòng.
Trái với những đứa trẻ ở xung quanh, tôi không muốn ngủ. Tôi nghĩ rằng tôi ngủ thế là đủ ở trong nhà Glaser, trên tàu, ở đây.
Nơi này quá giống một phòng ngủ tập thể. Tôi đã đánh mất thói quen với các phòng ngủ tập thể, tôi không thể chịu được chúng nữa.
Tôi cố tóm tắt lại những câu nói của Abi. Tôi đang ở tu viện Kloster Indersdorf. Vậy là ở nước Đức, chính xác là vùng Bavière, tức là vùng do người Mĩ chiếm đóng. Trong cái tu viện này họ chăm sóc những đứa trẻ. Kalish cũng từng là một tu viện được cải tạo lại. Ở Kalish người ta cũng chăm sóc những đứa trẻ. "Chăm sóc những đứa trẻ", đó là một mật ngữ, nó có nghĩa là người ta biến chúng thành người Đức, sau đó tìm cho chúng một gia đình để nhận chúng làm con nuôi. Abi đã nói với tôi bằng mật ngữ để không làm tôi lo lắng. Cô ta đã quên nói rõ rằng họ sẽ biến tôi thành người Mỹ. Vả lại... Max. Xong rồi! Người ta đã đặt cho tôi một cái tên Mỹ.
Abi có vẻ thân thiện, nhưng tôi thắc mắc rốt cuộc thì liệu đó có phải là một con mụ đểu cáng như các nữ tu áo nâu hay không. Tôi tự hỏi chẳng biết quá trình trở thành người Mỹ có khó khăn như quá trình trở thành người Đức ở Kalish không nhỉ.
Tôi chẳng muốn trở thành người Mỹ chút nào.
Tôi phải đi khỏi đây thôi.
Tôi liếc mắt nhìn ra phía cửa. Không thấy có giám thị nào. (Tôi không biết từ "giám thị" nói thế nào trong tiếng Anh.) Tôi liền ngồi dậy.
Trước khi bỏ trốn, tôi quyết định đi một vòng xem xét bởi vì tôi nhận thấy người ta có thể đi lại tự do khắp nơi. Thế thì việc gì phải vội. Mới cả sau đó biết đi đâu cơ chứ? Ít ra ở đây còn có cái ăn. Tôi nên tranh thủ đánh chén thoả thuê trước khi lên đường.
Tôi bước vào một gian phòng, đó là một phòng ngủ thực sự. Cái phòng mà tôi vừa rời khỏi là bệnh xá. Trong phòng có những đứa trẻ khác, bọn chúng không ốm đau gì, mỗi tội gầy trơ xương. Chẳng khác gì tôi. Một số đứa tụ tập trên giường và chơi bài hay tán gẫu. Những đứa khác tách riêng ra, đứa thì ngồi trên ghế, đứa thì nằm dài trên giường, giương mắt nhìn lên trần nhà, đứa thì đứng đực ra, chằm chằm ngó xuống sàn. Bọn chúng ăn mặc giống nhau, quần áo màu xám với tạp dề trắng. Hẳn là họ phát quần áo cho chúng ở đây. Còn tôi thì vẫn mặc nguyên quần áo của mình, có nghĩa là tôi mới tới đây chưa lâu lắm. Các bà sơ chưa kịp thay quần áo cho tôi.
Vẫn không thấy bóng nguời giám thị nào. Rõ ràng là bọn trẻ ở đây không bị buộc phải giữ im lặng. Trái lại chúng ồn ào kinh khủng. Khi đi qua căn phòng và lướt qua chỗ bọn chúng, tôi nghe thấy nhiều ngôn ngữ khác nhau, trong đó tôi nhận ra tiếng Ba Lan, tiếng Đức, tiếng Nga, hình như cả tiếng Pháp. Và còn nhiều nữa.
Tôi tiếp tục đi ngó nghiêng. Một nhà ăn tập thể rộng rãi: những hàng ghế ngay ngắn, những chiếc bàn. Tôi tiện tay thó một thanh sô-cô-la cùng một hộp sữa rồi ngồi thụp xuống giấu mình trong một góc và ăn ngấu nghiến.
Thơm quá, ngon quá. Tôi sẽ quay lại đây trước khi bỏ trốn.
Tôi leo lên tầng trên. Trên bậc nghỉ cầu thang có một cửa sổ, qua đó tôi nhìn thấy sân của tu viện. Hai chiếc xe tải hạng nặng đang đỗ trong sân. Khi những cánh cửa xe mở ra, một lũ trẻ con bước xuống.
"Đất nước sẽ tràn ngập những đứa trẻ mồ côi", Lukas đã nói với tôi. Anh ấy có lí. Anh ấy cũng bảo phải tìm tới chỗ những người Mỹ. Điều này thì tôi không dám chắc là anh ấy có lí.
Tôi dừng lại ở một căn phòng, đứng sững như trời trồng trên bậc cửa. Một đám đông trẻ con đang đứng xếp hàng. Chúng lần lượt đi qua trước mặt một người lính để anh ta chụp ảnh. Người lính đó là một người...
DA ĐEN.
Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người da đen bằng xương bằng thịt nào. Có chăng là trong những bộ phim mà người ta chiếu cho chúng tôi xem ở Napola. Đó là những người da đen chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Pháp. Những bộ quân phục lấm lem và rộng thùng thình làm họ trông như đang cải trang. Chúng tôi xem họ tập bắn và đó là một thảm hoạ thực sự. Người thuyết minh nói rằng những người da đen không biết sử dụng vũ khí, dù là loại nào đi nữa, và mặc kệ điều đó, những người Pháp đẩy họ ra tiền tuyến để đỡ đạn cho mình. Anh ta giải thích rằng một trong những lí do mà chúng tôi đã nhanh chóng đánh bại người Pháp chính là chiến thuật Blitzkrieg (tấn công chớp nhoáng) nổi tiếng.
Có điều chiến tranh chẳng hề chớp nhoáng chút nào. Nó đã kéo dài sáu năm chứ không phải chỉ sáu tháng.
Có điều bây giờ, người Pháp là những người chiến thắng. Vậy nên cả những người da đen cũng thế.
Tôi đứng ngắm người lính da đen hồi lâu đầy thán phục. Anh ta chẳng có vẻ gì là cải trang cả. Bộ quân phục rất hợp với anh ta. Anh ta cao lớn, vạm vỡ, dáng đi nhanh nhẹn, uyển chuyển. Khi anh ta cười các bạn có thể nhìn thấy những chiếc răng to khoẻ, trắng bóng, đều tăm tắp, và nụ cười đó toát ra cả từ trong ánh mắt của anh ta. Anh ta làm tôi nhớ tới Jesse Owens, vận động viên da đen đã giành bốn huy chương vàng Thế vận hội 1936. Tôi tự hỏi liệu anh ta có chạy nhanh bằng vận động viên kia không. Nếu có thì tốt hơn hết là tôi nên chuồn đi trước khi bị anh ta phát hiện. Tôi sẽ không thắng nổi anh ta trong một cuộc chạy đua.
Khi tôi dứt được mắt ra khỏi anh ta, tôi nhận ra còn có ba nữ y tá đang làm nhiệm vụ ở trong phòng. Người đầu tiên giúp bọn trẻ ngồi ngay ngắn trước ống kính máy ảnh theo hiệu lệnh của người lính, cằm ngửng cao lên, mắt không được nhìn xuống. Không được cử động khi đèn flash loé sáng. Cô ta cẩn thận chỉnh lại tấm bảng ghi họ tên mà chúng đeo ở cổ. Người thứ hai đang tra cứu một danh sách, cuối cùng là người thứ ba, cô ta ghi chép vào một quyển sổ.
Ba nữ y tá, họ cũng thế, đen như người thợ ảnh!
Có điều gì đó khả nghi trong căn phòng này. Mặc cho nỗi sợ hãi đang choán hết tâm trí, tôi vẫn cố gắng suy xét. Nhanh. Nhanh lên! Bởi vì sau đó tôi sẽ phải chạy thục mạng với Jesse Owens bám sát gót.
Sau khi suy nghĩ tôi rút ra kết luận như sau: Abi đã nói dối tôi. Cô ta cố tình không nói với tôi rằng trước khi "chăm sóc" những đứa trẻ, họ sẽ bắt chúng trải qua một cuộc xét tuyển. Y như ở Kalish. Và nhìn những người đang tiến hành làm công việc lựa chọn này thì thấy, để vượt qua nó, phải là người da đen. Hay ít nhất cũng phải có làn da sẫm màu và đôi mắt đen.
XONG ĐỜI TÔI RỒI.
"Cháu đã đứng dậy được rồi à?"
Abi bỗng xuất hiện từ phía sau lưng. Tôi giật bắn cả mình.
"Thế nào rồi, cháu còn chóng mặt không?"
"Tại sao các người lại chụp ảnh bọn trẻ con?" Tôi không trả lời câu hỏi của cô ta mà hỏi lại. "Các người lựa chọn chúng đúng không? Các người sẽ làm gì với những đứa không được chọn? Các người sẽ khử chúng? Sẽ gửi chúng tới trại tập trung? Các người sẽ giết tôi chứ?"
Cô ta nhìn tôi khiếp đảm. Một cái nhìn như muốn nói: "Nó điên thật rồi, cái đứa bé tội nghiệp này!"
Nhưng không, tôi không điên. Trái lại, tôi thấy mình minh mẫn hơn bao giờ hết. Abi cần phải hiểu rằng tôi không phải là một đứa trẻ bình thường. Đừng có hòng mà lừa tôi.
"Một-cuộc-xét-tuyển?" Cô ta nhắc lại, chia chữ đó ra thành nhiều âm tiết, vẻ mặt nga ngác. "Cháu định ám chỉ điều gì vậy?... Max, nghe cô nói đây! Ở đây chúng tôi không lựa chọn những đứa trẻ! Ở đây chúng tôi không giết ai cả! Và không còn trại tập trung nào nữa!"
Cô ta dừng lại một lát chờ những lời nói của mình đi vào não bộ của tôi. Nhưng con đường sao mà lắm chông gai. Tôi thấy vẫn không đủ sức thuyết phục. Còn lâu nhé.
"Nếu chúng tôi chụp ảnh bọn trẻ thì là để giúp chúng tìm lại cha mẹ của mình," cô ta nói. "Cháu tin cô không?"
Tôi không trả lời, tôi thấy bối rối. Hoặc là Abi chân thành, hoặc cô ta là một diễn viên kiệt xuất. Tôi nhìn bao quát quanh căn phòng một cách kĩ lưỡng lần nữa. Không có các dụng cụ đo đạc. Không có giám thị. Không có những người lính đánh đập bọn trẻ. Chỉ có người da đen cao lớn hơi tí lại phá ra cười. Còn những đứa trẻ thì chẳng có vẻ gì là sợ sệt cả. Người duy nhất đang run sợ chính là tôi, mà điều đó không giống tôi chút nào. Tôi cần phải bình tâm lại.
"Vâng, cháu tin cô."
Tôi lí nhí, nhưng Abi đã nghe thấy tôi nói.
"Tốt, rất tuyệt. Này, đằng nào cháu cũng đang ở đây, chúng tôi có thể chụp ảnh luôn cho cháu nếu cháu muốn, tại sao không nhỉ? Đứng vào xếp hàng đi, sẽ nhanh thôi."
"Không."
"Không ư?"
"KHÔNG."
Abi ngước mắt lên trời và buông một tiếng thở dài chán chường. Tôi làm cô ta phật ý. Mặc kệ. Cô ta cũng làm tôi phát ngấy với những ý tưởng của cô ta. Lúc nãy thì là nhà Glaser, và bây giờ là câu chuyện về tấm ảnh.
"Cháu không muốn được chụp ảnh à? Tại sao vậy? Cháu không muốn gặp lại cha mẹ sao?
"Cha mẹ cháu đã chết. Cả hai."
"Cháu chắc chắn về điều đó chứ?"
"Vâng. Mẹ cháu bị giết bởi một gã Ivan và cha cháu đã tự sát."
"Nhưng có thể cháu còn có một người anh em trai hay một..."
"Anh của cháu cũng đã chết rồi. Bị giết bởi một gã Ivan."
"Vậy ở đâu đó hẳn phải có một người bác trai, bác gái, một người họ hàng nào đó muốn có tin tức của cháu?"
Tôi lắc đầu phủ nhận.
"Thôi, nghe này, bức ảnh dù sao cũng sẽ có ích cho chúng tôi, biết đâu đấy. Chờ tới lượt cháu và chụp đi! Loáng cái là xong thôi!"
Cô ta làm bộ định bỏ đi, tôi buột miệng:
"Cháu có ảnh của cha mẹ cháu."
Cô ta quay lại.
"A! Tốt lắm! Cho cô xem nào!"
Tôi thò tay vào túi. Trong đó là tấm ảnh người đàn bà tóc vàng chụp cùng với Quốc trưởng. Tấm ảnh mà Lukas giữ lại, tấm ảnh đã giết anh ấy. Tôi đã lấy lại nó. Tôi không rời nó ra. Bởi vì đó là kỉ vật duy nhất về Lukas mà tôi có. Bởi vì tôi tin rằng anh ấy đã định đưa nó cho người Mỹ xem. Nhưng tôi thấy ngần ngại khi đưa nó cho Abi. Tôi cảm thấy rằng cô ta sẽ không thích nó.
"Sao, cháu còn chờ gì nữa? Cho cô xem đi!" Cô ta quỳ xuống cạnh tôi và giục.
Thôi được, một khi cô ta muốn. Tôi lấy tấm ảnh ra khỏi túi.
Abi cầm lấy nó, vừa nhìn thấy tấm ảnh cô ta lập tức giật lùi, mạnh đến nỗi cô ta bị mất thăng bằng. Tôi túm lấy tay cô ta giúp cô ta khỏi ngã, nhưng cô ta vội rụt phắt tay lại, như thể cô ta không chịu nổi sự đụng chạm đó.
Tôi biết ngay là cô ta sẽ không thích tấm ảnh này. Nhẽ ra tôi không bao giờ được cho cô ta xem nó. Nhẽ ra tôi phải đốt nó đi. Tấm ảnh đáng nguyền rủa này sẽ giết tôi như nó đã giết Lukas.
Nhưng tôi sẽ tự vệ. Abi chỉ là một người đàn bà. Cô ta không có súng tiểu liên như gã Ivan đã giết Lukas. Vả lại, chiến tranh đã kết thúc, không phải thế sao?
"Cô đã nói với cháu lúc nãy là những đứa trẻ không phải trả giá cho lỗi lầm của cha mẹ chúng."
Câu nói của tôi lập tức có hiệu lực. Abi bình tĩnh lại. Mắt cô ta không còn loé lên sự giận dữ như hồi nãy nữa, cô ta gượng cười. Nụ cười không đạt lắm nhưng thế là khá rồi.
"Lại đây với cô!"
Cô ta dắt tôi vào căn phòng kế bên, khép cánh cửa lại sau lưng tôi, ngồi vào cái bàn nhỏ đầy ắp các tập hồ sơ và bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện với mình. Cô ta đặt tấm ảnh lên bàn, nhìn nó lần nữa - lần này bình tĩnh hơn và tránh nhìn lâu vào Quốc trưởng - rồi hỏi tôi:
"Tại sao cháu lại nói rằng đó là cha mẹ cháu?"
"Bởi vì đó là sự thật."
Câu trả lời của tôi không có vẻ gì là làm cho cô ta hài lòng, nên tôi nói thêm:
"Bà ấy (tôi chỉ ngón tay vào người phụ nữ tóc vàng) đã ngủ với một sĩ quan SS để sinh ra cháu (tôi chỉ vào đứa bé) rồi đem làm quà cho ông ta (lần này tôi chỉ vào Quốc trưởng)."
Abi nhìn tôi chằm chằm. Rồi cô ta đảo mắt và gõ tay xuống bàn với vẻ căng thẳng. Lát sau, cô ta mở miệng định nói một câu nhưng rồi lại đổi ý không nói gì cả.
"Max," cuối cùng cô ta lên tiếng, cố tỏ ra bình tĩnh. "Không ai tặng quà bằng trẻ con. Ý cháu muốn nói gì với cô? Tấm ảnh này là thế nào? Chắc là mẹ cháu từng có dịp gặp Hitler? Sau đó bà ấy làm cháu tin rằng ông ta là bố cháu? Chắc chắn đó là một cách nói..."
Tôi vung tay cắt ngang lời cô ta.
Đến lượt tôi ngước mắt nhìn trời và thở dài.
Thôi được. Để Abi hiểu hết những gì tôi muốn nói, tôi phải kể cho cô ta câu chuyện của tôi. Toàn bộ câu chuyện. Sẽ khá dài đấy. Tôi không biết nên bắt đầu từ đâu...
Có lẽ là từ điểm khởi đầu? Tôi cầm tấm ảnh lên, lật nó lại và chỉ vào chữ: Steinhöring.
"Đó là nơi cháu chào đời, một nhà trẻ ở gần Munich."
Thế là Abi đột nhiên cắt ngang lời tôi khi tôi vẫn còn chưa bắt đầu câu chuyện.
"Cháu nói là Steinhöring?"
"Vâng."
"Chờ cô một phút!"
Cô ta lục lọi đống hồ sơ chất trên bàn, rút ra một tập, đeo kính vào rồi mở ra và đọc lướt qua nội dung bên trong.
Cặp kính làm cô ta xấu hẳn đi với đôi mắt to như mắt ruồi.
"Những người lính của chúng tôi đã ở Steinhöring hồi tháng Tư vừa qua," cô ta nói nhưng không hẳn là nói với tôi. (Có vẻ như là cô ta đang nói to lên các suy nghĩ của mình trong khi vẫn tiếp tục đọc.) "Họ đã tìm thấy ở đó ba trăm đứa bé. Ba trăm! Bị bỏ rơi trong những toà nhà bị trúng bom. Bọn trẻ ở trong tình trạng thật thảm thương. Những người lính không tìm thấy bất cứ giấy tờ nào, tuyệt nhiên không có gì để xác định danh tính của chúng và..."
Tôi giật tờ giấy ra khỏi tay cô ta. Cô ta phải dừng cái việc lải nhải lại và để cho tôi nói.
"Cháu biết những đứa bé đó là ai. Cháu biết chúng được tạo ra thế nào. Cháu biết ai đã tạo ra chúng, ai đã yêu cầu người ta tạo ra chúng, ai làm công việc sàng lọc chúng để chỉ giữ lại những đứa phù hợp nhất. Cháu biết địa điểm mà ở đó những người lính của cô có thể tìm ra thêm nhiều đứa khác. Cháu biết tất. Cháu là đứa đầu tiên trong số những đứa trẻ đó."
Abi không tìm cách lấy lại tờ giấy bị tôi giật khỏi tay. Cô ta tháo cặp kính ra. Cô ta không còn đôi mắt ruồi to bự nữa nhưng sự căng thẳng hiện rõ trên gương mặt. Nhận thấy rằng lần này cô ta thực sự sẵn sàng nghe tôi kể, tôi hít một hơi dài.
Và tôi bắt đầu kể.
Cháu sinh ngày 20 tháng Tư năm 1936. Ngày sinh của Quốc trưởng...